đặt vấn đề đó lên hàng đầu trong công cuộc nghiên cứu. Nhưng Bắchôphen cũng là một nhà duy tâm, thần bí khi quan niệm về vấn đề tạp hôn, đây là hạn chế của ông củng như hạn chế của thời đại ông khi mà vào cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, hầu hết các nhà triết học đều bất lực trong việc lý giải bản chất của thực tiễn xã hội đang diễn ra, vì vậy họ đã tìm ngay đến thần linh và tôn giáo để giải thích hiện thực xã hội hiện thời. Tiếp đến, Bắchôphen trong khi nghiên cứu về gia đình Punaluan, dù hình thức gia đình này đã loại bỏ quan hệ tình dục giữa cha mẹ và con cái hay giữa anh chị em ruột với nhau, đã hình thành nên cộng đồng gia đình mới tiến bộ hơn, nhưng Bắchôphen đã nhận ra bản chất thực sự của gia đình Luan van 16 đó cũng chỉ là chế độ quần hôn, dòng dõi chỉ có thể xác định được về bên mẹ mà thôi, điều đó có nghĩa là, chỉ có nữ hệ là được thừa nhận (chế độ mẫu quyền). Ngoài ra, Bắchôphen đã có cống hiến khi ông cho kinh tế gia đình Cộng sản, trong đó phần đông phụ nữ, nếu không phải là tất cả phụ nữ, đều cùng thuộc một thị tộc duy nhất, còn đàn ông thì thuộc nhiều thị tộc khác nhau, là cơ sở hiện thực của quyền thống trị của người đàn bà, cái quyền thống trị phổ biến khắp mọi nơi trong thời nguyên thủy.
Phát hiện ra điều đó, theo Ph.Ăngghen chính là công lao thứ ba của Bắchôphen. Tuy nhiên kinh tế gia đình Cộng sản chính là cơ sở kinh tế của gia đình cặp đôi tồn tại trong thời kì dã man, vì bản thân gia đình cặp đôi còn quá yếu để có thể phá vở cơ sở kinh tế trước để lại. Tiếp theo những cống hiến của Bắchôphen thì Gi. Măclenna củng có những cống hiến trong khi nghiên cứu về gia đình.Măclenna kế tục những quan điểm của Bắchôphen nhưng quan điểm của Gi.
Măclenna trái ngược với vị tiền bối, không phải là một nhà thần bí thiên tài nữa mà là một nhà luật gia khô khan. Trong đó ông đặc biệt quan tâm đến hôn nhân “ngoại hôn” và đem nó đối lập với bộ lạc “nội hôn”, và sự đối lập nói trên chỉ có trong trí tưởng tượng của ông. Măclenna vẫn lấy sự đối lập ấy làm cơ sở cho thuyết của mình. Theo thuyết đó, các bộ lạc ngoại hôn chỉ có thể lấy vợ ở bên ngoài; trong tình trạng chiến tranh liên miên, đặc trưng của thời mông muội, thì chỉ có thể lấy vợ bằng cách cướp đoạt.
Ông đi tìm nguyên nhân cho sự xuất hiện tục ngoại hôn, và theo ông quan hệ huyết tộc và loạn luân không liên quan gì tới việc này vì mãi về sau chúng mới có. Nhưng có một tục lệ phổ biến khác ở các dân mông muội: giết những bé gái sơ sinh. Nó dẫn đến việc thừa đàn ông trong mỗi bộ lạc; hậu quả trực tiếp, tất yếu của việc đó là nhiều đàn ông phải lấy chung một vợ: đó là chế độ nhiều chồng. Hậu quả tiếp theo là người ta chỉ biết mẹ chứ không biết cha của đứa bé, vậy Luan van 17 là huyết tộc chỉ tính được theo nữ hệ chứ không phải nam hệ: đó là chế độ mẫu quyền.
Hậu quả nữa của việc thiếu đàn bà là việc thường xuyên cướp đoạt đàn bà của các bộ lạc khác. “Vì chế độ ngoại hôn và chế độ nhiều chồng có cùng nguyên nhân: nhu cầu cân bằng hai giới, nên ta buộc phải cho là: ban đầu, mọi tộc người ngoại hôn đều có chế độ nhiều chồng. Vì thế ta phải cho là: không cần bàn cãi, hệ thống thân tộc đầu tiên, ở mọi tộc người ngoại hôn, đều chỉ thừa nhận quan hệ huyết tộc về phía mẹ” [41; tr. Công lao của ông là đã chỉ ra tính phổ biến và ý nghĩa to lớn của cái mà ông gọi là chế độ “ngoại hôn” nhưng ông lại không hiểu được nó.
Ông cũng là người thừa nhận sự tồn tại trước tiên của chế độ mẫu hệ, tuy rằng về sau ông phải thừa nhận mình đã đi sau Bắchôphen về điểm này. Ông tỏ ra mơ hồ khi chỉ nói đến “quan hệ huyết tộc chỉ về nữ hệ”, thuật ngữ này chỉ đúng với giai đoạn đầu nhưng ông vẫn sử dụng chúng cho giai đoạn sau này khi quan hệ huyết tộc theo nam hệ đã được thừa nhận, điều này chứng tỏ trí óc mô phạm của một luật gia khi đã tìm ra một thuật ngữ luật học cố định, thì tiếp tục dùng nó mà không thay đổi gì, dù hoàn cảnh đã thay đổi đến mức không thể dùng nó được nữa. Tuy thế, thuyết của ông vẫn được hoan nghênh và ủng hộ nhiệt liệt ở Anh; Ở đó, ông được xem là nhà sáng lập ra ngành lịch sử gia đình, và là người có uy tín bậc nhất về lĩnh vực đó. Tuy vậy, Gi.
Măclennan chỉ biết có ba hình thức hôn nhân: chế độ nhiều chồng, chế độ nhiều vợ và chế độ hôn nhân cá thể. Những lý luận của ông tuy có vẻ hợp lý nhưng không có căn cứ gì vững vàng. Moóc-gan đã đưa ra những tài liệu mới có tính chất quyết định về mọi mặt. Ông đã đánh tan các giáo lí thần thánh bằng những lý lẽ mà chỉ cần nói ra là cũng đủ làm cho mọi người thấy ngay sức thuyết phục.
Ông tin chắc rằng hệ thống thân tộc đặc biệt, đang tồn tại ở người Irôqua, là phổ biến trong toàn bộ những dân bản xứ ở Mĩ, do đó cũng là phổ biến trên cả Luan van 18 lục địa; mặc dù chế độ ấy mâu thuẫn trực tiếp với những quan hệ thân tộc do chế độ hôn nhân hiện hành ở người Irôqua sinh ra. Ông đã thuyết phục chính phủ Liên bang Mĩ thu thập tư liệu về những chế độ thân tộc ở các dân khác, có gửi kèm theo một bảng đề mục và danh sách câu hỏi của chính ông. Từ những phúc đáp, ông đã tìm ra rằng: Chế độ thân tộc của người Indian ở châu Mĩ cũng lưu hành trong các dân ở châu Á, và trong cả các dân ở châu Phi và lục địa Australia, dưới một hình thức hơi khác; Chế độ thân tộc đó được giải thích hoàn chỉnh nhờ một hình thức quần hôn, đang tàn lụi, có ở Hawaii và các đảo khác thuộc châu Đại dương; Cùng với chế độ quần hôn đó, ở các đảo trên còn tồn tại một chế độ thân tộc khác, mà người ta chỉ có thể giải thích chúng nhờ một hình thức quần hôn còn cổ hơn nữa, nhưng đã biến mất. Moócgan đã công bố những tài liệu trên, và cả những kết luận mà ông rút ra từ đó, trong cuốn “Các Chế độ Thân tộc” (1871); Do đó đã đưa cuộc tranh luận vào một lĩnh vực rộng lớn hơn nhiều.
Bắt đầu từ các chế độ thân tộc, khôi phục các hình thức gia đình tương ứng với các chế độ đó; L. Moócgan đã mở ra một con đường nghiên cứu mới, và mở rộng tầm nhìn của chúng ta về thời tiền sử của loài người. Nếu phương pháp đó là đúng đắn, thì những lí thuyết đẹp đẽ của J. Măclenna sẽ bị phá hủy hoàn toàn.
Măclenna khẳng định: chế độ quần hôn hoàn toàn là tưởng tượng, như vậy là đã lạc hậu hơn Bắchôphen nhiều. Ông ta tuyên bố: các chế độ thân tộc của L.Moócgan chỉ là phép tắc lễ nghi thông thường, bằng chứng là người Indian cũng gọi người ngoài hoặc người da trắng là “anh” hay “cha”. Măclenna, thì những từ “cha”, “mẹ”, “anh em”, “chị em” cũng chỉ là cách xưng hô đơn thuần; vì các linh mục cũng được gọi là “cha”, các bà trưởng tu viện cũng được gọi là “mẹ”; và vì các thầy tu và các ni cô, thậm chí các hội viên Hội Tam điểm và các hội khác ở Anh, đều gọi nhau là “anh em”, “chị em” trong các cuộc họp chính thức của họ. Tóm lại: sự biện hộ của Luan van 19 Gi.Măclenna thật yếu ớt, khổ sở.
Nhưng ông ta vẫn chưa bị đánh bại ở một điểm. Sự đối lập giữa các “bộ lạc” ngoại hôn và nội hôn, là cơ sở cho toàn bộ hệ thống của ông ta. Điều này đã bị L. Moócgan phê phán trong cuốn “ Xã hội cổ đại” (1877), theo đó không có mâu thuẫn giữ nội hôn và ngoại hôn, tới nay thì sự tồn tại của các “bộ lạc” ngoại hôn vẫn không được chứng minh ở bất kì đâu.
Nhưng ở thời mà chế độ quần hôn còn thịnh hành - và chắc chắn đã có thời nó thịnh hành ở khắp nơi - thì bộ lạc đã được chia thành các tập đoàn huyết tộc mẫu hệ, tức là thành các thị tộc; Trong thị tộc, người ta tuyệt đối cấm kết hôn nội bộ, nên người đàn ông - dù có thể lấy vợ trong cùng bộ lạc, và vẫn thường làm vậy - lại bị buộc phải lấy vợ ở thị tộc khác. Vậy, trong khi thị tộc theo chế độ ngoại hôn hết sức nghiêm ngặt, thì bộ lạc cũng theo chế độ nội hôn nghiêm ngặt không kém. Tàn dư sau cùng của các cấu trúc giả tạo do J. Măclenna dựng lên, do đó đã bị đánh đổ hoàn toàn.
Moócgan còn là người phát hiện ra thị tộc mẫu quyền nguyên thủy trong thời kì trước khi có thị tộc phụ quyền ở các dân tộc văn minh có ý nghĩa vĩ đại đối với nhân loại học. Thị tộc Hi Lạp và La Mã, tới lúc đó vẫn là một bí ẩn đối với mọi sử gia, đã được giải thích nhờ thị tộc Indian; Và do đó, toàn bộ lịch sử nguyên thủy cũng được đặt trên một cơ sở mới. Cũng như thuyết tiến hóa của Darwin đối với sinh vật học, hay lí thuyết giá trị thặng dư của Marx đối với kinh tế chính trị học.Moócgan phác ra, lần đầu tiên, lịch sử của gia đình; trong đó, ít nhất thì các giai đoạn phát triển điển hình của gia đình cũng được xác định, trong chừng mực các tài liệu hiện có cho phép. Rõ ràng là điều đó đã mở ra một thời đại mới trong nghiên cứu lịch sử nguyên thủy.
Thị tộc mẫu quyền là cái trục để toàn bộ khoa học đó xoay quanh; từ khi có phát hiện đó, ta đã biết phải nghiên cứu theo hướng nào, nghiên cứu cái gì, sắp xếp những kết quả có được như thế nào. Do đó, từ khi có cuốn “Xã hội Cổ đại”, những bước tiến trên lĩnh Luan van 20 vực đó đã diễn ra nhanh hơn nhiều. Không chỉ dừng lại ở đó, L. Moócgan không những phê phán thời đại văn minh - tức xã hội của nền sản xuất hàng hoá, mà còn nói đến sự một sự cải biến tương lai đối với xã hội đó.