Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tiêu đề "Vai trò vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: cách tiếp cận vĩ mô và vi mô" do nghiên cứu sinh Trần Thị Thùy Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Võ Trí Thành và TS. Ngô Minh Hải, bảo vệ năm 2016 tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế phát triển, mã số đào tạo 62 31 01 05.
Tính cấp thiết và bối cảnh nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên bối cảnh nền kinh tế Việt Nam sau gần ba thập kỷ đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế đã bộc lộ nhiều hạn chế về chất lượng tăng trưởng:
- Năng suất lao động của Việt Nam duy trì ở mức thấp; theo báo cáo World of Work Report: Developing with Jobs (2014) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 1/15 năng suất lao động của Singapore.
- Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp, thể hiện qua sự gia tăng của hệ số ICOR, cao hơn gần gấp đôi so với nhiều quốc gia trong khu vực.
- Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế còn rất khiêm tốn; trong giai đoạn 2011–2014, mức độ đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP của Việt Nam ở mức dưới 25,82%, trong khi chỉ số này ở Thái Lan, Indonesia và Philippines đều đạt trên 40%.
- Nền kinh tế phải đối mặt với các vấn đề xã hội và môi trường như ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội và tình trạng tham nhũng.
Theo các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về chất lượng tăng trưởng, các quốc gia trên thế giới vận hành theo ba kiểu tăng trưởng: (1) Tăng trưởng không bền vững với các giai đoạn tăng nhanh nhưng giảm dần và dẫn tới trì trệ; (2) Tăng trưởng méo mó dựa trên khai thác tài nguyên tự nhiên, ít đầu tư vào vốn nhân lực và chú trọng trợ cấp vốn hiện vật; (3) Tăng trưởng bền vững thông qua tích lũy tài sản cân bằng, phát triển giáo dục cơ sở, y tế công cộng, bảo vệ tài nguyên và đầu tư vào vốn con người để thúc đẩy sáng tạo công nghệ cùng tăng trưởng TFP. Tại Việt Nam, vốn con người được xác định là nguồn lực cốt lõi có khả năng thay thế tài nguyên tự nhiên nhằm chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ dựa vào vốn hiện vật sang dựa vào con người.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Làm rõ cơ sở khoa học của việc đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Các mục tiêu cụ thể:
- (i) Hệ thống hóa và luận giải rõ khung lý thuyết phân tích và đánh giá vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô.
- (ii) Phân tích cụ thể thực trạng vốn con người, chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam và thực trạng vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô.
- (iii) Đưa ra những đánh giá tổng quát về những mặt tích cực, hạn chế của vai trò vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam và chỉ ra nguyên nhân của các hạn chế.
- (iv) Xác định phương hướng và quan điểm về phát triển vốn con người đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025.
- (v) Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển vốn con người đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung giải quyết bốn câu hỏi nghiên cứu:
- Các tiêu chí (thước đo) đánh giá thực trạng vốn con người và chất lượng tăng trưởng kinh tế cho trường hợp Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô là gì?
- Vốn con người có vai trò như thế nào đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô?
- Vốn con người có vai trò như thế nào đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam theo cách tiếp cận vi mô?
- Cần có các giải pháp gì để phát huy vai trò của vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào khía cạnh giáo dục và đào tạo của vốn con người (kiến thức, kỹ năng), không đi sâu vào khía cạnh sức khỏe và thể lực; chất lượng tăng trưởng vĩ mô đánh giá qua năng suất lao động, hệ số ICOR và TFP (lấy năng suất lao động làm biến đại diện chính); chất lượng tăng trưởng vi mô đánh giá qua thu nhập cá nhân và hộ gia đình.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ nền kinh tế Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Số liệu phân tích thực trạng tập trung trong giai đoạn 2000–2014; các quan điểm, định hướng và giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2015–2025.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Luận án tổng hợp các công trình quốc tế theo hai hướng tiếp cận chính:
Cách tiếp cận vĩ mô:
- Nelson và Phelps (1966) với nghiên cứu "Investment in Human, Technological Diffusion and Economic Growth" khẳng định trữ lượng vốn con người là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng thông qua sự lan tỏa công nghệ. Mô hình thứ nhất của Nelson - Phelps chỉ ra độ trễ ứng dụng kỹ thuật mới là hàm giảm dần của kết quả giáo dục; mô hình thứ hai chỉ rõ tốc độ ứng dụng công nghệ phụ thuộc vào trình độ giáo dục và khoảng cách giữa trình độ công nghệ lý thuyết với thực tế.
- Lucas (1988) trong "On the Mechanics of Economic Development" phân tích cơ chế tăng trưởng qua ba mô hình: tích lũy vốn hiện vật - công nghệ, tích lũy vốn con người qua giáo dục đào tạo, và tích lũy qua kinh nghiệm (learning by doing).
- Mankiw, Romer và Weil (1992) trong "A Contribution to the Empirics of Economic Growth" mở rộng mô hình Solow bằng cách đưa thêm biến vốn con người $H(t)$ vào hàm sản xuất: $Y(t) = K(t)^\alpha H(t)^\beta (A(t)L(t))^{1-\alpha-\beta}$, sử dụng tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động theo học trung học cơ sở từ dữ liệu UNESCO làm biến đại diện.
- Hanushek và Wößmann (2007) trong "The Role of Education Quality in Economic Growth" sử dụng mô hình hồi quy tốc độ tăng thu nhập bình quân giai đoạn 1960–2000 theo số năm đi học và điểm kiểm tra trung bình, chứng minh chất lượng giáo dục tác động mạnh hơn ở các nước đang phát triển và thu nhập thấp.
- Các nghiên cứu hạch toán tăng trưởng của Bosworth và Collins (2003, 2013), Abed (2004), Easterly và Levine (2001) khẳng định sự gia tăng đơn thuần của các nhân tố đầu vào không thể giải thích hết tăng trưởng, mà TFP phản ánh chất lượng lao động có vai trò quyết định.
- Altinok (2007) sử dụng dữ liệu mảng (1960–2005) trên 120 quốc gia (bao gồm 27 nước châu Phi cận Sahara) với các chỉ tiêu đánh giá năng lực toán học, khoa học và đọc hiểu. Bas van Leeuwen (2005) áp dụng kiểm định đồng kết hợp Johansen cho thấy mối quan hệ đồng kết hợp giữa giáo dục và thu nhập tại Indonesia, Ấn Độ (theo Lucas) và Nhật Bản (theo Romer sau năm 1950).
- Các nghiên cứu tại Trung Quốc: Xue Fu và cộng sự kết hợp mô hình Lucas và phân tích I/O, chỉ ra vốn con người đóng góp 2,6% vào tăng trưởng khu vực sản xuất thứ cấp; Changzheng và Jim (2010) dùng kiểm định nhân quả Granger chứng minh mối quan hệ đồng biến giữa bình đẳng giáo dục (hệ số Gini giáo dục) và TFP; Whalley và Zhao (2010) áp dụng tiếp cận chi phí cơ hội của Schultz (1960), xác định vốn con người đóng góp 38,1% vào tăng trưởng kinh tế Trung Quốc giai đoạn 1978–2008.
- Các nghiên cứu tại Pakistan và Ấn Độ: Khan (2005), Abbas (2000) hồi quy phương trình tăng trưởng và thu hút đầu tư qua tỷ lệ nhập học THCS/THPT và tuổi thọ. Sala-i-Martin (2004) chỉ ra không có nhân tố đơn lẻ nào quyết định tăng trưởng, thu nhập khởi điểm và độ mở kinh tế có vai trò lớn trong khi quan hệ giữa vốn con người và tăng trưởng phụ thuộc vào thể chế.
Cách tiếp cận vi mô:
- Mincer (1981) trong "Human Capital and Economic Growth" phân tích vốn con người ở cấp độ cá nhân (gia tăng thu nhập) và cấp độ quốc gia (kết hợp với vốn hiện vật làm tăng sản lượng).
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Các công trình đánh giá tổng hợp chất lượng tăng trưởng kinh tế: Lê Huy Đức (2004), Trương Thị Minh Sâm (2004), Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005), Phương Minh Ngọc (2006), Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia (2006), Trần Thọ Đạt (2009), Phạm Thị Thu Hương (2009).
- Nghiên cứu về vốn con người và tăng trưởng vĩ mô: Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008, 2010) đánh giá tác động của số năm đi học bình quân, chi phí giáo dục và thu nhập đến GDP cấp tỉnh/thành phố; Trần Thọ Đạt (2010) sử dụng hàm Cobb-Douglas ước lượng hệ số co giãn của số năm đi học bình quân đối với GDP nằm trong khoảng 0,10 đến 0,14, và đối với GDP/lao động trong khoảng 0,10 đến 0,16; Bùi Quang Bình (2009) phân tích vốn con người dưới góc độ kỹ năng và kiến thức sáng tạo.
- Nghiên cứu vi mô về thu nhập: Moock và cộng sự (1998) sử dụng dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư (VHLSS) 1992–1993 chỉ ra giáo dục tác động đến thu nhập ở khu vực nhà nước mạnh hơn khu vực tư nhân và mạnh hơn ở nữ giới; Nguyễn Nguyệt Nga (2002) dùng số liệu VHLSS 1993 và 1998 khẳng định trình độ THCS làm tăng thu nhập cá nhân nhưng dạy nghề chưa cho thấy tác động rõ rệt; Bùi Quang Bình (2008) phân tích hệ số tương quan dương giữa số năm đi học của chủ hộ với thu nhập hộ trồng cà phê Tây Nguyên; Thái Thành Phúc (2014) nghiên cứu vai trò của vốn con người đối với giảm nghèo bền vững.
Khoảng trống nghiên cứu
Tác giả chỉ ra 5 khoảng trống tri thức mà các công trình trước chưa giải quyết:
- Thiếu sự đánh giá mang tính hệ thống về vốn con người trước khi phân tích tác động tới chất lượng tăng trưởng.
- Các chỉ tiêu đo lường vốn con người chưa nhất quán và toàn diện, chủ yếu dựa trên các giá trị trung bình quốc gia (số năm đi học, tỷ lệ biết chữ) mà bỏ qua yếu tố lao động chất lượng cao và môi trường sử dụng lao động.
- Các nghiên cứu định lượng tại Việt Nam chủ yếu giới hạn ở phạm vi hẹp cấp tỉnh/thành phố, thiếu phân tích ở cấp độ quốc gia.
- Rất ít công trình tích hợp đồng thời cả hai cách tiếp cận vĩ mô và vi mô; các nghiên cứu vi mô sử dụng dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình tại Việt Nam bị gián đoạn từ sau năm 2004.
- Chưa có hệ thống giải pháp và chính sách cụ thể, đồng bộ về phát triển vốn con người nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm vốn con người: Luận án kế thừa quan điểm từ Adam Smith (1776), Schultz (1960), Becker (1964), Từ điển Penguin, Laroche và cộng sự (1999), Liên Hợp Quốc (1997), OECD (2001), Mankiw (2002), Bùi Quang Bình (2009) và Bong (2009). Luận án định nghĩa vốn con người là toàn bộ kiến thức, kỹ năng và phẩm chất của con người được tích lũy chủ yếu thông qua quá trình đầu tư suốt đời cho giáo dục đào tạo cũng như quá trình tích lũy kinh nghiệm.
- Mối quan hệ với vốn xã hội: Tiếp cận theo Bourdieu (1986) và khung phân tích của OECD (2001), vốn con người là đặc tính của từng cá nhân cấu thành nên vốn xã hội, trong khi vốn xã hội đóng vai trò bổ sung, tương tác cùng thể chế để nâng cao phúc lợi và tăng trưởng GDP.
- Đặc điểm của vốn con người: Luận án dẫn 5 đặc trưng theo Laroche và cộng sự (1999) gồm: (1) Không có khả năng thương mại; (2) Cá nhân khó kiểm soát toàn bộ các kênh hình thành; (3) Bao hàm cả mặt lượng và mặt chất; (4) Chứa đựng yếu tố cộng đồng lẫn cá biệt; (5) Có tính ngoại ứng tích cực. Tác giả bổ sung 2 đặc điểm: (6) Quá trình đầu tư có độ trễ thời gian lớn; (7) Không chịu sự chi phối của quy luật lợi suất giảm dần khi được đưa vào sử dụng.
Phương pháp và chỉ tiêu đo lường
| Cách tiếp cận |
Tiêu chí / Chỉ tiêu đo lường |
Cơ sở lý thuyết & Công thức |
| Tiếp cận Vĩ mô (Giáo dục) |
- Tỷ lệ người lớn (trên 15 tuổi) biết chữ - Tỷ lệ đi học ròng và tổng các cấp - Số năm đi học trung bình của lực lượng lao động |
Phương pháp Psacharopoulos (1986): $S = \sum L_i D_i$ (với $L_i$ là tỷ lệ lao động ở cấp học $i$, $D_i$ là số năm quy định của cấp học $i$) |
| Tiếp cận Vi mô (Chi phí & Thu nhập) |
- Chi tiêu cho giáo dục bình quân 1 nhân khẩu/tháng - Mức thu nhập trung bình của cá nhân/hộ gia đình |
Lý thuyết Mincer (1958, 1981) và Becker (1964) về đầu tư vốn nhân lực trong suốt vòng đời |
Mô hình phân tích định lượng
- Mô hình vĩ mô: Dựa trên hàm sản xuất tân cổ điển mở rộng của Mankiw, Romer và Weil (1992):
$$Y = K^\alpha (A H)^{1-\alpha}$$
Đánh giá mối quan hệ giữa các biến số vốn con người (số năm đi học, tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học) với năng suất lao động và tăng trưởng GDP.
- Mô hình vi mô: Dựa trên phương trình thu nhập Mincer (1958):
$$\ln y = \ln y_0 + rS + \beta_1 X - \beta_2 X^2$$
(trong đó $y$ là thu nhập, $S$ là số năm đi học/trình độ học vấn, $X$ là kinh nghiệm làm việc, $X^2$ là bình phương kinh nghiệm).
Phương pháp nghiên cứu cụ thể và nguồn dữ liệu
- Phương pháp luận: Vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp thu thập và xử lý: Phân tích thống kê mô tả, thống kê so sánh kết hợp phân tích kinh tế lượng (hồi quy).
- Nguồn dữ liệu: Số liệu thứ cấp thu thập từ Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cuộc Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS), cùng cơ sở dữ liệu quốc tế từ UNESCO, Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Năng suất Châu Á (APO), OECD.
Nội dung chính theo từng chương
Cấu trúc tổng thể của luận án
| Chương |
Tên chương trong văn bản |
Trọng tâm nội dung |
| Chương 1 |
Tổng quan các nghiên cứu về vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế |
Tổng thuật y văn trong và ngoài nước, xác định 5 khoảng trống nghiên cứu, mục tiêu, 4 câu hỏi nghiên cứu và khung tiếp cận vĩ mô - vi mô. |
| Chương 2 |
Cơ sở lý luận về vai trò vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế |
Xác lập các khái niệm, 7 đặc điểm của vốn con người, các tiêu chí đo lường vĩ mô (giáo dục) và vi mô (chi phí), khung đánh giá chất lượng tăng trưởng và mô hình Mankiw, Mincer. |
| Chương 3 |
Thực trạng vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000–2014 |
Đánh giá thực trạng tăng trưởng, NSLĐ, ICOR, TFP, giáo dục, chi tiêu giáo dục hộ gia đình; kết quả hồi quy mô hình vĩ mô và vi mô; chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. |
| Chương 4 |
Đề xuất giải pháp phát triển vốn con người nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025 |
Phân tích bối cảnh, ma trận SWOT, xác định quan điểm, mục tiêu, định hướng và các nhóm giải pháp vĩ mô (quốc gia), vi mô (hộ gia đình) cùng điều kiện thực thi. |
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế
Chương này trình bày chi tiết các cơ sở học thuyết quốc tế từ mô hình lan tỏa công nghệ của Nelson - Phelps, lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Lucas, mô hình Mankiw - Romer - Weil, đến các nghiên cứu thực nghiệm tại châu Á, Trung Quốc, Pakistan, Ấn Độ. Tác giả phân tích các nghiên cứu thực nghiệm trong nước của Trần Thọ Đạt, Đỗ Tuyết Nhung, Bùi Quang Bình, Moock, Nguyễn Nguyệt Nga, Thái Thành Phúc; từ đó làm rõ 5 khoảng trống nghiên cứu và xác định mô hình nghiên cứu tích hợp hai cấp độ vĩ mô và vi mô.
Chương 2: Cơ sở lý luận về vai trò vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
Nội dung chương 2 tập trung xây dựng cơ sở khái niệm và đo lường:
- Phân tích bản chất của vốn con người gồm ba cấu phần: năng lực bẩm sinh, năng lực chuyên môn qua đào tạo chính quy, cùng kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy (kỹ năng cứng và kỹ năng mềm).
- Phân tích ưu - nhược điểm của các chỉ tiêu đo lường giáo dục vĩ mô (tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ đi học tổng/ròng, số năm đi học trung bình theo công thức Psacharopoulos) và chỉ tiêu chi phí vi mô (chi tiêu giáo dục hộ gia đình theo Mincer, Becker, Kendrick, Eisner).
- Xây dựng hệ thống tiêu chí chất lượng tăng trưởng vĩ mô (NSLĐ, ICOR, TFP) và vi mô (thu nhập, bất bình đẳng thu nhập).
- Thiết lập khung phân tích hồi quy kinh tế lượng theo mô hình hàm sản xuất Mankiw et al. (1992) cho cấp độ vĩ mô và phương trình Mincer (1958) cho cấp độ vi mô.
Chương 3: Thực trạng vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000–2014
Chương 3 triển khai toàn diện việc phân tích số liệu thực chứng của Việt Nam giai đoạn 2000–2014:
- Thực trạng tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng vĩ mô: Đánh giá tốc độ tăng trưởng GDP, năng suất lao động trong tương quan so sánh với châu Á; biến động hệ số ICOR toàn nền kinh tế và theo 3 khu vực sở hữu (nhà nước, ngoài nhà nước, FDI); mức đóng góp của TFP giai đoạn 1996–2014 và so sánh với khu vực.
- Thực trạng chất lượng tăng trưởng vi mô: Phân tích biến động thu nhập bình quân đầu người 1 tháng, khoảng cách phân hóa thu nhập giữa thành thị và nông thôn, cũng như giữa nhóm thu nhập thấp nhất với nhóm cao nhất qua các kỳ điều tra VHLSS.
- Thực trạng phát triển vốn con người: Đánh giá các chỉ tiêu tỷ lệ người lớn biết chữ (giai đoạn 1989–2009), tỷ lệ nhập học THPT (2000–2011), tỷ lệ nhập học đúng tuổi (2009), số năm đi học trung bình của người trưởng thành, cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật và nghề nghiệp, số lượng bằng phát minh sáng chế năm 2011 so với Đông Nam Á; thống kê chi tiêu giáo dục bình quân nhân khẩu theo nhóm thu nhập và khu vực địa lý.
- Kết quả ước lượng định lượng:
- Mô hình vĩ mô (Bảng 3.13, Bảng 3.14): Ước lượng tác động của các biến số giáo dục (tỷ lệ biết chữ, số năm đi học trung bình, tỷ lệ nhập học THPT) đến năng suất lao động giai đoạn 1990–2013.
- Mô hình vi mô (Bảng 3.15, Bảng 3.16): Hồi quy tác động của chi tiêu giáo dục và trình độ học vấn đến mức thu nhập trung bình của cá nhân và hộ gia đình từ dữ liệu VHLSS.
- Đánh giá tổng hợp: Xác định những mặt tích cực, các hạn chế còn tồn tại của vốn con người trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế và phân tích các nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp.
Chương 4: Đề xuất giải pháp phát triển vốn con người nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025
Chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp trên cơ sở phân tích thực trạng:
- Đánh giá bối cảnh hội nhập quốc tế (AEC, TPP, cam kết quốc tế) và các yêu cầu đặt ra cho phát triển vốn con người.
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) đối với vốn con người Việt Nam.
- Đề xuất quan điểm, mục tiêu và phương hướng phát triển vốn con người đến năm 2025.
- Xác lập hệ thống giải pháp ở hai cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô (quốc gia): Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo, tái cơ cấu mạng lưới giáo dục đại học và dạy nghề gắn với nhu cầu thị trường, tăng cường đầu tư R&D và thúc đẩy sáng chế công nghệ.
- Cấp độ vi mô (hộ gia đình, cá nhân): Tạo điều kiện tài chính cho hộ nghèo tiếp cận giáo dục, khuyến khích đầu tư chi tiêu cho học tập suốt đời, cải thiện chế độ đãi ngộ lao động.
- Xác định điều kiện đảm bảo thực thi từ phía Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và hoàn thiện khung lý thuyết phân tích vai trò của vốn con người đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế thông qua việc kết hợp đồng thời hai cách tiếp cận: vĩ mô (tiếp cận giáo dục gắn với hàm sản xuất tân cổ điển) và vi mô (tiếp cận chi phí gắn với hàm thu nhập cá nhân Mincer).
- Bổ sung hai đặc tính lý luận của vốn con người: độ trễ thời gian lớn của các khoản đầu tư giáo dục và khả năng không chịu quy luật lợi suất giảm dần khi được đưa vào khai thác sử dụng.
- Làm rõ các tiêu chí đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế theo nghĩa hẹp tập trung vào hiệu quả sử dụng đầu vào (năng suất lao động, ICOR, TFP) ở cấp độ vĩ mô và thu nhập cá nhân/hộ gia đình ở cấp độ vi mô.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng vốn con người và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000–2014, chỉ rõ những nút thắt về năng suất lao động thấp, hệ số ICOR cao và tỷ trọng đóng góp khiêm tốn của TFP.
- Kiểm định định lượng thành công tác động của vốn con người ở cấp độ quốc gia (vĩ mô) và cấp độ hộ gia đình/cá nhân (vi mô) dựa trên chuỗi số liệu kinh tế vĩ mô và dữ liệu điều tra mức sống dân cư VHLSS.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và điều kiện thực thi có phân định cấp độ (quốc gia và hộ gia đình) phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế Việt Nam định hướng đến năm 2025.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi nội dung: Luận án tập trung chủ yếu vào khía cạnh giáo dục và kỹ năng tích lũy của vốn con người, chưa tích hợp đầy đủ các yếu tố sức khỏe, thể lực, dinh dưỡng và môi trường văn hóa - xã hội vào mô hình định lượng.
- Hạn chế về dữ liệu: Các phân tích định lượng vi mô phụ thuộc vào chu kỳ và cấu trúc bảng hỏi của các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS), một số chỉ tiêu quốc tế về kỹ năng chuyên sâu chưa có chuỗi số liệu liên tục cho Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu vốn con người đa chiều (kết hợp giáo dục và sức khỏe); lượng hóa sâu hơn tác động lan tỏa của vốn xã hội và chất lượng thể chế đến hiệu quả sử dụng vốn con người trong giai đoạn hội nhập sâu rộng.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp phân tích vĩ mô và vi mô, phương pháp xây dựng chỉ tiêu số năm đi học trung bình của Psacharopoulos, cách ứng dụng hàm sản xuất Mankiw - Romer - Weil và hàm Mincer trong nghiên cứu kinh tế lượng.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Tài liệu tham khảo cho các học phần Kinh tế phát triển, Kinh tế lao động, Kinh tế học giáo dục và Quản lý kinh tế.
- Đối với các cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp căn cứ thực tế cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương trong việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án trích dẫn ba kiểu tăng trưởng kinh tế nào theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới?
Theo luận án trích dẫn từ nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, có 3 kiểu tăng trưởng:
- Kiểu 1 (Tăng trưởng không bền vững): Tăng trưởng nhanh qua một số giai đoạn nhưng tỷ lệ giảm dần, cuối cùng rơi vào trì trệ.
- Kiểu 2 (Tăng trưởng méo mó): Dựa vào khai thác tài nguyên tự nhiên, chú trọng trợ cấp vốn hiện vật và ít đầu tư vào vốn con người.
- Kiểu 3 (Tăng trưởng bền vững): Tích lũy cân bằng các nguồn tài sản, có sự hỗ trợ của nhà nước phát triển giáo dục cơ sở, y tế công và bảo vệ tài nguyên; chú trọng đầu tư vốn con người để tạo tiến bộ công nghệ và tăng trưởng TFP.
2. Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn trước năm 2015 được tác giả nêu ra qua những chỉ số nào?
Văn bản chỉ rõ 4 thực trạng:
- Năng suất lao động rất thấp, chỉ bằng 1/15 Singapore theo báo cáo ILO năm 2014.
- Hiệu quả sử dụng vốn thấp, hệ số ICOR cao gần gấp đôi nhiều nước trong khu vực.
- Đóng góp của TFP vào GDP giai đoạn 2011–2014 dưới 25,82%, thấp hơn mức trên 40% của Thái Lan, Indonesia và Philippines.
- Ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội và tham nhũng còn phức tạp.
3. Tác giả luận án bổ sung những đặc điểm nào về vốn con người so với nghiên cứu của Laroche và cộng sự (1999)?
Bên cạnh 5 đặc trưng của Laroche và cộng sự (1999), tác giả bổ sung 2 đặc điểm:
- Đầu tư tích lũy vốn con người có độ trễ thời gian lớn, diễn ra trong thời gian dài mới thu được kết quả.
- Vốn con người không chịu sự chi phối của quy luật lợi suất giảm dần; khi được sử dụng càng nhiều thì giá trị và khả năng tạo thu nhập càng tăng lên.
4. Hai mô hình kinh tế lượng chính được sử dụng trong luận án ở cấp độ vĩ mô và vi mô là gì?
- Cấp độ vĩ mô: Hàm sản xuất tân cổ điển mở rộng của Mankiw, Romer và Weil (1992): $Y = K^\alpha (A H)^{1-\alpha}$.
- Cấp độ vi mô: Phương trình thu nhập của Mincer (1958): $\ln y = \ln y_0 + rS + \beta_1 X - \beta_2 X^2$.
5. Những khoảng trống nghiên cứu cụ thể nào tại Việt Nam được luận án xác định để giải quyết?
Luận án chỉ ra 5 khoảng trống: (1) Thiếu đánh giá hệ thống về vốn con người trước khi phân tích tác động; (2) Chỉ tiêu đo lường vốn con người chưa toàn diện; (3) Nghiên cứu định lượng tại Việt Nam chủ yếu ở cấp tỉnh/thành phố, thiếu cấp quốc gia; (4) Thiếu sự kết hợp đồng thời giữa tiếp cận vĩ mô và vi mô, dữ liệu VHLSS vi mô bị gián đoạn từ sau năm 2004; (5) Chưa có hệ thống chính sách cụ thể, đồng bộ về phát triển vốn con người để nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thùy Linh là công trình nghiên cứu hệ thống về vai trò của vốn con người đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000–2014. Bằng việc kết hợp đồng thời phương pháp phân tích vĩ mô (tiếp cận giáo dục và năng suất) và vi mô (tiếp cận chi phí và thu nhập hộ gia đình), luận án đã kiểm định thực chứng mối quan hệ giữa tích lũy nguồn nhân lực và hiệu quả tăng trưởng kinh tế. Các kết quả định lượng và phân tích thực trạng cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp phát triển vốn con người và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam định hướng đến năm 2025.