phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm 2 chơng, 5 tiết. LY LUAN CHUNG VE TG] DUY VA GIAO DUC KY NANG MEM 1. Khái niệm “Tơi duy” và “Giáo dục kỹ năng mềm” 1. Khái niệm “T duy” T duy là đối tợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau nh tâm lý học, triết học, ngôn ngữ học, giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, nghệ thuật học, v.
Nhng những vấn đề chung nhất về t duy luôn là đối tợng nghiên cứu của triết hoc. Tuy theo cách tiếp cận khác nhau mà có thê có các cách hiểu khác nhau về t duy. Nhà tâm lý học Liên Xô nỗi tiếng A. Leonchiev ngay từ năm 1934 đã nhấn mạnh “T duy là mắt xích trung tâm của hoạt động sáng tạo” và chỉ rõ t duy đóng một vai trò cực kì quan trọng, cần thiết, trọng tâm trong sáng tạo.
Quả thực nh vậy, nếu không có t duy thì không có sáng tạo, t duy đóng vai trò cốt yếu trong hoạt động sáng tạo. T duy đợc quan niệm là hoạt động nhận thức, phản ánh ở trình độ cao của chủ thể, có một số định nghĩa sau biểu hiện điều này: Tác giả Phạm Thành Nghị định nghĩa: “7 duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vat, hién tong trong hiện thực khách quan ”{[24. Ở cuốn Phơng pháp 3. Tri thức về trí thức.
Nhân học về tri thức, Edgar Mơrin — ngời đầu tiên sử dụng thuật ngữ T duy phức hợp — nhìn nhận t duy đới góc độ cá nhân và xã hội, đã coi t duy là cách thức tổ chức cao nhất của tỉnh thần trong việc hình thành t tởng về thế giới: “T duy là phơng thức cao nhất của những hoạt động tổ chức của tinh thần, mà bằng và qua ngôn ngữ, nó thiết lập quan niệm về thực tại và về cách nhìn thế giới của nó” [22,tr. Quan niệm 7 duy không chỉ là hoạt động phản ánh, nhận thức mà còn là hoạt động giải quyết vẫn đề, thực sự đã là một bóc tiến trong quan niệm về “t duy”. Một số định nghĩa hợp thành quan niệm này nh sau: Từ điển Triết học viết: “T duy là quá trình tích cực qua đó, thế giới khách quan đợc phản ánh trong các khái niệm, phán đoán, lý thuyết,. và nó 10 gắn với việc giải quyết các vấn đề, là sản phẩm cao nhất của dạng vật chất đợc tổ chức một cách đặc biệt, đó là bộ não”[dẫn theo 10.
Trong định nghĩa này, t duy không chỉ là sự phản ánh thế giới mà còn gắn với việc giải quyết van dé. Lektorski, “T duy là quá trình giải quyết các vấn đề, đó là quá trình chuyển dịch từ các điều kiện tạo lập vấn đề đến việc thu nhận các kết quả giải quyết vấn đề đặt ra. T duy định hớng hoạt động kiến thức tích cực nhằm kiến tạo lại những dữ liệu ban đầu bằng các thao tác phân tích, tổng hợp, bố sung” [dẫn theo 10. Nh vậy, định nghĩa nêu rất rõ t duy là hoạt động giải quyết vấn đề đặt ra, hơn nữa, t duy còn định hớng trong hoạt động nhận thức.
Trong cuốn Đặc điển t duy và lối sống của con ngời Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Nguyễn Ngọc Hà chủ biên, 2 11), t duy đợc tiếp cận là một phức hợp các đặc trng cơ bản. “T duy thuộc phạm trò tâm lý, hay là chức năng tâm lý của cơ thể con ngời; - T duy thuộc cấp độ ý thức, hữu thức của hoạt động tâm lý (đó là tâm trí, trí năng, lý trí, trí tuệ); - T duy là năng lực nhận thức lý tính với các hình thức cơ bản của nó là: Khái niệm, phán đoán, nhận định, lập luận; - T duy là quá trình phản ánh tinh thần, hoạt động trí óc bao gồm các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng tri thức và t tong” [10,tr. Chẳng hạn, các tác giả Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải quan niệm: t duy là giai đoạn cao, trình độ cao của quá trình nhận thức thế giới của con ngời, là sự phản ánh có tính chất gián tiếp, trừu tợng và khái quát sự vật, hiện tợng bằng các khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận, v. và nhờ đó mà phản ánh những mặt, những mối liên hệ chung, bản chất, có tính tất yếu của các khách thể nhận thức [23, tr.
Trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng và kế thừa các định nghĩa nêu trên, t duy trong Khóa luận này đợc hiểu là một quá trình tinh thần gồm những thao tác, cách thức liên kết, biến đổi đữ kiện tinh thần của não bộ (có sự anh hong trực tiếp ít nhiều của các yếu tố tâm lý, sự phối hợp của hoạt động cơ 11 thể trong một số trờng hợp) nhằm hình thành y tong, loi giai cua van dé dat ra. Theo quan điểm duy vật biện chứng, /ứ nhất, t duy là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào não bộ con ngời trên cơ sở thực tiễn. Khi phê phán quan điểm của Hêghen về t duy: “Đối với Hêghen, quá trình t duy - mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập đới cái tên gọi ý niệm — chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực” [15; 35], C.Mác cho rằng: “Y niệm chăng qua chỉ là vật chất đợc đi chuyền vào trong đầu óc con ngời và đợc cải biến đi ở trong đó” [15; 35]. Thuật ngữ “ý niệm” C.Mác dùng ở đây chính là nói về t duy.
Quan điểm này cho thấy, t duy là sản phâm của cơ quan vật chất sống có tô chức cao là bộ não ngời và mọi nội dung phản ánh của t duy suy đến cùng đều có nguồn gốc từ hiện thực khách quan và dựa trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động t duy phụ thuộc vào hoạt động và tô chức của bộ não ngời. Não động vật không t duy dò cho có đợc đặt trong trình độ văn minh phát triển cỡ nào chăng nữa. Chỉ có não ngời với t cách là sản phẩm tiến hóa cao nhất của tự nhiên với hàng tỷ nơron thần kinh, hàng tỷ các mối dây liên kết giữa chúng mới có thể t duy.
Tuy nhiên, t duy không đồng nhất với não, t duy không thê thiếu bộ não ngời nhng trong bộ não đợc hiểu một cách sinh học thuần túy không thể có t duy. Bộ não ngời — cơ quan vật chất của t duy, chỉ là một trong những yếu tố cơ sở cho sự sinh thành của t duy. Thế giới khách quan là đối tợng của t duy, quyết định t duy của con ngời; t duy chang qua chỉ là sự phản ánh hiện thực, sáng tạo lại hiện thực dới dạng các hình ảnh tỉnh thần. Do vậy, đối tợng của t duy không chỉ là giới tự nhiên nh nó vốn có mà còn là thế giới đã đợc cải biến bởi con ngời.
Tuy nhiên, sự phản ánh đó luôn dựa trên cơ sở thực tiễn. Hoạt động thực tiễn — hoạt động “vật thể - cảm tính” mang tính lịch sử - cụ thể, nơi điễn ra sự tơng tác giữa con ngời với tự nhiên, giữa con ngời với con ngời, hoạt động hớng đến cải tạo thế giới khách quan chính là nguồn gốc hình thành, phát triển của t duy. Thông qua quá trình tác động, cải biến thế giới khách quan, con ngời phát 12 hiện, nắm bắt bản chất, tính lôgic của sự vật, quá trình tơng tác, biến đối của chúng. Sự phản ánh của t duy không thể tách rời hoạt động sống của con ngời xã hội, những nhu cầu thực tiễn, những tơng tác giữa con ngời với con ngời, những kinh nghiệm lịch sử - xã hội đã đợc tích lũy.
Nh vậy, t duy là một hiện tợng gắn liền với con ngời không chỉ theo nghĩa con ngời với não bộ phát triển mà còn là con ngời trong các mối quan hệ xã hội, trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo nh nhiên, xã hội. Thứ hai, † duy phản ánh hiện thực khách quan một cách đặc thò. T duy là trình độ cao của quá trình nhận thức, nhờ khả năng trừu tợng hóa và khái quát hóa, sự phản ánh trong t duy không còn mang tính chất trực tiếp, bề ngoài mà đi sâu khái quát, nắm bắt bản chất, tính quy luật của đối tong va doc thể hiện dới hình thức ngôn ngữ. Thông qua quá trình phản ánh có tính khái quát, gián tiếp đó, các biểu tợng, hình tợng, khái niệm, phán đoán.
đợc hình thành và lu giữ trong t duy nh những hình ảnh tinh thần về hiện thực khách quan. Là sự phản ánh hiện thực khách quan nhng giữa t duy và hiện thực khách quan vừa có sự đồng nhất vừa khác biệt, tức là có sự phân biệt giữa đối tợng đợc phản ánh và sự phản ánh về đối tợng. Ngay cả khi t duy ở trình độ lý luận có khả năng phản ánh cái chung, cái bản chất, cái có tính quy luật của hiện thực thì t duy cũng không hoàn toàn đồng nhất với đối tợng phản ánh. Một mặt, do t duy là sự phản ánh có biến đối, cải biến nhờ khả năng trừu tợng hóa, khái quát hóa.
Mặt khác, cả t duy lẫn chủ thể của t duy đều không ngừng vận động, biến đổi và năng lực nhận thức của chủ thể còn chịu sự tác động của trình độ phát triển của thực tiễn xã hội. Vì vậy, bản chất của t duy là sự phản ánh các tính quy luật và bản chất của thế giới khách quan nhng “Đó không phải là sự phản ánh đơn giản, trực tiếp, hoàn chỉnh, mà là một quá trình cả một chuỗi những sự trừu tợng, sự cấu thành, sự hình thành ra các khái niệm, quy luật. Con ngời không thể nắm đợc = phản ánh = miêu tả toàn bộ giới tự nhiên một cách đầy đủ, “tính chỉnh thể trực tiếp của nó” con ngời chỉ có thể đi gần mãi đến đó, bằng cách tạo ra những trừu tợng, những khái niệm, những quy luật, một bức tranh khoa học về thế giới” [17; 192 - 193]. 13 Từ những phân tích trên có thể rút ra: t duy là quá trình phản ánh bản chất của hiện thực khách quan vào bộ não con ngời trên cơ sở thực tiễn tạo ra các tri thức, t tởng.
Các yếu tố cầu thành hoạt động t duy bao gồm: chủ thê t duy, đối tợng t duy, sản phâm của t duy và điều kiện của t duy.