Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La" được thực hiện bởi sinh viên Giàng A Đại, chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (niên khóa 2015 – 2019), dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Thị Hải Anh.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số cả nước, tham gia vào lĩnh vực chính trị (27,31%), văn hóa (74%), xã hội và an ninh quốc phòng. Trong khu vực nông thôn, phụ nữ không chỉ đảm đương chức năng tái sản xuất sức lao động và duy trì nòi giống mà còn là lực lượng lao động trực tiếp làm ra của cải vật chất, đóng góp nguồn thu nhập cho gia đình. Huyện Sông Mã là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Tây Nam tỉnh Sơn La, cách trung tâm thành phố Sơn La 103 km, bao gồm 19 xã và thị trấn. Địa bàn nghiên cứu là xã Huổi Một – một xã thuộc vùng III (khu vực đặc biệt khó khăn) nằm ở phía Tây huyện Sông Mã, cách trung tâm huyện 10 km. Xã Huổi Một có 5 dân tộc sinh sống xen kẽ gồm Mông, Thái, Khơ Mú, Sinh Mun và Kinh; trong đó người Mông chiếm trên 53% dân số. Mặc dù có tuyến Quốc lộ 4G chạy qua dài 23 km, địa hình của xã bị chia cắt mạnh bởi núi cao hiểm trở, trình độ dân trí còn thấp, sản xuất thuần nông mang tính tự túc tự cấp. Xuất phát từ thực trạng đó, việc xác định vị thế, trách nhiệm lao động và những rào cản đối với người phụ nữ Mông là đòi hỏi thực tế nhằm xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình tại địa phương.

Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế hộ nông nghiệp trên địa bàn xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của họ trong hoạt động tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình và phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Mục tiêu cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế hộ ở xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
  2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế hộ tại xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
  3. Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ dân tộc Mông trong các hộ gia đình. Phạm vi nghiên cứu về không gian thực hiện tại xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu và khảo sát thực địa được triển khai từ ngày 20/02/2019 đến ngày 20/05/2019 (kèm chuỗi số liệu thứ cấp thống kê giai đoạn 2016 – 2018).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các khái niệm cơ bản về giới và phát triển kinh tế nông thôn:

  • Giới và Giới tính: Phân biệt rõ giới tính mang bản chất sinh học tự nhiên, bất biến; trong khi giới là tập hợp các vai trò, vị trí và hành vi do xã hội, văn hóa quy định và có thể thay đổi theo thời gian.
  • Ba vai trò của giới: Vai trò sản xuất (tạo thu nhập bằng trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán), vai trò tái sản xuất (sinh con, nội trợ, chăm sóc người già, trẻ em), và vai trò cộng đồng (hoạt động tự nguyện phúc lợi công cộng và tham gia bộ máy lãnh đạo, ra quyết định).
  • Các khái niệm công cụ: Lồng ghép giới, nhu cầu giới thực tế (nhu cầu cấp thiết đời sống như nước sạch, chất đốt, thuốc men), lợi ích giới/nhu cầu giới chiến lược (đòi hỏi thay đổi vị thế bình đẳng xã hội), bình đẳng giới và bất bình đẳng giới.
  • Khái niệm hộ và kinh tế hộ gia đình: Tiếp cận theo Điều 107 Dự thảo Bộ luật Dân sự và định nghĩa của Frank Ellis (1988) về kinh tế hộ nông dân như một đơn vị sản xuất sử dụng lao động gia đình, tham gia vào thị trường chưa hoàn chỉnh.
  • Các trường phái lý luận về phụ nữ: Quan điểm "Phụ nữ trong phát triển" (WID - thập niên 1970), "Phụ nữ và phát triển" (WAD - nửa sau thập niên 1970), và "Giới và phát triển" (GAD - thập niên 1980).
  • Quan điểm chính trị - pháp lý: Học thuyết Mác - Lênin về giải phóng phụ nữ lao động; 4 luận điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng nam nữ; Chánh cương vắn tắt (1930) của Đảng; Nghị quyết số 04-NQ/TW (12/7/1993); Chỉ thị số 37-CT/TW (16/5/1994); Nghị quyết số 11-NQ/TW (27/4/2007) của Bộ Chính trị; Cương lĩnh hành động Bắc Kinh (1995); Quyết định số 19/2000/QĐ-TTg ngày 21/01/2002 phê duyệt Chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010.

Về phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Tác giả chọn 3 bản có đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống nhất trên địa bàn xã Huổi Một gồm: bản Hợp Tiến (cách trung tâm xã 3 km, có 28 hộ Mông, Quốc lộ 4G chạy qua), bản Khua Họ (cách trung tâm 11 km, có 60 hộ Mông, địa hình dốc chia cắt, Quốc lộ 4G chạy qua) và bản Noong Ke (cách trung tâm 15 km, có 45 hộ Mông, vùng cao đi lại khó khăn).
  • Phương pháp chọn mẫu khảo sát: Chọn ngẫu nhiên phân tầng 40 hộ gia đình dân tộc Mông đại diện cho 3 phân nhóm mức sống (giàu - khá, trung bình, nghèo) và nhóm tuổi (18 đến dưới 50 tuổi, và từ 50 tuổi trở lên).
Phân nhóm mức sống Bản Hợp Tiến (hộ) Bản Khua Họ (hộ) Bản Noong Ke (hộ) Tổng số hộ tại xã Huổi Một (hộ)
Giàu - khá 3 3 4 10
Trung bình 3 4 5 12
Nghèo 5 5 8 18
Tổng cộng 11 12 17 40
  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ báo cáo định kỳ của Ban Địa chính xã, UBND xã Huổi Một, Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Sông Mã, Trạm Khí tượng thủy văn huyện; thu thập số liệu sơ cấp qua phỏng vấn trực tiếp 40 chủ hộ và thành viên nữ bằng bảng câu hỏi gồm 6 nhóm nội dung (thông tin chung, phân loại ngành nghề - vốn vay, vai trò sản xuất, vai trò cộng đồng, tiếp cận thông tin, vai trò nội trợ - dịch vụ).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tổng hợp trên bảng tính Microsoft Excel và phân tích so sánh tỷ lệ, số tuyệt đối giữa các nhóm hộ và qua các giai đoạn.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của lao động nữ trong cơ chế đổi mới kinh tế nông nghiệp nông thôn; xác lập hệ thống 1 mục tiêu chung và 3 mục tiêu cụ thể; giới thiệu ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung cứ liệu thực tập tại địa phương và ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở cho các chương trình phát triển nông thôn tại huyện Sông Mã.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giới, vai trò giới, kinh tế hộ và các nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với phụ nữ dân tộc thiểu số; phân tích thực tiễn vai trò phụ nữ ở một số quốc gia (tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ nông thôn tại Bangladesh đạt 67,3%, ở nông thôn Trung Quốc độ tuổi 60 - 64 vẫn có 32,53% phụ nữ lao động); khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội dân tộc Mông tại Việt Nam (dân số hơn 80 vạn người, đứng thứ 8 trong 54 dân tộc, gồm 5 nhóm: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Đỏ, Mông Đen, Mông Xanh). Tác giả phân tích thiết chế gia đình phụ hệ, quyền uy của trưởng họ, tập quán thờ cúng tổ tiên 4 đời, tục cưới hỏi và các quan niệm truyền thống chi phối vị thế phụ nữ Mông.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác lập đối tượng nghiên cứu là phụ nữ dân tộc Mông tại xã Huổi Một; giới hạn phạm vi khảo sát thực địa từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2019; mô tả tiêu chí lựa chọn 3 bản đại diện (Hợp Tiến, Khua Họ, Noong Ke) và lập bảng cơ cấu mẫu 40 hộ phân tầng; chi tiết hóa các công cụ phỏng vấn bảng hỏi sơ cấp và phương pháp thống kê so sánh trên Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung phản ánh thực trạng địa bàn nghiên cứu và vai trò kinh tế - xã hội của phụ nữ Mông:

  • Điều kiện tự nhiên và tài nguyên: Xã Huổi Một có tổng diện tích tự nhiên 13.698,31 ha; độ cao trung bình 900 m so với mực nước biển (đỉnh Pu Hua cao nhất 1.737,7 m, điểm thấp nhất 378,1 m). Khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Tây Bắc với nhiệt độ trung bình năm 21°C, lượng mưa mùa mưa tập trung 87% (tháng 4 đến tháng 9). Hệ thống thủy văn có sông Mã chảy qua 1,5 km, suối Nậm Công dài 17 km, suối Nậm Mằn dài 6 km và suối Nậm Pù.
  • Hiện trạng sử dụng đất: Đất nông nghiệp năm 2018 đạt 10.924,08 ha (chiếm 79,74% diện tích tự nhiên), trong đó đất sản xuất nông nghiệp đạt 2.547,9 ha (23,32%), đất lâm nghiệp đạt 5.828,28 ha (53,35%). Đất phi nông nghiệp chiếm 298,30 ha (2,18%) và đất chưa sử dụng còn 2.466,93 ha (18,00%).
  • Sản xuất nông nghiệp: Cây lương thực chính gồm lúa (năm 2018 diện tích 421,7 ha, năng suất 58,7 tạ/ha, sản lượng 2.475,3 tấn), ngô (diện tích 628,4 ha, năng suất 42,6 tạ/ha, sản lượng 2.676,9 tấn với các giống ngô lai DK8868, NK66BT/GT, NK4300Bt/GT), sắn (năm 2018 đạt 880,5 ha, sản lượng 5.564,7 tấn). Cây ăn quả phát triển mạnh với nhãn (513,28 ha, sản lượng 2.720,3 tấn), xoài (30,35 ha, sản lượng 182,1 tấn) và cam quýt (13,67 ha, sản lượng 102,5 tấn). Về chăn nuôi năm 2018, toàn xã có 802 con trâu, 2.013 con bò, 2.534 con lợn và đàn gia cầm đạt 69.000 con; tổng đàn dê đạt 1.643 con.
  • Dân số và nguồn lao động: Năm 2018 xã có 1.381 hộ với 7.172 nhân khẩu (bình quân 5,2 khẩu/hộ); tổng số lao động là 6.872 người (lao động nữ chiếm 3.604 người, tương đương 50,25%). Cơ cấu dân tộc tính đến tháng 5/2019 gồm 5 dân tộc: Mông 549 hộ với 3.819 nhân khẩu (53,22%), Thái 427 hộ với 1.945 nhân khẩu (27,97%), Khơ Mú 178 hộ với 817 nhân khẩu (11,53%), Sinh Mun 117 hộ với 486 nhân khẩu (7%) và Kinh 19 hộ với 75 nhân khẩu (0,8%).
  • Phụ nữ tham gia quản lý và lãnh đạo xã hội: Tỷ lệ nữ tham gia vào bộ máy Đảng ủy và chính quyền còn rất thấp; phụ nữ giữ vai trò chủ chốt trong lao động sản xuất và việc nhà nhưng bị hạn chế thời gian nghỉ ngơi (phụ nữ có thời gian nghỉ dưới 2 giờ/ngày cao hơn hẳn nam giới).

Phần kết luận và kiến nghị

Tổng hợp những kết luận rút ra từ khảo sát; đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao nhận thức bình đẳng giới, đào tạo nghề, hỗ trợ vay vốn và kiến nghị với Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương xã Huổi Một cùng bản thân người phụ nữ Mông.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu làm rõ thực trạng kinh tế - xã hội và vai trò của phụ nữ dân tộc Mông tại địa phương với các kết quả cụ thể:

Thứ nhất, số liệu biến động đất đai và sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2018 phản ánh sự chuyển dịch diện tích: đất lâm nghiệp giảm từ 6.579,34 ha xuống 5.828,28 ha; đất sản xuất nông nghiệp tăng từ 1.937,8 ha lên 2.547,9 ha, đặc biệt đất trồng cây lâu năm tăng mạnh từ 283,29 ha lên 610,52 ha (năm 2018). Người phụ nữ Mông tham gia trực tiếp vào tất cả các khâu canh tác từ lúa, ngô, sắn đến chăm sóc diện tích cây ăn quả (513,28 ha nhãn).

Thứ hai, kết quả điều tra dân số và phân công lao động cho thấy lực lượng lao động nữ tại xã là 3.604 người (chiếm 50,25% tổng lao động toàn xã), đóng vai trò nòng cốt trong kinh tế hộ nông nghiệp (lao động nông nghiệp chiếm 60% tổng lao động xã). Tuy nhiên, phụ nữ Mông phải chịu gánh nặng kép khi vừa đảm đương toàn bộ hoạt động tái sản xuất (nấu nướng, chăm sóc con cái, phục vụ gia đình) vừa lao động tạo thu nhập, khiến thời gian nghỉ ngơi trong ngày dưới 2 giờ cao hơn nam giới.

Thứ ba, nghiên cứu phản ánh chân thực thực trạng tham gia quản lý nhà nước và đoàn thể của phụ nữ dân tộc tại xã Huổi Một năm 2019 qua các chỉ số cụ thể:

Chức danh / Vị trí Tổng số (người) Tổng số nữ (người) Cơ cấu nữ (%) Nữ dân tộc (người) Cơ cấu nữ dân tộc (%)
Lãnh đạo cấp ủy Đảng xã 2 0 0,00 0 0,00
Lãnh đạo UBND xã 3 0 0,00 0 0,00
Ban chấp hành Đảng ủy xã 11 1 9,00 1 9,00
Đảng viên 281 40 14,23 40 14,23
Đại biểu Hội đồng nhân dân 28 9 32,14 9 32,14
Trưởng bản (24 bản) 24 0 0,00 0 0,00

Về trình độ của đội ngũ cán bộ nữ tham gia hội đoàn thể nhiệm kỳ 2016 – 2018 (tổng số 4 cán bộ): 2 người có trình độ THPT (50%), 1 người có trình độ Trung cấp (25%), 1 người đạt trình độ Đại học (25%) và không có người đạt trình độ Cao đẳng.

Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:

  • Cấp ủy, chính quyền địa phương cần quy hoạch, bồi dưỡng, nâng cao trình độ học vấn, lý luận và chuyên môn cho đội ngũ cán bộ nữ dân tộc thiểu số; xóa bỏ định kiến giới trong đề bạt cán bộ.
  • Mở rộng các lớp tập huấn khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật phù hợp với đặc thù ngôn ngữ và trình độ của phụ nữ Mông.
  • Tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ Mông tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách để đầu tư thâm canh cây trồng, phát triển chăn nuôi bò, dê theo hướng tập trung.
  • Bản thân người phụ nữ dân tộc Mông cần chủ động khắc phục tâm lý cam chịu, vượt qua rào cản tập quán lạc hậu, tích cực học tập văn hóa và tham gia sinh hoạt đoàn thể.

Đóng góp tự nêu của khóa luận là đã cung cấp nguồn cứ liệu sơ cấp thực địa có độ xác thực cao về thực trạng phân công lao động gia đình và vị thế chính trị - xã hội của người phụ nữ Mông tại một xã vùng III biên giới của tỉnh Sơn La.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi triển khai được ghi nhận trong văn bản:

  • Quy mô mẫu điều tra trực tiếp còn nhỏ (40 hộ) được thu thập tại 3 bản (Hợp Tiến, Khua Họ, Noong Ke) trong tổng số 24 bản và 549 hộ dân tộc Mông toàn xã, do địa bàn núi cao hiểm trở, giao thông mùa mưa khó khăn.
  • Thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ 20/02/2019 đến 20/05/2019), các dữ liệu về tài nguyên khoáng sản và nguồn nước ngầm của xã chưa có điều kiện điều tra thăm dò đầy đủ mà chủ yếu dựa trên các ước tính thực tế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo mà tác giả gợi mở là mở rộng quy mô điều tra trên toàn bộ các bản vùng cao của huyện Sông Mã; đi sâu phân tích định lượng hiệu quả kinh tế của từng mô hình sinh kế do phụ nữ Mông trực tiếp quản lý dòng vốn vay và đánh giá tác động của các chính sách tín dụng vi mô dành cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế và Xã hội học khi xây dựng đề cương khảo sát kinh tế hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Cán bộ làm công tác bình đẳng giới, Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp huyện và xã vùng Tây Bắc, phục vụ công tác xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cán bộ nữ cơ sở.
  • Các phần đáng giá nhất để tham khảo gồm: phương pháp thiết kế bảng hỏi phân tầng 6 nhóm thông tin hộ nông dân; hệ thống bảng biểu phản ánh mối quan hệ giữa cơ cấu sử dụng đất đai, cơ cấu cây trồng và tỷ lệ phụ nữ tham gia hệ thống chính trị địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu khảo sát thực địa của đề tài được lựa chọn theo những tiêu chí nào? Tác giả chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên gồm 40 hộ gia đình dân tộc Mông tại 3 bản đông người Mông nhất của xã Huổi Một (Hợp Tiến: 11 hộ, Khua Họ: 12 hộ, Noong Ke: 17 hộ). Mẫu được phân theo 3 mức sống: 10 hộ giàu - khá, 12 hộ trung bình và 18 hộ nghèo; người được phỏng vấn gồm cả nam và nữ trong độ tuổi từ 18 đến dưới 50 tuổi và từ 50 tuổi trở lên có hộ khẩu thường trú tại địa phương.

2. Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào bộ máy lãnh đạo Đảng, chính quyền tại xã Huổi Một năm 2019 ra sao? Theo số liệu điều tra năm 2019 của tác giả, lãnh đạo cấp ủy Đảng xã (2 người) và lãnh đạo UBND xã (3 người) đều không có phụ nữ (tỷ lệ 0%). 100% trưởng bản của 24 bản đều là nam giới. Phụ nữ chỉ tham gia ở Ban Chấp hành Đảng ủy xã (1/11 người, chiếm 9%), đảng viên nữ (40/281 người, chiếm 14,23%) và đại biểu Hội đồng nhân dân xã (9/28 người, chiếm 32,14%). Toàn bộ số cán bộ nữ này đều là người dân tộc thiểu số.

3. Cơ cấu diện tích đất đai xã Huổi Một biến động thế nào trong giai đoạn 2016 – 2018? Tổng diện tích tự nhiên của xã không đổi là 13.698,31 ha. Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp tăng từ 1.937,8 ha (năm 2016) lên 2.547,9 ha (năm 2018), nổi bật là đất cây lâu năm tăng từ 283,29 ha lên 610,52 ha; đất lâm nghiệp giảm từ 6.579,34 ha xuống 5.828,28 ha; đất phi nông nghiệp tăng nhẹ từ 294,09 ha lên 298,30 ha; đất chưa sử dụng giảm từ 2.949,28 ha (21,53%) xuống 2.466,93 ha (18,00%).

4. Đàn vật nuôi chính của xã Huổi Một giai đoạn 2016 – 2018 có diễn biến như thế nào? Năm 2018, toàn xã có 802 con trâu, 2.013 con bò, 2.534 con lợn và đàn gia cầm đạt 69.000 con. Đàn trâu từng giảm trong năm 2017 (xuống 745 con) do rét hại, sét đánh làm chết 35 con và do người dân bán bớt để mua máy cày, máy bừa. Đàn lợn năm 2018 giảm 250 con so với năm 2017 do dịch bệnh phức tạp và giá thịt lợn sụt giảm mạnh khiến người dân hạn chế tái đàn.

5. Trình độ học vấn của cán bộ nữ tham gia hội đoàn thể xã Huổi Một nhiệm kỳ 2016 – 2018 được ghi nhận ở mức nào? Trong tổng số 4 cán bộ nữ tham gia công tác hội đoàn thể của xã, có 2 người đạt trình độ THPT (chiếm 50%), 1 người có trình độ Trung cấp (chiếm 25%), 1 người có trình độ Đại học (chiếm 25%) và không có cán bộ nào ở trình độ Cao đẳng.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Giàng A Đại đã phản ánh toàn diện thực trạng vai trò và vị thế của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế hộ tại xã vùng III Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Kết quả nghiên cứu chứng minh phụ nữ là lực lượng lao động chủ chốt tham gia hầu hết các khâu sản xuất nông - lâm nghiệp và gánh vác phần lớn công việc nội trợ, tái sản xuất đời sống gia đình. Tuy nhiên, sự tham gia của họ vào bộ máy lãnh đạo, quản lý và tổ chức đoàn thể địa phương vẫn còn rất hạn chế do ảnh hưởng sâu sắc của tập quán phụ hệ và trình độ văn hóa thấp. Những số liệu thực địa và nhóm giải pháp được đề xuất trong công trình là cơ sở khoa học thiết thực phục vụ việc hoạch định chính sách phát triển sinh kế và thúc đẩy bình đẳng giới tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc.