Vai Trò Giám Sát Của Quốc Hội Trong Ký Kết Và Thực Hiện Điều Ước Quốc Tế Tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vai trò giám sát của quốc hội trong ký kết và thực hiện điều ước quốc tế ở việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2017

121
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ

1.1. Vị trí và các quyền giám sát của Quốc hội

1.2. Phân biệt hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm sát, thanh tra

1.3. Về vị trí của Quốc hội

1.4. Về các quyền giám sát của Quốc hội

1.5. Thẩm quyền giám sát của Quốc hội trong các hoạt động liên quan đến điều ƣớc quốc tế

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC THI VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM

2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về vai trò giám sát của Quốc hội trong hoạt động điều ƣớc quốc tế tại Việt Nam

2.2. Lịch sử hình thành và phát triển chế định giám sát của Quốc hội trong việc ký kết và thực hiện điều ƣớc quốc tế

2.3. Pháp luật hiện hành quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc ký kết và thực hiện điều ƣớc quốc tế

2.4. Thực tiễn thi hành các quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc ký kết và thực hiện điều ƣớc quốc tế

2.5. Đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thi hành

2.6. Kinh nghiệm của một số quốc gia về hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc ký kết và thực hiện điều ƣớc quốc tế

2.7. Hoạt động giám sát của Quốc hội ở một số quốc gia trên thế giới

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM VỀ ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ

3.1. Yêu cầu khách quan nhằm hoàn thiện các quy định về giám sát của Quốc hội với việc ký kết và thực hiện điều ƣớc quốc tế

3.2. Phƣơng hƣớng cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc ký kết và thực hiện điều ƣớc quốc tế

3.3. Các giải pháp hoàn thiện các quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc ký kết và thực hiện điều ƣớc quốc tế

3.3.1. Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

3.3.2. Giải pháp tăng cƣờng tổ chức thực hiện

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Vai Trò Giám Sát Quốc Hội Về Điều Ước Quốc Tế

Hoạt động giám sát trong lĩnh vực điều ước quốc tế được hiểu là việc theo dõi, xem xét tính đúng đắn của việc thực hiện các quy định. Nó bao gồm việc kiểm tra xem các hoạt động có tuân thủ đúng theo những điều đã được quy định hay không. Theo từ điển tiếng Việt, giám sát còn được hiểu là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại việc nhất định. Từ điển tiếng Anh định nghĩa giám sát là sự bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động được thực hiện đúng theo quy định. Như vậy, khái niệm giám sát có nội hàm gồm hai yếu tố: hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra của chủ thể giám sát và phương thức bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động được thực hiện đúng theo quy định. Các nhà khoa học pháp lý cho rằng hoạt động giám sát của Quốc hội không chỉ bao gồm việc xác định trách nhiệm chính trị của đối tượng chịu sự giám sát mà còn bao gồm cả quyền xử lý các hành vi vi phạm phát hiện trong quá trình giám sát.

1.1. Bản Chất Hoạt Động Giám Sát Điều Ước Quốc Tế

Hoạt động giám sát dùng để chỉ việc theo dõi, xem xét, kiểm tra đối tượng chịu sự giám sát, qua đó đưa ra nhận định về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hay sai so với các quy định hiện hành. Để tiến hành hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra thì giám sát luôn phải gắn với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Để có thể tiến hành được hoạt động giám sát thì chủ thể hoạt động giám sát phải có những quyền hạn, nghĩa vụ nhất định đối với đối tượng chịu sự giám sát. Để có thể đưa ra được nhận định về hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát thì việc giám sát phải được tiến hành dựa trên những quy định do chủ thể có quyền giám sát đặt ra.

1.2. Mục Đích Của Giám Sát Điều Ước Quốc Tế

Giám sát luôn là hoạt động có mục đích. Mục đích của hoạt động giám sát là đưa ra những nhận định của chủ thể có quyền giám sát đối với hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát, qua đó có biện pháp xử lý đối với những việc làm trái quy định của đối tượng chịu sự giám sát, bảo đảm cho những quy định của chủ thể có quyền giám sát được chấp hành. Theo Hiến pháp năm 2013, Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhà nước không chỉ ban hành Hiến pháp, pháp luật để quản lý xã hội mà còn thường xuyên tiến hành hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật.

II. Phân Biệt Giám Sát Quốc Hội Với Kiểm Tra Kiểm Sát Thanh Tra

Hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm sát, thanh tra là những hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước. Đây là những hoạt động mang tính tất yếu khách quan của tất cả các Nhà nước ở mọi thời đại lịch sử. Trong bất kỳ một chế độ nhà nước nào, giai cấp thống trị luôn chỉ là một bộ phận của khối cộng đồng dân cư. Giai cấp thống trị đặt ra pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với ý chí của giai cấp mình. Song có một thực tế là không phải bao giờ pháp luật cũng được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất. Vì vậy, để bảo đảm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, giai cấp thống trị phải thường xuyên tiến hành các hoạt động giám sát, kiểm tra. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

2.1. Vai Trò Của Quốc Hội Trong Giám Sát

Ở nước ta, quyền lực nhà nước là tập trung, nhưng đồng thời có sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực này. Theo Hiến pháp năm 2013, Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhà nước không chỉ ban hành Hiến pháp, pháp luật để quản lý xã hội mà còn thường xuyên tiến hành hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật. Giám sát, kiểm tra là một khâu không thể thiếu trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý không chỉ của Nhà nước ta mà của tất cả các quốc gia trên thế giới.

2.2. Các Hình Thức Giám Sát Của Cơ Quan Nhà Nước

Theo Hiến pháp năm 2013, để bảo đảm thực hiện một cách có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, có thể nêu ra một số hình thức giám sát, kiểm tra của các cơ quan nhà nước như: giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; kiểm tra, thanh tra của Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ và cơ quan thanh tra Chính phủ; kiểm tra, kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; kiểm tra của Toà án nhân dân tối cao (thông qua hoạt động giám đốc thẩm). Ngoài ra, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước còn chịu sự kiểm tra, giám sát của công dân, các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng đối với hoạt động của mình (thông qua hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

2.3. So Sánh Thẩm Quyền Giám Sát Của Quốc Hội

Có thể sơ bộ nêu một số điểm khác nhau giữa thẩm quyền giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội với chức năng giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà nước khác như sau: Thanh tra, kiểm tra của cơ quan thanh tra là một chức năng quan trọng của cơ quan quản lý nhà nước, nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động...

III. Thẩm Quyền Giám Sát Quốc Hội Trong Ký Kết Điều Ước Quốc Tế

Thẩm quyền giám sát của Quốc hội trong việc ký kết điều ước quốc tế là một phần quan trọng trong việc đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả của quá trình hội nhập quốc tế. Quốc hội có quyền xem xét, phê chuẩn hoặc bác bỏ các điều ước quốc tế mà Chính phủ đã ký kết, đảm bảo rằng các điều ước này phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và lợi ích quốc gia. Việc giám sát này giúp ngăn chặn các điều ước bất lợi hoặc không phù hợp với chính sách phát triển của đất nước.

3.1. Cơ Sở Pháp Lý Của Thẩm Quyền Giám Sát

Cơ sở pháp lý cho thẩm quyền giám sát của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp và Luật Điều ước quốc tế. Hiến pháp quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, bao gồm cả việc phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế. Luật Điều ước quốc tế cụ thể hóa quy trình, thủ tục ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, đồng thời quy định rõ vai trò của Quốc hội trong quá trình này.

3.2. Nội Dung Giám Sát Của Quốc Hội

Nội dung giám sát của Quốc hội bao gồm việc xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của điều ước quốc tế, đánh giá tác động kinh tế, xã hội, môi trường và an ninh quốc phòng của điều ước. Quốc hội cũng giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế. Ngoài ra, Quốc hội có quyền yêu cầu Chính phủ báo cáo về tình hình thực hiện các điều ước quốc tế và đưa ra các kiến nghị, yêu cầu để đảm bảo việc thực hiện hiệu quả.

IV. Thực Tiễn Giám Sát Quốc Hội Về Điều Ước Quốc Tế Tại Việt Nam

Thực tiễn giám sát của Quốc hội đối với việc ký kếtthực hiện điều ước quốc tế tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Quốc hội ngày càng chủ động hơn trong việc xem xét, phê chuẩn các điều ước quốc tế, đồng thời tăng cường giám sát việc thực hiện các điều ước này. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như quy trình giám sát chưa thực sự hiệu quả, thiếu cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan và năng lực của đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực này còn hạn chế.

4.1. Đánh Giá Hiệu Quả Giám Sát Hiện Nay

Mặc dù đã có những tiến bộ, hiệu quả giám sát của Quốc hội vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc đánh giá tác động của điều ước quốc tế trước khi phê chuẩn còn chưa được thực hiện đầy đủ. Cơ chế giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng các cam kết quốc tế. Cần có những giải pháp để nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực này.

4.2. Các Hạn Chế Trong Giám Sát Điều Ước Quốc Tế

Một trong những hạn chế lớn nhất là thiếu thông tin và dữ liệu đầy đủ, chính xác về các điều ước quốc tế và tình hình thực hiện chúng. Quy trình giám sát còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào thực chất của vấn đề. Sự phối hợp giữa các ủy ban của Quốc hội và các cơ quan chính phủ còn chưa chặt chẽ. Năng lực của đại biểu Quốc hội trong việc phân tích, đánh giá các điều ước quốc tế còn cần được nâng cao.

V. Giải Pháp Nâng Cao Vai Trò Giám Sát Của Quốc Hội Về ĐƯQT

Để nâng cao vai trò giám sát của Quốc hội trong việc ký kếtthực hiện điều ước quốc tế, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các giải pháp này bao gồm hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường năng lực cho đại biểu Quốc hội, cải thiện quy trình giám sát và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Mục tiêu là đảm bảo rằng các điều ước quốc tế được ký kết và thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp với lợi ích quốc gia và tuân thủ pháp luật.

5.1. Hoàn Thiện Pháp Luật Về Giám Sát Điều Ước

Cần rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định của pháp luật về giám sát điều ước quốc tế, đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng và khả thi. Cần quy định cụ thể về quy trình đánh giá tác động của điều ước quốc tế, cơ chế giám sát việc thực hiện điều ước và trách nhiệm giải trình của các cơ quan liên quan. Đồng thời, cần tăng cường chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế.

5.2. Tăng Cường Năng Lực Cho Đại Biểu Quốc Hội

Cần tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng cho đại biểu Quốc hội về lĩnh vực điều ước quốc tế. Các khóa đào tạo này cần tập trung vào các vấn đề như phân tích, đánh giá điều ước quốc tế, kỹ năng giám sát và kỹ năng chất vấn. Đồng thời, cần tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội tiếp cận thông tin và dữ liệu đầy đủ, chính xác về các điều ước quốc tế.

VI. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế Để Nâng Cao Hiệu Quả Giám Sát

Việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giám sát điều ước quốc tế là một yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động này. Học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống giám sát phát triển, tham gia vào các diễn đàn quốc tế về điều ước quốc tế và tăng cường trao đổi thông tin với các tổ chức quốc tế sẽ giúp Quốc hội Việt Nam nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát.

6.1. Học Hỏi Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Giám Sát

Nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống giám sát điều ước quốc tế hiệu quả, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế phát triển và hệ thống pháp luật tiên tiến. Tìm hiểu về quy trình giám sát, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan và các công cụ giám sát được sử dụng. Áp dụng những kinh nghiệm phù hợp với điều kiện của Việt Nam để nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội.

6.2. Tham Gia Diễn Đàn Quốc Tế Về Điều Ước Quốc Tế

Tham gia tích cực vào các diễn đàn quốc tế về điều ước quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi từ các quốc gia khác. Tham gia vào quá trình xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế về giám sát điều ước quốc tế. Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế trong việc cung cấp thông tin và hỗ trợ kỹ thuật cho hoạt động giám sát của Quốc hội.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ vai trò giám sát của quốc hội trong ký kết và thực hiện điều ước quốc tế ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò giám sát của Quốc hội trong việc ký kết và thực hiện điều ƣớc quốc tế; Chương 2: Thực tiễn vai trò giám sát của Quốc hội trong việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ƣớc quốc tế tại Việt Nam; Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động giám sát của Quốc hội trong việc ký kết và thực hiện điều ƣớc quốc tế ở Việt Nam. 6 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ 1. Vị trí và các quyền giám sát của Quốc hội Giám sát trong từ điển Tiếng Việt đƣợc hiểu là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” hoặc là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”. Cũng trong Từ điển tiếng Việt, “giám sát” còn đƣợc hiểu “là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại việc nhất định” [41].

Ngoài ra, theo từ điển Tiếng Anh, “giám sát” đƣợc hiểu là “sự bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động được thực hiện đúng theo quy định” [33]. Nhƣ vậy, khái niệm “giám sát” có nội hàm gồm hai yếu tố sau: - Hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra của chủ thể giám sát; - Phƣơng thức bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động đƣợc thực hiện đúng theo quy định. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu về hoạt động giám sát của Quốc hội thì các nhà khoa học pháp lý cho rằng hoạt động giám sát không chỉ bao gồm một nghĩa là sự xác định trách nhiệm chính trị của đối tƣợng chịu sự giám sát hoặc còn bao gồm cả quyền xử lý các hành vi vi phạm phát hiện trong quá trình giám sát. Từ nội dung khái niệm “giám sát” nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét nhƣ sau: Thứ nhất, giám sát dùng để chỉ hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra đối tƣợng chịu sự giám sát, qua đó đƣa ra nhận định về một việc làm nào đó đã đƣợc thực hiện đúng hay sai so với các quy định hiện hành; Thứ hai, để tiến hành hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra thì giám sát luôn phải gắn với một hoặc một số đối tƣợng cụ thể; Thứ ba, để có thể tiến hành đƣợc hoạt động giám sát thì chủ thể hoạt động giám sát phải có những quyền hạn, nghĩa vụ nhất định đối với đối tƣợng chịu sự giám sát; Thứ tư, để có thể đƣa ra đƣợc nhận định về hoạt động của đối tƣợng chịu sự 7 z giám sát thì việc giám sát phải đƣợc tiến hành dựa trên những quy định do chủ thể có quyền giám sát đặt ra; Thứ năm, giám sát luôn là hoạt động có mục đích.

Mục đích của hoạt động giám sát là đƣa ra những nhận định của chủ thể có quyền giám sát đối với hoạt động của đối tƣợng chịu sự giám sát, qua đó có biện pháp xử lý đối với những việc làm trái quy định của đối tƣợng chịu sự giám sát, bảo đảm cho những quy định của chủ thể có quyền giám sát đƣợc chấp hành. Phân biệt hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm sát, thanh tra Hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm sát, thanh tra là những hoạt động thực hiện quyền lực nhà nƣớc. Đây là những hoạt động mang tính tất yếu khách quan của tất cả các Nhà nƣớc ở mọi thời đại lịch sử. Trong bất kỳ một chế độ nhà nƣớc nào, giai cấp thống trị luôn chỉ là một bộ phận của khối cộng đồng dân cƣ (hoặc là đa số hoặc không phải là đa số).

Giai cấp thống trị đặt ra pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với ý chí của giai cấp mình. Song có một thực tế là không phải bao giờ pháp luật cũng đƣợc chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất. Vì vậy, để bảo đảm cho pháp luật đƣợc chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, giai cấp thống trị phải thƣờng xuyên tiến hành các hoạt động giám sát, kiểm tra. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất.

Ở nƣớc ta, quyền lực nhà nƣớc là tập trung, nhƣng đồng thời có sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực này. Theo Hiến pháp năm 2013, Nhà nƣớc đƣợc tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ [26, Điều 8]. Nhà nƣớc không chỉ ban hành Hiến pháp, pháp luật để quản lý xã hội mà còn thƣờng xuyên tiến hành hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật. Giám sát, kiểm tra là một khâu không thể thiếu trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý không chỉ của Nhà nƣớc ta mà của tất cả các quốc gia trên thế giới.

Giám sát, kiểm tra không phải là chức năng của riêng cơ quan nhà nƣớc nào mà bất kỳ cơ quan nào trong quá trình hoạt động cũng phải tiến hành giám sát, kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực mà mình quản lý. 8 z Theo Hiến pháp năm 2013, để bảo đảm thực hiện một cách có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nƣớc, có thể nêu ra một số hình thức giám sát, kiểm tra của các cơ quan nhà nƣớc nhƣ: giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; kiểm tra, thanh tra của Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ và cơ quan thanh tra Chính phủ; kiểm tra, kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; kiểm tra của Toà án nhân dân tối cao (thông qua hoạt động giám đốc thẩm). Ngoài ra, cơ quan nhà nƣớc, cán bộ, công chức, viên chức nhà nƣớc còn chịu sự kiểm tra, giám sát của công dân, các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng đối với hoạt động của mình (thông qua hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Có thể sơ bộ nêu một số điểm khác nhau giữa thẩm quyền giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội với chức năng giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà nƣớc khác nhƣ sau: - Thanh tra, kiểm tra của cơ quan thanh tra là một chức năng quan trọng của cơ quan quản lý nhà nƣớc, nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nƣớc; bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân [25, Điều 2].

Nhiệm vụ và quyền hạn của Thanh tra nhà nƣớc đƣợc quy định tại các Điều 15, 18, 21, 24 và 27 của Luật thanh tra năm 2010. Về mặt chủ thể: Theo quy định tại Điều 96 của Hiến pháp năm 2013, quyền thanh tra thuộc về Chính phủ. Đây là hoạt động tự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nƣớc đối với việc thi hành Hiến pháp, pháp luật trong quá trình điều hành của Chính phủ. Về mặt đối tượng: Theo quy định của Luật thanh tra năm 2010, đối tƣợng của công tác thanh tra là việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan (đối với thanh tra nhà nƣớc) và việc thực hiện chính sách, pháp luật, 9 z việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phƣờng, thị trấn, cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nƣớc (đối với thanh tra nhân dân).

Về phương thức thực hiện và hậu quả pháp lý: Phƣơng thức thực hiện đƣợc tiến hành theo các quy định của Luật thanh tra. Kết quả của công tác thanh tra là chỉ xử lý các vi phạm pháp luật chƣa đến mức xử lý hình sự trong hoạt động của cơ quan nhà nƣớc. - Quyền giám đốc xét xử của Toà án nhân dân tối cao Về mặt chủ thể: Theo quy định tại Điều 104 của Hiến pháp năm 2013: Với vị trí là cơ quan xét xử cao nhất của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc việc xét xử của các Toà án khác. Nhƣ vậy, Toà án nhân dân tối cao là chủ thể của hoạt động xem xét, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động xét xử của Toà án.

Về đối tượng chịu sự giám đốc: hoạt động xét xử của các Toà án khác, trừ trƣờng hợp do luật định Về phương thức thực hiện: Toà án nhân dân tối cao thực hiện quyền giám đốc theo các quy định của pháp luật về tố tụng. Về hậu qủa pháp lý: Khi phát hiện có sai phạm pháp luật trong hoạt động xét xử, Toà án nhân dân tối cao có quyền sửa đổi hoặc huỷ bỏ bản án của Toà án nhân dân cấp dƣới. - Kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Về mặt chủ thể: Theo quy định tại Điều 107 của Hiến pháp năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kiểm sát các hoạt động tƣ pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật đƣợc thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất. Về đối tượng chịu sự giám sát: đối tƣợng chịu sự giám sát của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là hoạt động của các cơ quan tƣ pháp bao gồm các cơ quan: điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ quan thực hiện các hoạt động bổ trợ tƣ pháp.

Về phương thức thực hiện: Viện kiểm sát nhân tối cao khi tiến hành hoạt động kiểm sát hoạt động của các cơ quan tƣ pháp phải tuân thủ các quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các quy định của pháp luật tố tụng có liên quan. 10 z Về hậu quả pháp lý: Khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong hoạt động của các đối tƣợng nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền ra kháng nghị đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có vi phạm hoặc khởi tố về hình sự (nếu có dấu hiệu tội phạm). Như vậy, giám sát, kiểm sát, kiểm tra, thanh tra xét đến cùng là những hoạt động kiểm soát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Vai Trò Giám Sát Của Quốc Hội Trong Ký Kết Và Thực Hiện Điều Ước Quốc Tế Tại Việt Nam" khám phá vai trò quan trọng của Quốc hội trong việc giám sát các hoạt động ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh rằng Quốc hội không chỉ là cơ quan lập pháp mà còn đóng vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong các cam kết quốc tế của đất nước. Qua đó, người đọc sẽ hiểu rõ hơn về quy trình giám sát và những lợi ích mà nó mang lại cho sự phát triển bền vững của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.

Để mở rộng thêm kiến thức về chính sách đối ngoại và văn hóa của Việt Nam, bạn có thể tham khảo tài liệu Chính sách ngoại giao văn hoá của Việt Nam 2009 - 2020. Tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về các chiến lược và chính sách mà Việt Nam đã thực hiện trong lĩnh vực ngoại giao văn hóa, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa các điều ước quốc tế và chính sách đối ngoại của đất nước.