Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng, các quan hệ giao lưu dân sự, thương mại và sự dịch chuyển xuyên biên giới của các cá nhân, cơ quan, tổ chức ngày càng gia tăng. Sự phát triển này làm phát sinh nhiều vụ việc dân sự, kinh tế, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015. Khi giải quyết các vụ việc này, cơ quan tài phán trong nước không thể tự mình thực hiện các hành vi tố tụng ngoài lãnh thổ quốc gia mà phải dựa vào sự phối hợp, hỗ trợ của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thông qua hoạt động tương trợ tư pháp dân sự.
Để thực hiện hoạt động này, cơ quan có thẩm quyền lập văn bản yêu cầu gọi là ủy thác tư pháp. Nhằm tạo hành lang pháp lý, Việt Nam đã ký kết khoảng 20 hiệp định tương trợ tư pháp song phương về dân sự, gia nhập hai điều ước đa phương lớn thuộc khuôn khổ Hội nghị La Haye gồm: Công ước La Haye năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (CLaH 65) và Công ước La Haye năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (CLaH 70). Ở cấp độ quốc nội, các quy định điều chỉnh trực tiếp hoạt động này bao gồm Luật Tương trợ tư pháp 2007, BLTTDS 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC.
Mặc dù hệ thống văn bản pháp lý đã từng bước được kiện toàn, thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án cho thấy công tác ủy thác tư pháp quốc tế vẫn đối mặt với nhiều bất cập, ách tắc. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Hiếu Vân Linh (MSSV: 1853801011101, niên khóa 2018 - 2022, Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) dưới sự hướng dẫn của Mme. Trần Thị Bảo Nga tập trung giải quyết các nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu sau:
- Phân tích, hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về ủy thác tư pháp quốc tế trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, tổng hợp số liệu thực tế, nhận diện những vướng mắc, hạn chế trong quá trình thực hiện ủy thác tư pháp đi và đến.
- Đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động ủy thác tư pháp quốc tế về dân sự.
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật và thực tiễn pháp lý về ủy thác tư pháp quốc tế trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các quy định của BLTTDS 2015, Luật Tương trợ tư pháp 2007, các điều ước quốc tế song phương và đa phương (CLaH 65, CLaH 70) mà Việt Nam là thành viên cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; phạm vi nội dung tập trung vào phương thức, quy trình, nội dung ủy thác (tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng/giám định viên) và chi phí thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận về tư pháp quốc tế và pháp luật tố tụng dân sự, sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế làm khung tham chiếu chuẩn mực:
- Văn bản pháp luật Việt Nam: Luật Tương trợ tư pháp 2007 (Điều 4, 5, 6, 10, 16, 62, 68); BLTTDS 2015 (Điều 35, 93, 94, 105, 464, 471, 473, 474, 475); Nghị định số 92/2008/NĐ-CP; Nghị định số 123/2015/NĐ-CP; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Điều 17, 44); Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC; Thông tư số 18/2014/TT-BTC và Thông tư số 203/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính.
- Điều ước quốc tế và luật nước ngoài: Công ước La Haye 1965 (Điều 5, 8, 9, 10); Công ước La Haye 1970; Hiệp định tương trợ tư pháp dân sự giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp ký ngày 24/02/1999 (Điều 11); Thỏa thuận tương trợ tư pháp giữa Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc và Văn phòng Kinh tế Văn hóa Đài Bắc tại Việt Nam; Bộ luật Tố tụng dân sự mới của Pháp (Nouveau Code de procédure civile - NCPC: Điều 684–688, Điều 748...).
- Kế thừa các công trình khoa học: Đề tài nghiên cứu cấp trường của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nguyễn Hồng Bắc làm chủ nhiệm (2007); giáo trình Tư pháp quốc tế Việt Nam của Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ (2010); khóa luận tốt nghiệp của Đậu Thị Huyền (2011); công trình của Ngô Tuyết Mai (2015); bài viết của Đào Thị Xuân Quỳnh (2016) trên tạp chí Kiểm sát; bài viết của Phạm Thị Hồng Mỹ (2020) trên tạp chí Dân chủ & Pháp luật; Sổ tay hướng dẫn tương trợ tư pháp dân sự của Bộ Tư pháp (2016, 2018).
- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích - tổng hợp là phương pháp chủ đạo. Ngoài ra, khóa luận kết hợp các phương pháp so sánh luật học, đối chiếu, liệt kê, tư duy logic, quy nạp và giải thích quy phạm pháp luật.
- Nguồn dữ liệu: Báo cáo công tác tương trợ tư pháp hàng năm của Chính phủ và Bộ Tư pháp gồm Báo cáo số 413/BC-CP (2014), Báo cáo số 557/BC-CP (2015), Báo cáo số 429/BC-CP (2016), Báo cáo số 427/BC-CP (2017), Báo cáo số 479/BC-CP (2019) và Báo cáo tổng kết 6 năm thi hành Luật Tương trợ tư pháp (2015).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về ủy thác tư pháp quốc tế trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam (Chapitre I: Certaines théories générales sur la commission rogatoire internationale en matière civile au Vietnam)
Chương I làm rõ các khái niệm nền tảng, đặc điểm, quy trình, phạm vi và chi phí ủy thác tư pháp dân sự quốc tế:
- Khái niệm và phân loại: Ủy thác tư pháp quốc tế trong lĩnh vực dân sự là văn bản yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia gửi đến cơ quan có thẩm quyền của quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số hoạt động tố tụng cụ thể trong lĩnh vực dân sự theo nghĩa rộng (bao gồm dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động). Theo pháp luật Việt Nam, hoạt động này gồm hai chiều: "ủy thác tư pháp ra nước ngoài" (ủy thác tư pháp của Việt Nam) và "ủy thác tư pháp của tòa án nước ngoài tại Việt Nam" (ủy thác tư pháp từ nước ngoài đến).
- Đặc điểm cơ bản:
- Cơ quan thực hiện mang tính quyền lực nhà nước, chủ yếu là cơ quan tư pháp (tại Việt Nam gồm Bộ Tư pháp giữ vai trò cơ quan đầu mối theo Điều 62 Luật Tương trợ tư pháp 2007, TAND tối cao, Bộ Ngoại giao, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, TAND cấp tỉnh; phối hợp cùng cơ quan Công an và UBND địa phương để xác minh nhân thân, địa chỉ).
- Cơ sở xác lập dựa trên điều ước quốc tế (song phương, đa phương) hoặc nguyên tắc có đi có lại (Điều 4 Luật Tương trợ tư pháp 2007).
- Thực hiện theo pháp luật của quốc gia được yêu cầu, trừ trường hợp bên yêu cầu đề nghị áp dụng phương thức đặc biệt không trái với pháp luật nước được yêu cầu.
- Quy trình và kênh chuyển giao:
- Kênh chính theo CLaH 65 và hiệp định song phương: Cơ quan lập hồ sơ của Việt Nam $\rightarrow$ Bộ Tư pháp Việt Nam $\rightarrow$ Cơ quan trung ương nước được yêu cầu $\rightarrow$ Cơ quan thực hiện có thẩm quyền nước được yêu cầu (và ngược lại đối với chiều từ nước ngoài đến).
- Các kênh phụ/thay thế theo CLaH 65: Kênh ngoại giao/lãnh sự trực tiếp (Điều 8), lãnh sự gián tiếp (Điều 9.1), ngoại giao gián tiếp (Điều 9.2), đường bưu chính (Điều 10.a). Việt Nam đã bảo lưu kênh gửi trực tiếp giữa các viên chức tư pháp/thừa phát lại và cá nhân.
- Kênh không có điều ước: Thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại qua đường ngoại giao (Bộ Tư pháp chuyển sang Bộ Ngoại giao).
- So sánh với Pháp: Pháp áp dụng 3 kênh gồm cơ quan tư pháp nước ngoài, cơ quan đại diện ngoại giao/lãnh sự và qua người được ủy thác (personnes commises - thẩm phán Pháp có thể đóng vai trò người được ủy thác).
- Phạm vi ủy thác tư pháp dân sự (Điều 10 Luật Tương trợ tư pháp 2007):
- Tống đạt văn bản, hồ sơ, giấy tờ (Điều 474 BLTTDS 2015; so sánh Điều 684–688 NCPC Pháp và Điều 11 Hiệp định Việt - Pháp 1999).
- Triệu tập người làm chứng, người giám định.
- Thu thập, cung cấp chứng cứ (Điều 93, 94, 105, 475 BLTTDS 2015; Công ước La Haye 1970).
- Các yêu cầu tương trợ tư pháp dân sự khác.
- Chế độ thu, nộp chi phí:
- Phân định mốc thời gian thụ lý vụ việc: Vụ việc thụ lý trước ngày 01/01/2017 áp dụng Thông tư 18/2014/TT-BTC; vụ việc thụ lý từ ngày 01/01/2017 áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và Thông tư 203/2016/TT-BTC.
- Chi phí thực tế (Điều 6 TTLT 12): Gồm dịch thuật, công chứng, chứng thực, cước phí tống đạt và chi phí thu thập chứng cứ.
- Khung điều ước song phương phần lớn quy định miễn phí lẫn nhau (trừ chi phí bất thường, chi phí cho nhân chứng, giám định viên).
- Khung CLaH 65: Nước có thông báo phí cụ thể (người có nghĩa vụ nộp trước, ví dụ tống đạt sang Pháp qua thừa phát lại trả trước 50 euro cho Phòng Thừa phát lại quốc gia); nước tuyên bố miễn phí (không phải nộp); nước chưa có thông báo mức phí hoặc thu sau (tạm ứng 3.000.000 VND tại cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh, ví dụ gửi Australia). Trường hợp không có điều ước quốc tế: bắt buộc tạm ứng 3.000.000 VND theo điểm b khoản 7 TTLT 12.
Chương II: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả ủy thác tư pháp quốc tế trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam (Chapitre II: Situation réelle et solutions pour parachever la loi et améliorer l’efficacité de commission rogatoire internationale en matière civile au Vietnam)
Chương II phân tích các số liệu thống kê thực tế, chỉ ra 5 nhóm vướng mắc trọng yếu và đưa ra định hướng giải quyết:
1. Số liệu thực tế về hoạt động ủy thác tư pháp dân sự
Trước khi có Luật Tương trợ tư pháp 2007, số lượng hồ sơ ủy thác đi chỉ khoảng 600 vụ việc/năm và phần lớn không có kết quả do thiếu cơ chế theo dõi. Giai đoạn sau đó, số lượng hồ sơ gia tăng rõ rệt:
| Năm |
Tổng số hồ sơ ủy thác đi |
Số hồ sơ gửi nước chưa có điều ước |
Tỷ lệ gửi nước chưa có điều ước |
Tổng số hồ sơ có kết quả/trả lời |
Tỷ lệ giải quyết có kết quả |
| 2015 |
3.149 |
Không nêu chi tiết |
- |
2.126 |
67,5% |
| 2016 |
3.338 |
2.722 |
~81,5% |
1.616 |
48,4% |
| 2017 |
1.688 |
Không nêu chi tiết |
- |
855 |
50,7% |
| 2018 |
2.068 |
Không nêu chi tiết |
- |
N/A |
N/A |
| 2019 |
2.185 |
231 |
10,5% |
1.118 |
51,1% |
Chi tiết hoạt động năm 2019 theo Báo cáo số 479/BC-CP:
- Hồ sơ gửi đi nước ngoài (2.185 hồ sơ): Kênh CLaH 65 chiếm 1.245 hồ sơ (57%, có kết quả 706 hồ sơ - đạt 56,7%); kênh Hiệp định song phương chiếm 709 hồ sơ (32,5%, có kết quả 401 hồ sơ - đạt 56,6%); kênh chưa có điều ước chiếm 231 hồ sơ (10,5%, có kết quả 11 hồ sơ - đạt 4,8%). Ngoài ra tiếp nhận 405 kết quả trả lời của các hồ sơ gửi từ năm 2017 và 2018.
- Hồ sơ từ nước ngoài đến Việt Nam (1.353 hồ sơ): Kênh song phương chiếm 1.029 hồ sơ (76%, thực hiện xong 558 hồ sơ); kênh CLaH 65 chiếm 273 hồ sơ (20%); kênh chưa có điều ước chiếm 51 hồ sơ (4%). Tổng số hồ sơ có trả lời là 715/1.353 (đạt 52,8%).
- Cơ cấu lĩnh vực: Hôn nhân và gia đình chiếm áp đảo từ 80% đến 85% tổng số lượng ủy thác đi; tiếp theo là các vụ việc thừa kế, phân chia tài sản, bồi thường thiệt hại; kinh doanh thương mại và thi hành án chiếm tỷ lệ nhỏ.
2. Các hạn chế, khó khăn và bất cập thực tiễn
- Ngôn ngữ và dịch thuật: Bản dịch tài liệu ủy thác thiếu chuẩn hóa thuật ngữ pháp lý (thuật ngữ "Văn bản ủy thác tư pháp" khi dịch sang tiếng Anh có tới 8 cách dịch khác nhau); năng lực ngoại ngữ của cán bộ Tòa án hạn chế; rào cản từ các quốc gia đa ngôn ngữ (như Thụy Sĩ có 19 bang dùng tiếng Đức, các bang phía Tây dùng tiếng Pháp, các bang song ngữ) hoặc quốc gia dùng hệ chữ viết tượng hình/phi Latinh (Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản). Hiện tượng đồng âm dị nghĩa khiến địa chỉ bị sai lệch ngay từ khâu đăng ký kết hôn (Việt Nam có trung bình 18.000 công dân kết hôn với người nước ngoài mỗi năm theo thống kê từ năm 2008, dẫn đến nhiều tranh chấp ly hôn sau này không tống đạt được).
- Xác minh thông tin đương sự ở nước ngoài: Đương sự trong nước không cung cấp được địa chỉ chính xác của bên ở nước ngoài theo quy định tại Điều 473 BLTTDS 2015, dẫn đến việc Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện hoặc vụ án bị đình trệ kéo dài nhiều năm.
- Bất cập về chế độ chi phí:
- Lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là 200.000 VND/hồ sơ theo khoản 44 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, nhưng quy định về thời hạn nộp "theo quy định pháp luật" tại điểm b khoản 17 chưa rõ ràng.
- Phương thức trả trước chi phí thực tế cho nước ngoài gặp khó khăn do ngân hàng không có quy trình thống nhất, phí chuyển tiền khác nhau, tài khoản nước ngoài thiếu thông tin, hoặc rủi ro thất lạc séc/tiền mặt khi gửi qua bưu chính tới Bộ Tư pháp.
- Phương thức trả sau (phải nộp tạm ứng 3.000.000 VND) khó dự trù mức phí phát sinh, dễ dẫn đến nguy cơ hồ sơ bị trả lại do không đủ tiền.
- Thiếu cơ chế đồng bộ về trợ giúp chi phí ủy thác cho đối tượng được trợ giúp pháp lý (xung đột giữa Điều 16 Luật Tương trợ tư pháp 2007, Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 và Điều 44 Nghị quyết 326); chưa rõ nguồn ngân sách bảo đảm và quy trình thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài cho đối tượng này.
- Quy trình, thủ tục ủy thác: Quy trình chuyển giao hồ sơ qua nhiều cấp trung gian làm kéo dài thời gian tố tụng. Có sự xung đột thẩm quyền giữa Điều 68 Luật Tương trợ tư pháp 2007 (chỉ TAND cấp tỉnh mới có quyền ủy thác ra nước ngoài) và Điều 35, Điều 471 BLTTDS 2015 (cho phép TAND cấp huyện tiếp tục thụ lý giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài nếu đương sự thay đổi nơi cư trú ra nước ngoài sau khi thụ lý, buộc TAND cấp huyện phải ủy thác nhưng lại phải chuyển qua cấp tỉnh xử lý trung gian).
- Thu thập chứng cứ ở nước ngoài: Biểu mẫu 2A ban hành kèm Thông tư liên tịch số 12 tích hợp cả 4 yêu cầu (tống đạt, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng/giám định, yêu cầu khác) vào chung một bộ hồ sơ. Điều này gây khó khăn cho các quốc gia phân định thẩm quyền tống đạt và thu thập chứng cứ cho các cơ quan độc lập khác nhau.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa số liệu thực tiễn: Khóa luận đã tập hợp chuỗi dữ liệu chính thức từ các Báo cáo của Chính phủ (từ năm 2014 đến 2019), phản ánh chi tiết sự chuyển dịch cơ cấu thực hiện ủy thác tư pháp từ kênh ngoại giao sang kênh điều ước quốc tế đa phương (CLaH 65), minh chứng bằng tỷ lệ hồ sơ thực hiện qua CLaH 65 đạt 57% trong năm 2019.
- Đóng góp về mặt học thuật: Kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu đi trước, khóa luận làm rõ các vấn đề lý luận về ủy thác tư pháp dân sự trong bối cảnh các văn bản pháp luật quan trọng (BLTTDS 2015, CLaH 65, CLaH 70, Nghị quyết 326) vừa đi vào đời sống pháp lý.
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Chỉ ra các điểm nghẽn kỹ thuật pháp lý (xung đột thẩm quyền cấp huyện - cấp tỉnh, rào cản dịch thuật phiên âm, bất cập thanh toán tạm ứng chi phí qua hệ thống ngân hàng, mẫu biểu ủy thác tích hợp nhiều nội dung) và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật sát với thực tế xét xử.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các quy định pháp luật thực định của Việt Nam, đối chiếu một số khía cạnh với pháp luật Cộng hòa Pháp và hệ thống Công ước La Haye; chưa đi sâu nghiên cứu toàn diện quy trình tố tụng nội địa của tất cả các quốc gia tiếp nhận ủy thác lớn (như Hoa Kỳ, Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu sâu cơ chế thực thi Công ước La Haye 1970 về thu thập chứng cứ sau khi các quốc gia thành viên hoàn tất chấp thuận việc gia nhập của Việt Nam; hoàn thiện khung pháp lý về chuyển đổi số, nộp và truyền gửi hồ sơ ủy thác điện tử xuyên biên giới; hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa Tòa án - Cơ quan đại diện ngoại giao - Cơ quan Thi hành án dân sự.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Quốc tế, Tư pháp quốc tế, Luật Tố tụng dân sự khi nghiên cứu về tương trợ tư pháp dân sự quốc tế.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Chấp hành viên và Luật sư tham khảo quy trình thực tế về lập hồ sơ ủy thác, cách thức tính và nộp chi phí thực tế cho từng nhóm quốc gia (miễn phí, trả trước, trả sau) theo kênh CLaH 65 hoặc hiệp định song phương.
- Các nhà làm luật phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nhằm giải quyết sự không tương thích với BLTTDS 2015.
Câu hỏi thường gặp
1. Tòa án nhân dân cấp huyện tại Việt Nam có thẩm quyền trực tiếp lập hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài không?
Theo Điều 68 Luật Tương trợ tư pháp 2007, chỉ TAND cấp tỉnh mới có thẩm quyền lập hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Tuy nhiên, theo Điều 471 BLTTDS 2015, trường hợp Tòa án cấp huyện đã thụ lý đúng thẩm quyền mà trong quá trình giải quyết đương sự chuyển nơi cư trú ra nước ngoài thì Tòa án cấp huyện vẫn tiếp tục giải quyết vụ án và phải thực hiện ủy thác tư pháp. Do xung đột quy định này, trên thực tế Tòa án cấp huyện phải chuyển hồ sơ lên TAND cấp tỉnh để làm thủ tục ủy thác trung gian, gây kéo dài thời gian tố tụng.
2. Chi phí ủy thác tư pháp dân sự ra nước ngoài hiện nay gồm những khoản nào và thu theo văn bản nào?
Chi phí ủy thác gồm: Lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài (200.000 VND/hồ sơ theo khoản 44 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14) và Chi phí thực tế (dịch thuật, công chứng, cước tống đạt, thu thập chứng cứ... theo Điều 6 Thông tư liên tịch 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC). Đối với các nước thành viên CLaH 65 thu phí trả sau hoặc nước chưa có điều ước, đương sự phải nộp khoản tạm ứng chi phí thực tế là 3.000.000 VND tại cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh.
3. Khi tống đạt giấy tờ sang Cộng hòa Pháp theo Công ước La Haye 1965, người yêu cầu phải nộp chi phí thực tế như thế nào?
Nếu đương sự lựa chọn phương thức tống đạt qua thừa phát lại (huissier de justice) theo Điều 5(1)(a) CLaH 65, đương sự phải trả trước chi phí thực tế là 50 euro bằng séc gửi cho Phòng Thừa phát lại quốc gia Pháp (Chambre nationale des huissiers de justice) trước khi chuyển hồ sơ và không phải nộp khoản tiền tạm ứng 3.000.000 VND tại Việt Nam.
4. Bất cập lớn nhất về mặt dịch thuật ngôn ngữ khi thực hiện ủy thác tư pháp trong các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài là gì?
Đó là hiện tượng phiên âm/đồng âm dị nghĩa đối với tên riêng và địa chỉ của đương sự tại các quốc gia sử dụng chữ tượng hình (Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản). Thông tin địa chỉ bị phiên âm sai lệch từ Giấy chứng nhận kết hôn ở khâu đăng ký hộ tịch, khiến cơ quan tư pháp nước ngoài không tìm được đương sự để tống đạt hồ sơ, dẫn đến việc hồ sơ bị trả lại và vụ án bị đình trệ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Hiếu Vân Linh đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật về ủy thác tư pháp quốc tế trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, đối chiếu điều ước quốc tế và tổng hợp chuỗi số liệu từ năm 2014 đến 2019, công trình đã chỉ rõ những thành tựu đạt được cũng như các bất cập về quy trình, ngôn ngữ, xác minh địa chỉ và cơ chế thu nộp chi phí. Những đề xuất hoàn thiện pháp luật trong khóa luận là đóng góp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam.