CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC 1. Nghiên cứu ngoài nước Ngay từ xa xưa, con người đã có những hiểu biết nhất định về ý nghĩa và vai trò của trải nghiệm với việc học tập của mỗi cá nhân. Ở phương Đông, hơn 2000 năm trước, Khổng Tử (551 - 479 TCN) đã nói: "Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên. Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ.
Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu". Tư tưởng này thể hiện tinh thần chú trọng học tập từ trải nghiệm và việc làm. Ở phương Tây, Aristotle (384 - 332TCN) cho rằng: "Những điều chúng ta phải học trước rồi mới làm, chúng ta học thông qua làm việc đó". Nhà giáo dục người Pháp Jean - Jacques Rousseaus (1712 - 1778) cho rằng: phải hướng học sinh tích cực tự giành lấy kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo, đặc biệt coi trọng vốn kiến thức, kinh nghiệm của người học trong quá trình học tập [6, tr.
Vào thế kỷ XX, nhà triết học Hoa Kỳ John Dewey (1859 - 1952), đã đưa ra vấn đề về học tập và trải nghiệm, theo ông hai yếu tố tương tác và tình huống ảnh hưởng tới quá trình HTTN của từng cá nhân. Năm 1946, Zadek Kurt Lewin (1890 - 1947), người sáng lập của tâm lý học xã hội Mỹ, được biết đến nghiên cứu trong lĩnh vực hành vi tổ chức, động lực nhóm và sự phát triển phương pháp luận của nghiên cứu hành động. Mối quan tâm chính của Lewin là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Qua nghiên cứu, Lewin cho ta thấy việc học tập đạt hiệu quả tối đa khi có một sự xung đột giữa kinh nghiệm cá nhân với việc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập.
Theo ông, xung đột này có vai trò rất quan trọng, làm thay đổi và giúp con người tiến bộ hơn. Công trình nghiên cứu có liên quan -6- đến học tập dựa vào trải nghiệm của Lewin là “T-nhóm và phương pháp phòng thí nghiệm”. Lewin đã khẳng định kinh nghiệm chủ quan của cá nhân là một thành phần quan trọng của học tập dựa vào trải nghiệm [40]. Năm 1960, Jean Piaget (1896 - 1980), nhà tâm lý học phát triển người Thụy Sỹ, một trong những người theo dòng phái lý luận nền tảng của giáo dục hiện đại, đã góp phần chỉ rõ bản chất và nguồn gốc của tri thức và trí tuệ.
Ông đã nghiên cứu bản chất và quá trình phát triển của trí thông minh. Ông thấy rằng quá trình phát triển của trí thông minh có liên quan đến tuổi của mỗi người, cũng như sự khác biệt trong cách nghĩ của mỗi trẻ em về những điều trẻ nhận thức. Từ những hiểu biết này, Piaget đã thực hiện một nghiên cứu về kinh nghiệm và kiến thức của con người. Ông đã dành nhiều thời gian để khám phá những ý tưởng này.
Lý thuyết của Piaget cho rằng: “Trí thông minh được định hình bởi kinh nghiệm và trí thông minh đó không phải là một đặc tính nội bộ bẩm sinh mà là một sản phẩm của sự tương tác giữa con người và môi trường sống của mình” [9]. Năm 1970, Revans mới bắt đầu đưa vào giảng dạy thuật ngữ action learning (AL), được thể hiện trong bộ sách “Developing Effective Managers”. Năm 1984, trên cơ sở những nghiên cứu của Dewey, Lewin, Piaget, Lev Vygotsky và các nhà nghiên cứu khác về kinh nghiệm và học tập dựa vào kinh nghiệm, David Kolb, nhà lý luận giáo dục Hoa Kỳ, cho rằng học tập liên quan đến sự tương tác giữa cá nhân và môi trường, sự trải nghiệm gồm có: sự trải nghiệm nội tâm và trải nghiệm bên ngoài. Ông đã nghiên cứu và cho xuất bản một công trình về học tập dựa vào trải nghiệm: Trải nghiệm học tập: kinh nghiệm là nguồn học tập và phát triển (Study experience: Experience is the source of Learning and Development).
David Kolb đã chính thức giới thiệu lý thuyết học tập dựa vào trải nghiệm, cung cấp một mô hình học tập dựa vào trải nghiệm để ứng dụng trong trường học, tổ chức kinh tế và hầu như bất cứ nơi nào con người được tập hợp với nhau. Ông đã liệt kê các đặc điểm của học tập dựa vào trải nghiệm và xác định các giai đoạn trong học tập dựa vào trải nghiệm. Đối với Kolb, “Học tập là quá trình mà trong đó kiến thức được tạo -7- ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm”. Các kinh nghiệm học tập liên quan đến việc áp dụng các thông tin nhận được từ giáo dục đến kinh nghiệm của người học.
Các HS không tiếp thu kiến thức của mình chỉ từ các GV, mà thay vào đó, người học thông qua quá trình trải nghiệm dựa trên các kinh nghiệm hiện có của bản thân để thu nhận thông tin mới trong môi trường học tập thực tiễn và kiểm tra nó lại bằng kinh nghiệm của mình [36]. David Bound, Rosemary Keough và David Walker xuất bản cuốn sách Turning Experience into Learning (1985) tại London. Họ quan tâm đến các yếu tố của quá trình phản hồi trong DH định hướng học tập hành động như: trải nghiệm, cảm giác. Bước sang thế kỉ XXI, lý thuyết HTTN của Kolb vẫn được coi trọng và ghi nhận là phương thức học tập hiệu quả nhằm phát triển năng lực cho người học.
Các phiên bản mới của HTTN thế kỉ XXI có thể nói tới như: Colin M. Beard, John Peter Wilson (2006); Melvin L. Wurdinger và Julie A. được phát triển theo hướng vận dụng lý thuyết HTTN vào học tập, giảng dạy khác nhau.
Theo quan điểm của UNESCO, việc học của HS cần khuyến khích và phát triển tư duy phê phán, tự định hướng giải quyết vấn đề một cách chủ động qua trải nghiệm. “Cách tiếp cận học tập này cũng liên quan đến việc tạo cơ hội để phát hiện và củng cố các ý tưởng và kỹ năng thông qua phản hồi, phản ánh và áp dụng các ý tưởng và kỹ năng đó vào các tình huống mới” [43]. Trong rất nhiều quan điểm, triết lý khác nhau về giáo dục trải nghiệm, không thể không nhắc đến quan điểm giáo dục Montessori. Montessori khẳng định: "Trẻ tự đào luyện mình trong mối quan hệ với môi trường" [29, tr.
Có nghĩa là những gì mà trẻ có được phải "thông qua hoàn cảnh sống bên ngoài", thông qua hoạt động tương tác trực tiếp của trẻ với môi trường. Một trong những tư tưởng triết lý của Montessori là chúng ta "không nên coi trọng trí óc hơn là đôi tay, mà phải kết hợp cả hoạt động của trí óc với đôi tay tạo thành một hoạt động sáng tạo song hành" [29, tr. Montessori gọi đôi tay là công cụ của trí tuệ và nhận định "đôi tay phối hợp với bộ -8- não để tạo nên trí thông minh của trẻ". Như vậy, "trải nghiệm" theo quan điểm Montessori nhấn mạnh việc học được thực hiện thông qua các tương tác với môi trường bằng sự kết hợp của nhận thức cảm tính và lý tính (sự phối hợp của đôi tay và trí óc) và cho rằng đó là một phần không thể thiếu để trẻ phát triển và hoàn thiện.
Nghiên cứu trong nước Nền giáo dục Việt Nam có cơ hội tiếp cận nhiều nguồn tài liệu từ các nước phát triển nhờ hòa nhập vào sự phát triển chung với thế giới. Để phát triển tiềm năng của người học, một trong những yếu tố quan trọng nhất của người học là việc tiếp cận năng lực. Muốn giúp người học phát huy tối đa, tiến tới hoàn thiện năng lực bản thân chính là việc áp dụng PPDH hiện đại với những quan điểm mới. Qua nghiên cứu dạy học dựa vào lý thuyết HTTN trong đào tạo giáo viên kỹ thuật của tác giả Nguyễn Văn Hạnh và Nguyễn Hữu Hợp (2013), kết quả nghiên cứu cho thấy: Lý thuyết HTTN của Kolb có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển năng lực sư phạm cho GV sư phạm kỹ thuật.
Giảng dạy theo mô hình HTTN làm thay đổi vai trò của GV trong giảng dạy [21]. Tác giả Trần Quốc Hoàn với đề tài “Kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, đề tài đã đề xuất phương pháp thực hiện việc đưa người học về cơ sở sản xuất để họ làm quen, TN với môi trường nghề nghiệp, nhằm củng cố tri thức và hình thành kỹ năng qua hoạt động sản xuất [32]. Tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến lý thuyết HTTN như: Nghiên cứu của Phạm Thị Hồng Thùy về việc tổ chức dạy học theo định hướng học tập hành động. Đề tài đã đề cập đến 5 hướng học tập về hành động trong trường học đó là: ngẫu nhiên (Tacit); hợp tác, tự định hướng (Collaborative, Self-Directed); khoa học (Scientific); trải nghiệm (Experiental) và phản hồi (Critical reflection).
-9- Nghiên cứu trên giúp người nghiên cứu một góc nhìn rộng hơn về HTTN và những mối quan hệ biện chứng giữa trải nghiệm và phản hồi. Bài báo: “Dạy học tích hợp trong giáo dục nghề nghiệp theo lý thuyết HTTN của David A. Kolb” đăng trên tạp chí khoa học trường Đại học Sư Phạm Hà Nội của TS. Bùi Văn Hồng (2015): Thầy kết luận: “Ưu điểm của mô hình này là luôn đảm bảo tính liên tục về mặt nhận thức, qua đó giúp người học hiểu rõ về nội dung học tập và thực hiện chính xác các thao tác thực hành để phát triển kỹ năng”.
Bùi Văn Hồng đã nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết HTTN vào dạy học các môn nghề một cách hiệu quả, thêm vào đó việc thầy phân tích việc dạy học theo tích hợp rất phù hợp với yêu cầu của các trường trong đào tạo nghề hiện nay. Tóm lại, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu mới về vận dụng Lý thuyết HTTN vào dạy học môn ATLĐ cho HS trường Cao đẳng nghề. Vì vậy, vấn đề này sẽ được nghiên cứu và trình bày cụ thể trong luận văn. Các khái niệm sử dụng trong đề tài 1.
Trải nghiệm Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam "Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức…) trong đời sống tâm lý của từng người. Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lý học, là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân. Sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới, có thể sáng tạo trong bất kì lĩnh vực nào: khoa học (phát minh), nghệ thuật, sản xuất – kỹ thuật (sáng tác, sáng chế), kinh tế, chính trị,…" [30].