Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE KET HON TRÁI PHÁP LUẬT 1. KHÁI NIEM VE KET HON TRÁI PHÁP LUẬT 1.1 Khái niệm kết hôn Xét về mặt thuật ngữ, “kế? hôn” theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý được hiểu là “chính thức lấy nhau thành vợ thành chéng” [25]. Hay trong từ điển Luật học có đưa ra khái niệm “Kế hôn là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà thành vo chong, được pháp luật công nhận ” [23]. Xét về phương diện pháp luật kết hôn được hiểu là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng.
Khi xã hội loài người mới xuất hiện, khi chưa có bất kỳ một quy tắc hay quy định pháp luật nào con người đã chung sống với nhau va sinh con đẻ cái. Như vậy, dé dang nhận thấy quyền kết hôn là một quyền tự nhiên của con người. Trải qua các giai đoạn lịch sử, với sự xuất hiện của các hình thái kinh tế xã hội và sự hình thành của Nhà nước, pháp luật ra đời dé điều chỉnh các quan hệ xã hội đó. Lúc này kết hôn không còn là một quyền tự do, mang tính bản năng của con người mà trở thành quan hệ xã hội mang tính lợi ích của giai cấp thống trị.
Trong xã hội phong kiến hôn nhân không đơn thuần là sự kết hợp giữa hai bên nam, nữ mà hôn nhân là sự kết giao giữa hai dòng họ. Sự quyết định của cha mẹ là yếu tố bắt buộc trong quan hệ hôn nhân, hai bên nam, nữ không có quyền tự do quyết định. Do đó, nam nữ thời ky này kết hôn chủ yêu không xuất phát từ tình yêu mà bị lệ thuộc vào gia đình, dòng họ. Trong hệ thống pháp luật trước năm 1945 chưa có văn bản chính thức nào đề cập đến khái niệm kết hôn.
Đến Luật HN&GD năm 1959 và Luật HN&GD năm 1986 cũng chưa xây dựng khái niệm này, mà kết hôn chỉ được giải thích trong phan giải nghĩa một số danh từ của Luật HN&GD năm 1986 như sau: “Kế: hôn là việc nam nữ lay nhau thành vợ chéng theo quy định của pháp luật. Việc kết hôn phải tuân theo các Điễu 5,6,7 và 8 của Luật Hôn nhân và gia đình”. Đến Luật HN&GP năm 2000 khái niệm này chính thức được định nghĩa tại Khoản 2, Điều 8, theo đó: “Kế? hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kỷ kết hôn ”. Luật HN&GD năm 2014 khi xây dựng khái niệm kết hôn đã có sự thay đôi.
Cụ thể, theo quy định tại Khoản 5, Điều 3 Luật HN&GD năm 2014 thì kết hôn được hiểu là: “Viéc nam và nit xác lập quan hệ vợ chong voi nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Việc bô sung thêm cụm từ “với nhau” trong Luật HN&GD năm 2014 đã cho thấy rõ quan điểm của Nhà nước ta về kết hôn đó là kết hôn phải là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ chứ không thé là sự kết hợp giữa hai người cùng giới tính. Sự sửa đối, bồ sung này là hoàn toàn cần thiết và phù hợp, bởi lẽ hiện nay hiện tượng “hôn nhân đồng tinh” đang có xu hướng gia tăng. Do đó, việc thé hiện rõ quan điểm của Nhà nước thừa nhận hay không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính là vô cùng cần thiết.
Pháp luật HN&GD của Nhà nước ta quy định việc kết hôn phải được đăng ký tại co quan nhà nước có thâm quyên. Trong trường hợp hai người kết hôn cùng là công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Việt Nam thì cơ quan có thâm quyền đăng ký kết hôn là UBND cấp cơ sở nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ. Trong trường hợp kết hôn có yếu t6 nước ngoài mà việc kết hôn tiến hành ở Việt Nam thì UBND cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam đăng ký kết hôn. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài.
Khi yêu cầu đăng ký kết hôn hai bên nam nữ phải cùng có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn, nộp tờ khai đăng ký kết hôn và giấy tờ cần thiết khác. Trong trường hợp có lý do chính đáng, một trong hai bên kết hôn không thê đến nộp hồ sơ đăng ký kết hôn thì có thể gửi cho cơ quan đăng ký kết hôn đơn xin nộp hồ sơ văng mặt, trong đơn phải nêu rõ lý do văng mặt và phải có xác nhận của UBND cấp cơ sở nơi người vắng mặt cư trú. Dé việc kết hôn được phù hợp với các quy định của pháp luật, co quan đăng ký kết hôn sau khi nhận hồ sơ đăng ký kết hôn của hai bên kết hôn phải tiễn hành điều tra, xác minh về những vấn đề mà các bên nam nữ đã khai. Nếu những điều mà các bên nam nữ khai là đúng sự thật và phù hợp với các điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn tiến hành đăng ký kết hôn cho họ theo đúng nghi thức do pháp luật quy định.
Khi việc đăng ký kết hôn đã được đăng ký tại cơ quan đăng ký kết hôn và ghi vào số kết hôn thì giữa các bên nam nữ phát sinh quan hệ hôn nhân. Điều đó có nghĩa là các bên nam, nữ sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng theo luật đinh. Qua những phân tích trên, chúng tôi cũng xin mạnh dạn đưa ra khái niệm về kết hôn như sau: “Kế hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chong giữa nam và nữ với nhau theo quy định của pháp luật về diéu kiện kết hôn và đăng ký kết hon”. Khái niệm kết hôn trái pháp luật Trước hết cần khang định rằng, kết hôn trái pháp luật là một khái niệm pháp ly được pháp luật quy định và điều chỉnh bởi Luật HN&GD.
Tuy nhiên, đứng trên góc độ lý luận, dé tìm hiểu những quan niệm sâu xa của van đề này thì cần đặt nó trong sự tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của mỗi thời kỳ. Bởi trong một xã hội có giai cấp, quan hệ hôn nhân bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị. Thông qua Nhà nước, bằng pháp luật, giai cấp thống trị tác động vào các quan hệ HN&GD làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi, cham dứt phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. Trong xã hội phong kiến, khi mà pháp luật là ý chí của một bộ phận rất nhỏ trong xã hội - tầng lớp quan lại, vua chúa, họ mặc nhiên đề ra những quy định điều chỉnh những quan hệ về HN&GD mà theo họ là phù hợp và đương nhiên cũng sẽ trở thành những nguyên tắc chung của toàn xã hội.
Ở thời kỳ đó, hôn nhân trái pháp luật được quan niệm là những cuộc hôn nhân không tuân thủ các điều kiện kết hôn như: Không "môn đăng hộ doi", những quan hệ hôn nhân không được sự đồng ý của cha mẹ, họ hàng. Những quy định này thể hiện rất rõ trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long. Tương tự như vậy, đối với các nước tu bản, chính điều kiện sống, yêu tô về xã hội, con người, kinh tế cũng đã quyết định đến quan niệm của xã hội, theo đó, pháp luật điều chỉnh cũng có những xu hướng phù hợp. Về vấn đề kết hôn, có thê nói pháp luật của một số nước thuộc hệ thống Tư bản chủ nghĩa có những cách nhìn nhận rất khác với pháp luật của Việt Nam.
Do đó, những căn cứ để xác định kết hôn hợp pháp và kết hôn trái pháp luật cũng có những khác biệt, như do các điều kiện về kinh tế, khí hậu, sinh học. khiến con người phát triển nhanh hon, sự trưởng thành về thê lực cũng như trí lực sẽ khác với người Việt Nam, dẫn đến việc quy định về tuổi kết hôn cũng sẽ khác. Hay việc kết hôn đồng giới hiện nay đã được thừa nhận tại một số quốc gia là kết hôn hợp pháp. Theo quy định tại Khoản 6, Điều 3 Luật HN&GD năm 2014 thì kết hôn trái pháp luật được hiểu là: “Viéc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thấm quyên nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Diéu 8 của Luật này ”.
Như vậy, chỉ khi nam, nữ đã tiễn hành đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thâm quyền đồng thời một hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì việc kết hôn mới bị coi là trái pháp luật. Trong trường hợp nam nữ vi phạm điều kiện kết hôn nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thâm quyền thì trường hop này sẽ không bi coi là kết hôn trái pháp luật. Từ quy định của Luật HN&GD có thé đưa ra căn cứ dé xác định việc kết hôn trái pháp luật bao gồm: - Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn; - Kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện; - Kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ, một chồng: - Kết hôn với người mất NLHVDS hoặc kết hôn khi đang mất NLHVDS; - Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thích thuộc; - Kết hôn giữa những người cùng giới tính. Bên cạnh đó, cần thiết phải phân biệt trường hợp kết hôn trái pháp luật với trường hợp chung sống như vợ chồng.
Theo quy định tại Khoản 7, Điều 3 Luật HN&GD năm 2014 chung sống như vợ chồng được hiểu là việc “nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chẳng”. Chung sống như vợ chồng bao gồm hai trường hợp: Trường hợp chung sống như vợ chồng không trái pháp luật và trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật. - Chung sống như vợ chồng không trái pháp luật là trường hợp nam, nữ không đăng ký kết hôn sống chung như vợ chồng nhưng không vi phạm điều cam được quy định tại Điều 5 Luật HN&GD năm 2014. Chang han nhu: Trường hợp hai người cùng giới tinh chung sống với nhau hay trường hop người mat NLHVDS chung sống với một người bình thường.
Trong trường hợp này khi các bên chung sống như vợ chồng sẽ không bị coi là trái pháp luật nhưng nếu kết hôn sẽ thuộc trường hợp kết hôn trái pháp luật.