Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Triết học của tác giả Vũ Thanh Hằng (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019) được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Anh Tuấn, thuộc khóa đào tạo QH-2015-X. Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh thế kỷ XXI và cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, khi quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đòi hỏi nguồn nhân lực không chỉ vững vàng về chuyên môn mà còn phải có khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường lao động biến đổi không ngừng.

Tác giả chỉ ra một nghịch lý thực tiễn: nhiều sinh viên tốt nghiệp có học lực giỏi hoặc xuất sắc nhưng gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm và hòa nhập môi trường công tác do thiếu hụt kỹ năng mềm. Đào tạo truyền thống tại các cơ sở giáo dục đại học thường tập trung vào chuyên môn (kỹ năng cứng) mà chưa chú trọng đúng mức đến kỹ năng mềm – yếu tố đóng vai trò là "điều kiện đủ" cho sự thành công của người học. Để việc tiếp thu và thực hành kỹ năng mềm đạt hiệu quả thực chất, việc phát huy vai trò của tư duy là tiền đề mang tính quyết định.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích làm rõ những nội dung lý luận chủ yếu về tư duy, giáo dục kỹ năng mềm và vai trò của tư duy đối với giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên; từ đó khảo sát thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao vai trò của tư duy trong công tác này.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua hai nội dung:

  1. Phân tích và làm rõ những nội dung chính liên quan đến vấn đề tư duy và giáo dục kỹ năng mềm.
  2. Trình bày thực trạng việc vận dụng tư duy trong giáo dục kỹ năng mềm và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của tư duy trong giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của tư duy logic trong việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các vấn đề lý luận cơ bản của tư duy, giáo dục kỹ năng mềm và khảo sát trường hợp điển hình tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu lý luận triết học kết hợp phân tích thực tiễn giáo dục đại học. Cơ sở lý luận của công trình dựa trên quan điểm triết học Mác - Lênin về tư duy và giáo dục. Tác giả đã kế thừa hệ thống quan điểm từ các tác phẩm kinh điển:

  • Luận cương về Phoiơbắc (C. Mác, 1845) và Hệ tư tưởng Đức (C. Mác và Ph. Ăngghen, 1845 - 1846).
  • Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (C. Mác và Ph. Ăngghen, 1848).
  • Bộ Tư bản (C. Mác và Ph. Ăngghen; 1867, 1884, 1894).
  • Biện chứng của tự nhiên (Ph. Ăngghen, 1886).
  • Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (V.I. Lênin, 1909) và Bút ký triết học (V.I. Lênin, 1915 - 1916).

Bên cạnh đó, đề tài tiếp thu các luận điểm lý luận hiện đại về nhận thức học và tâm lý học:

  • Tác phẩm Lôgic học biện chứng của nhà triết học Xô Viết E. Ilencov.
  • Các công trình Phương pháp 3: Tri thức về tri thức. Nhân học về tri thức và Phương pháp 4: Tư tưởng của Edgar Morin về tư duy phức hợp.
  • Luận điểm của nhà tâm lý học A. Leontiev (1934) xác định tư duy là mắt xích trung tâm của hoạt động sáng tạo.
  • Các định nghĩa và công trình nghiên cứu của V. A. Lektorsky, Phạm Thành Nghị, Nguyễn Ngọc Hà (2011), Lê Hữu Nghĩa và Phạm Duy Hải (2015), cùng quan điểm về kỹ năng mềm của Nguyễn Thị Mỹ Lộc.
  • Các công trình nghiên cứu chuyên biệt về kỹ năng mềm của Bùi Loan Thủy, Lê Thị Thảo (2010), Nguyễn Hồng Thanh (2012).

Về mặt phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp thống nhất lịch sử và logic.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp.
  • Phương pháp khái quát hóa và hệ thống hóa tài liệu lý luận và thực tiễn đào tạo.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm các văn kiện triết học kinh điển, tài liệu nghiên cứu tâm lý học, giáo dục học, cùng các số liệu, báo cáo thực tế về công tác đào tạo và hoạt động phong trào sinh viên tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về tư duy và giáo dục kỹ năng mềm

Chương 1 xây dựng khung khái niệm nền tảng, làm rõ bản chất triết học của tư duy, khái niệm kỹ năng mềm và các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục kỹ năng mềm.

Về khái niệm tư duy, tác giả tổng hợp các cách tiếp cận từ tâm lý học, nhận thức luận đến triết học duy vật biện chứng: tư duy là một quá trình tinh thần gồm những thao tác liên kết, biến đổi dữ kiện của não bộ nhằm hình thành ý tưởng và lời giải của vấn đề đặt ra. Hoạt động tư duy cấu thành từ 4 yếu tố: chủ thể tư duy, đối tượng tư duy, sản phẩm của tư duy (tri thức, tư tưởng) và điều kiện diễn ra tư duy (môi trường tự nhiên, văn hóa - xã hội, trong đó thực tiễn đóng vai trò quyết định). Các hình thức cơ bản của tư duy gồm khái niệm, phán đoán và suy luận.

Dựa vào bộ nguyên tắc và phương pháp giải quyết vấn đề, tác giả phân chia tư duy thành: tư duy biện chứng, tư duy siêu hình, tư duy hệ thống và tư duy logic; trong đó xác định ba loại hình cốt lõi cần thiết nhất cho sinh viên là tư duy phản biện, tư duy phê phán và tư duy sáng tạo.

Về kỹ năng mềm (Soft Skills), khóa luận xác định đây là hệ thống các kỹ năng cơ bản được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử nhằm phát huy tối đa hiệu quả công tác. Tác giả đối chiếu các đặc trưng giữa kỹ năng cứng và kỹ năng mềm:

Tiêu chí phân biệt Kỹ năng cứng (Hard Skills) Kỹ năng mềm (Soft Skills)
Bản chất nội dung Trình độ chuyên môn, học vấn, nghiệp vụ chuyên biệt Kỹ năng tinh thần, tâm lý - xã hội, hành vi ứng xử, tương tác
Cơ chế thần kinh Gắn kết nhiều hơn với bán cầu não trái Chịu ảnh hưởng lớn hơn từ bán cầu não phải
Phương thức tích lũy Đào tạo bài bản trong nhà trường, giáo trình chính khóa Trải nghiệm thực tế, hoạt động ngoại khóa, tự rèn luyện
Hình thức ghi nhận Bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn, hồ sơ lý lịch Thái độ, cách giải quyết vấn đề, chỉ số cảm xúc (EQ)
Tính chất vận dụng Tương đối cố định theo quy chuẩn chuyên ngành Mềm dẻo, linh hoạt tùy thuộc bối cảnh và đối tượng giao tiếp

Về các yếu tố hợp thành công tác giáo dục kỹ năng mềm:

  • Đối tượng và mục đích: Đối tượng là sinh viên đại học. Mục đích nhằm trang bị tri thức nền tảng, định hình thái độ tích cực và rèn luyện kỹ năng thực hành để tăng khả năng thích ứng nghề nghiệp.
  • Các loại chủ thể: Gồm đội ngũ tổ chức triển khai (cán bộ, giảng viên chuyên môn, cố vấn học tập, giảng viên kỹ năng, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên); bản thân sinh viên (vừa là đối tượng vừa là chủ thể tự giáo dục); và nguồn lực hỗ trợ từ doanh nghiệp, xã hội, gia đình.
  • Hình thức giáo dục: Gồm 5 hình thức: (1) Lớp chuyên đào tạo kỹ năng mềm; (2) Tích hợp vào bài giảng chuyên môn; (3) Hoạt động trải nghiệm lao động nghề nghiệp; (4) Hoạt động ngoại khóa, phong trào Đoàn - Hội; (5) Quá trình tự rèn luyện của sinh viên.
  • Phương pháp giáo dục: Dạy học lấy người học làm trung tâm, kỹ thuật tạo ý tưởng, phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp học nhóm, thảo luận, nghiên cứu tình huống (case study).
  • Yếu tố tác động: Yếu tố gia đình, môi trường văn hóa - xã hội, tiến trình học tập tại nhà trường và bối cảnh hội nhập quốc tế.

Chương 2: Vai trò của tư duy trong giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên - Thực trạng và giải pháp (Xét trường hợp Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội)

Chương 2 tập trung khảo sát vai trò của tư duy trong mối quan hệ với giáo dục kỹ năng mềm tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (đơn vị định hướng đại học nghiên cứu, chuẩn kiểm định AUN-QA).

Tác giả phân tích đặc điểm người học: phần lớn sinh viên của trường là nữ, đến từ nhiều địa phương, đa số xuất thân từ gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (trường có tỷ lệ miễn giảm và hỗ trợ học phí cao). Về vai trò của tư duy, tác giả làm rõ:

  • Tư duy sáng tạo: Định hướng nhận thức khoa học, phát triển tư duy độc lập, tạo phản xạ xử lý linh hoạt các tình huống biến đổi.
  • Tư duy phản biện: Giúp sinh viên thoát khỏi tư duy khuôn mẫu, lối mòn từ bậc phổ thông; xây dựng tư duy mở, biết tiếp nhận thông tin đa chiều và tôn trọng sự khác biệt.
  • Tư duy phê phán: Cung cấp năng lực phân tích hiện thực, tự đánh giá, chỉ ra điểm phi lý và hoàn thiện nhân cách.

Khảo sát thực trạng chỉ ra các thành tựu và hạn chế cụ thể:

Thành tựu:

  • Sinh viên bước đầu biết kết nối các thao tác tư duy vào xử lý dữ liệu và nghiên cứu khoa học.
  • Nhà trường và các đoàn thể (Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên) đã chủ động tổ chức nhiều hình thức ngoại khóa phong phú: câu lạc bộ học thuật, nhóm nhảy, ca nhạc, câu lạc bộ tiếng Anh, hội thi hùng biện, thuyết trình.
  • Đã nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng mềm và bước đầu tổ chức các khóa liên kết đào tạo bổ trợ cho người học.

Hạn chế:

  • Nhà trường chưa đưa giáo dục kỹ năng mềm vào chương trình đào tạo chính khóa tích lũy theo hệ thống tín chỉ.
  • Việc đào tạo kỹ năng mềm chủ yếu tổ chức cho sinh viên năm cuối với hình thức ngắn hạn để cấp chứng chỉ hoàn thiện điều kiện tốt nghiệp (mỗi sinh viên đăng ký 3 kỹ năng trong số: giao tiếp, phỏng vấn tìm việc, tư duy sáng tạo, thuyết trình ấn tượng, quản lý thời gian... qua 1 tài khoản học online, 1 buổi học trên lớp và 1 buổi thi máy tính).
  • Việc kiểm tra, đánh giá chỉ dừng ở mức xác nhận "Đạt" hoặc "Không đạt", không chấm điểm số và không xếp loại, dẫn đến tâm lý học đối phó.
  • Một bộ phận sinh viên có năng lực tư duy logic yếu: mắc lỗi ngụy biện, đánh tráo khái niệm, thiếu tính độc lập, thụ động, ỷ lại và học vẹt dẫn đến kết quả thi cử thấp, phải thi lại hoặc học lại.
  • Giảng viên và cố vấn học tập chưa thực sự đầu tư thời gian, tâm huyết để lồng ghép rèn luyện tư duy và kỹ năng mềm vào bài giảng chuyên môn.

Dựa trên thực trạng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp:

  1. Nâng cao nhận thức cho các chủ thể (giảng viên, cán bộ Đoàn - Hội, sinh viên) về vai trò nền tảng của tư duy trong việc rèn luyện kỹ năng mềm; cải tổ các môn học như Triết học, Kinh tế chính trị, Logic học theo hướng phát triển năng lực tư duy thực tiễn.
  2. Xây dựng chương trình, kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm chính thức: Thiết kế học phần kỹ năng mềm với thời lượng 30 tiết (tương đương 2 tín chỉ: 1 tín chỉ lý thuyết 15 tiết và 1 tín chỉ thực hành 15 tiết). Lựa chọn giảng dạy từ 5 đến 7 kỹ năng thiết yếu, trong đó quy định 2 kỹ năng bắt buộc đối với toàn bộ sinh viên là kỹ năng phản biện và kỹ năng tư duy sáng tạo.
  3. Đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tổ chức đào tạo; kết nối chặt chẽ giữa nhà trường, doanh nghiệp tuyển dụng và cựu sinh viên thành đạt thông qua các hội thảo thực tế.
  4. Triển khai các giải pháp nâng cao kỹ năng tư duy cho sinh viên thông qua phương pháp tự giáo dục, phát huy năng lực tự nghiên cứu và giải quyết vấn đề.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu của khóa luận mang lại các kết quả cụ thể sau:

  • Luận giải có căn cứ triết học về mối quan hệ giữa năng lực tư duy (đặc biệt là tư duy biện chứng, tư duy logic, phản biện và sáng tạo) với quá trình thụ đắc kỹ năng mềm của sinh viên đại học.
  • Làm rõ thực trạng công tác giáo dục kỹ năng mềm tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội thời điểm 2019: phản ánh chính xác mô hình học 3 kỹ năng bổ trợ ngắn hạn (kết hợp online và trực tiếp) nhằm cấp chứng chỉ điều kiện tốt nghiệp cho sinh viên năm cuối, cùng cơ chế đánh giá nhị phân "Đạt / Không đạt".
  • Đề xuất khung giải pháp mang tính định lượng rõ ràng: xây dựng chương trình học phần kỹ năng mềm tích lũy 2 tín chỉ (30 tiết: 15 tiết lý thuyết, 15 tiết thực hành), xác lập danh mục 5 - 7 kỹ năng cần đào tạo và chỉ định 2 kỹ năng bắt buộc (phản biện, tư duy sáng tạo).
  • Đóng góp khoa học của đề tài thể hiện ở việc tiếp cận giáo dục kỹ năng mềm từ góc độ lý luận triết học mác-xít và nhận thức luận, khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu tiền nhiệm vốn chủ yếu tiếp cận vấn đề này thuần túy từ tâm lý học hành vi hoặc quản lý giáo dục.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có những điểm hạn chế nhất định xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại một trường đại học chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn (Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN), nơi có cơ cấu sinh viên đặc thù (đa số là sinh viên nữ), do đó một số đánh giá chưa bao quát hết đặc điểm của sinh viên các khối ngành kỹ thuật, kinh tế hay tự nhiên.
  • Do nhà trường thời điểm nghiên cứu chưa đưa kỹ năng mềm thành môn học tích lũy tín chỉ và chỉ đánh giá theo hình thức "Đạt / Không đạt", văn bản không thể cung cấp bảng điểm số phân loại học lực kỹ năng mềm cụ thể của các khóa sinh viên.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ đề tài là mở rộng phạm vi khảo sát đối chiếu vai trò của tư duy trong đào tạo kỹ năng mềm sang các cơ sở đào tạo khối khoa học tự nhiên và công nghệ; đồng thời theo dõi, đánh giá thực nghiệm khi mô hình học phần kỹ năng mềm 2 tín chỉ (30 tiết) được đưa vào vận hành thực tế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Triết học, Giáo dục học, Tâm lý học đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về lý luận nhận thức, phương pháp dạy học đại học và phát triển kỹ năng con người.
  • Cán bộ quản lý đào tạo, giảng viên đại học trong việc thiết kế phương pháp giảng dạy tích hợp rèn luyện tư duy phản biện vào các môn lý luận chính trị và khoa học xã hội.
  • Cán bộ phụ trách công tác Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên tại các trường đại học trong việc định hướng nội dung hoạt động phong trào gắn liền với việc rèn luyện tư duy và kỹ năng thực chất cho sinh viên.
  • Phần đáng tham khảo nhất của văn bản là mục 1.1 (hệ thống hóa các quan niệm triết học về tư duy) và mục 2.3 (đề xuất khung chương trình đào tạo kỹ năng mềm 2 tín chỉ với tỷ lệ 15 tiết lý thuyết / 15 tiết thực hành).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt kỹ năng cứng và kỹ năng mềm dựa trên những cơ sở nào?
Tác giả phân biệt dựa trên 5 đặc trưng: bản chất nội dung (chuyên môn kỹ thuật so với kỹ năng tâm lý - xã hội), cơ chế thần kinh (kỹ năng cứng liên quan nhiều đến bán cầu não trái, kỹ năng mềm chịu ảnh hưởng lớn từ bán cầu não phải), phương thức tiếp nhận (đào tạo chính khóa tại trường so với trải nghiệm thực tế), hình thức xác nhận (bằng cấp, chứng chỉ so với thái độ, hành vi ứng xử) và tính chất vận dụng (cố định so với linh hoạt).

2. Ba loại hình tư duy nào được tác giả xác định là giữ vai trò nền tảng nhất đối với việc rèn luyện kỹ năng mềm của sinh viên?
Trong hệ thống các loại hình tư duy, tác giả chỉ rõ ba loại hình quan trọng nhất cần rèn luyện cho sinh viên là tư duy phản biện, tư duy sáng tạo và tư duy phê phán. Ba loại hình này bổ trợ cho nhau, giúp sinh viên thoát khỏi lối mòn suy nghĩ, phát hiện vấn đề mới và có khả năng xử lý linh hoạt các tình huống giao tiếp, nghề nghiệp.

3. Công tác đánh giá kỹ năng mềm tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội ở thời điểm nghiên cứu diễn ra như thế nào?
Tại thời điểm nghiên cứu (năm 2019), nhà trường chưa đưa kỹ năng mềm vào giảng dạy chính khóa theo hệ thống tín chỉ. Việc đánh giá chủ yếu tổ chức cho sinh viên năm cuối qua các khóa học ngắn hạn (chọn 3 kỹ năng để học online kết hợp 1 buổi trên lớp và 1 buổi thi máy tính) nhằm cấp chứng chỉ điều kiện tốt nghiệp. Kết quả chỉ ghi nhận ở mức "Đạt" hoặc "Không đạt", không chấm điểm số và không xếp loại.

4. Đề xuất cụ thể của tác giả về thời lượng và cấu trúc chương trình đào tạo kỹ năng mềm chính khóa là gì?
Tác giả kiến nghị xây dựng chương trình đào tạo kỹ năng mềm gồm 30 tiết (tương đương 2 tín chỉ), trong đó phân bổ cân bằng gồm 1 tín chỉ lý thuyết (15 tiết) và 1 tín chỉ thực hành (15 tiết). Chương trình lựa chọn giảng dạy từ 5 đến 7 kỹ năng phù hợp ngành nghề, trong đó quy định bắt buộc 2 kỹ năng cho toàn thể sinh viên là kỹ năng phản biện và kỹ năng tư duy sáng tạo.

5. Những đặc thù nào của sinh viên Trường ĐHKHXH&NV được tác giả chỉ ra là có ảnh hưởng đến việc rèn luyện kỹ năng mềm?
Sinh viên của trường có tỷ lệ nữ chiếm đa số, đến từ nhiều tỉnh thành trên cả nước, phần lớn xuất thân từ các gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (thuộc diện miễn giảm, hỗ trợ học phí cao). Điều này dẫn đến sự chênh lệch về điều kiện tiếp cận môi trường giao lưu văn hóa - xã hội ban đầu, một bộ phận phải dành nhiều thời gian đi làm thêm trang trải cuộc sống nên hạn chế thời gian tự rèn luyện kỹ năng mềm.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Vũ Thanh Hằng đã giải quyết thấu đáo vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa năng lực tư duy triết học và việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đại học. Qua việc khảo sát trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN, công trình đã vạch rõ những mặt được và hạn chế của mô hình đào tạo kỹ năng ngắn hạn theo hình thức điều kiện tốt nghiệp. Hệ thống giải pháp đề xuất xây dựng học phần kỹ năng mềm 2 tín chỉ (30 tiết) kết hợp đổi mới giảng dạy các môn lý luận là đóng góp thực tiễn có giá trị định hướng cho công tác đào tạo đại học hiện nay.