CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI PHÁT TRIEN BỀN VỮNG 1.1 KHÁI NIEM, NỘI DUNG, CAC DIEU KIEN BẢO DAM PHAT TRIEN BỀN VỮNG 1. Khai niém phat trién bén virng Những tư tưởng về phat triển bền vững (PTBV) đã xuất hiện từ rat sớm, phát triển trải qua các giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên, van đề này chỉ mới thực sự được đặt ra, khi loài người phải trực tiếp đối mặt với các nguy cơ có tính chất và mức độ ngày càng phức tạp, đe doạ sự ton tại của mình như: sự bùng nô dân sé; sự suy thoái về môi trường, sự biến đổi khí hậu; sự xuất hiện những đại dịch thế kỷ, v. Việc hình thành ý tưởng đến khái niệm và phong trào hành động PTBV, khởi đầu từ các phong trào bảo vệ môi trường, gắn với vai trò của tổ chức và các cơ quan Liên hợp quốc (LHQ), nhất là từ những năm 50 (thế kỷ XX).
Các cơ quan của t6 chức này đã có nhiều hành động thê hiện sự quan tâm với những van đề về môi trường và phát triển. Đặc biệt, LHQ đã triệu tập một số hội nghị quan trọng liên quan trực tiếp đến vấn đề này. Năm 1972, Hội nghị LHO về môi trường con người (UNCHE) được tô chức tại Stockholm (Thuy Điền) với sự tham gia của 113 quốc gia, nhằm đối phó với tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng ở các nước công nghiệp phát triển. Hội nghị đã ra Tuyên bố về môi trường con người (Tuyên bố Stockholm) gồm 26 nguyên tắc; thảo thuận về chương trình hành động quốc tế rộng lớn, thành lập Chương trình môi trường của LHQ (UNEP), Quỹ môi trường và Ban Thư ký thường trực về môi trường.
Hội nghị thống nhất những quan điểm chính về mối quan hệ giữa cuộc sống của con người với môi trường, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo tồn tài nguyên, v. Tiếp theo Hội nghị Stockholm, các Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), UNEP và Quỹ Bảo vệ thiên nhiên thé giới đã đưa ra "Chiến lược bảo tồn thế giới" (1980) hối thúc xây dựng chiến lược bảo tồn tài nguyên sinh học quốc gia, với ba mục tiêu chính: duy trì những hệ sinh thái cơ bản, những hệ hỗ trợ sự sông; bảo đảm sử dụng bên vững các loài, các hệ sinh thái. Trong Chiên 9 lược này, thuật ngữ PTBV lần đầu tiên được sử dụng, song chủ yếu là bền vững về sinh thái. Năm 1983, LHQ thành lập Uy ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED) gồm 21 thành viên, được lựa chọn từ các nước có chế độ kinh tế, chính trị khác nhau, với nhiệm vụ nghiên cứu các xung đột tiềm tàng giữa môi trường và tăng trưởng kinh tế.
Trong báo cáo của mình (4/1987), Uỷ ban đã đưa ra khái niệm PTBV có nội dung bao quát, không bị giới hạn về chuẩn mực, có thể xem như sự dung hoà giữa "phát triển có giới hạn" và "phát triển hợp môi sinh”, nên được nhiều nước chấp nhận. Năm 1992, LHQ quyết định triệu tập H6i nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển tại Rio de Janerio (Braxin) với sự tham gia của 179 nước (trong đó có 115 người đứng đầu nhà nước). Đây là hội nghị lớn nhất của LHQ cả về quy mô và mối quan tâm với môi trường. Hội nghị đã thông qua 5 văn kiện: "Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển" gồm 27 nguyên tắc; “Tuyên bố những nguyên tắc chung về rừng”; “Công ước khung của LHQ về biến đôi khí hau”; “Công ước về đa dạng sinh học” và đặc biệt “Chương trình Nghị sự 21” Chương trình nghị sự 21 (CTNS 21), bản kế hoạch chi tiết gồm 800 trang với 2500 khuyên nghị vê các hành động quôc tê trong thê ky thứ XXI.
CTNS21 vạch ra bộ kê hoạch tông hợp với những chiên lược, chương trình đê châm dút, khac phục những anh hưởng của suy thoái môi trường và thực thi PTBV ở tât cả các quôc gia. Ngoài lời tựa, CTNS2I toàn câu gôm 4 phân: “Những khía cạnh kinh tê và xã hội”, “Bảo tôn và quản lý các nguôn lực phát triên”, “Tăng cường vai trò của nhóm chính”, “Các phương tiện thực hiện”. [102,21] Nam 2002, Hội nghị Thuong đỉnh Thế giới về PTBV được tổ chức tại Johanesburg (Cộng hoà Nam Phi) với đại diện từ 196 quốc gia tham dự. Hội nghị khẳng định PTBV là trung tâm của CTNS 21 và tiếp tục thúc đẩy hành động toàn cầu nhằm giảm sự đói nghèo và bảo vệ môi trường.
Đặc biệt, khái niệm về PTBV đã được củng cố, mở rộng, nhấn mạnh quan hệ giữa nghèo đói, môi trường và khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Johanesburg và Kế hoạch thực hiện PTBV, tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ CTNS2I về PTBV. Sau Hội nghị, PTBV trở thành chiến lược toàn cầu.1 Tổng quan về phát triển bên vững 10 Theo các tài liệu về PTBV, hiện có hơn 70 khái niệm được sử dụng, giải thích, định hướng xây dựng chi số về PTBV'****!, Theo Ann P. Hawkins và Frederick H.
Buttel, PTBV được hiểu trong 4 phạm vi vai trò của nó, là: (1) Phạm trù lý thuyết; (2) Hệ tư tưởng của phong trào môi trường: (3) Sự hướng dẫn dé thiết kế, đánh giá các chương trình, chính sách phát triển; (4) Xu thé phát triển nhất thời, biểu tượng trung tâm của xung đột về chính sách phát triển. Jean- Guy Vaillancourt cho rằng PTBV vừa mang tính khoa học (phạm trù lý thuyết) vừa là một phan tư tưởng (hệ tư tưởng, chính sách)! ”*!. Xét về phương diện lý thuyết, PTBV phong phú, đa dạng cả về nội dung và cách tiếp cận. Bằng phương pháp nghiên cứu hệ thống-cấu trúc, các quan niệm về PTBV có thé được khái quát như sau: - Tiếp cận PTBV xuất phát từ điều kiện phát triển mỗi nước, hay điểm xuất phát của quá trình phát triển.
Theo đó, điểm xuất phát, điều kiện kinh tế-xã hội là cơ sở để xác định chính sách, các bước đi, hướng ưu tiên trong từng giai đoạn phát triển của mỗi nước. Một số nhà kinh tế phát triển cho rằng PTBV chỉ đặt ra với các nước thuộc thé giới thứ ba. Và trong nhiều trường hợp khái niệm nước đang phát triển được sử dụng đồng nghĩa với “thé giới thứ ba”*”®!, Chang hạn, tác giả E. Barbier viết “Khái niệm phát triển kinh tế bền vững vì được áp dụng đối với Thế giới thứ ba.
bởi vậy trực tiếp liên quan đến việc nâng cao mức sống vật chất của người nghèo đạt mức tối thiêu110°. "I Trên cơ sở lý thuyết tân cô điển, một số nhà kinh tế học theo thuyết hội tụ (điển hình là R. Solow) lại cho rằng, cả nước phát triển và đang phát triển, tốc độ tăng trưởng sẽ hội tụ ở mức bền vững (bởi các nước phát triển phải đầu tư theo chiều rộng, tức là đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư khoa học công nghệ; các nước đang phát triển theo chiều sâu). Dé đạt được sự phát triển, PTBV, nhiều lý thuyết, mô hình phát triển được đưa ra, bổ sung, thay thế nhau.
Trong đó, tiêu biểu là Lý thuyết các giai đoạn của Walt Rostow (1916-2003), các quan điểm về con đường phát triển, như: công nghiệp hoá, hiện đại hoá (thay đôi về cơ cấu), phúc lợi xã hội, phát trién con người, hoặc phát triển có sự tham gia !17°7?7), - Tiếp cận phát triển bền vững từ những yếu tô cau thành, “lát cắt ngang” của sự phát triển 11 Theo đó, PTBV là một đại quá trình do một loạt quá trình nhánh hợp thành, hội tụ về các mặt, là: phát triển kinh tế; phát triển xã hội; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường. Các mặt, yếu tô hay quá trình nhánh này được xem xét trong mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, PTBV không chỉ bao gồm nội dung kinh tế mà còn bao hàm nội dung xã hội và môi trường. Về kinh tế, cách hiéu phố biến coi PTBV là bước phát triển kế tiếp của tư duy về tăng trưởng kinh tế. Phát triển kinh tế thể hiện 3 nội dung: (1) Sự tăng lên của Tổng sản phâm quốc nội (GDP), Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và GDP tính theo đầu người; (2) Sự biến đổi về cơ cau kinh tế, quan trọng nhất là tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp tăng lên, tỷ trọng nông nghiệp ngày một giảm xuống: (3) Sự tăng lên của thu nhập thực tế người dân được hưởng.
Trong mối quan hệ với các van đề môi trường, các quan niệm tập trung vào tính giới han tuyệt đối hoặc tương đối của tài nguyên, đầu vào của sản xuất. Theo nghĩa tuyệt đối, nếu duy trì mô hình phát triển truyền thống thì sớm hay muộn cũng dẫn đến sụp đồ của hệ thống toàn cầu. Theo nghĩa tương đối, khi tài nguyên trở lên khan hiếm, một mặt con người sẽ tìm ra tài nguyên khác dé thay thế, và sử dụng có hiệu quả tài nguyên sẵn có (Charles S. Colgan, 1997)1°!*!Ì, Với các van đề xã hội, việc nghiên cứu tập trung phân tích những thất bại của thị trường, xác định vai trò của chính phủ.
Mặt xã hội, phát triển xã hội hay các yếu tô phi kinh tế trong một thời gian dài ít được đề cập trong các nghiên cứu về phát triển và thường được coi là hệ qua của phát triển kinh tế. Nhận thức về mặt xã hội đến nay còn chưa thống nhất. Tìm kiếm trên mạng. xã hội với sự khác biệt dễ nhận thấy nhất trong việc mô tả trụ cột xã hội.) Biên thê thứ nhât đơn giản là một mục tiêu xã hội phi kinh tê tông quát, mà sử dụng những thuật ngữ như “xã hội” “phát triên xã hội” và “tiên bộ xã hội”.
Biên thê thứ hai nhân mạnh vào việc phát triên con người tương phản với việc phát triên kinh tê: “phat triên con người” 499 “sức khoẻ con người” hay chi “con người”. Biên thê 66 thứ ba tập trung vào vấn đề công lý và công bằng: “công lý xã hội” 333 66 “công bằng” và “giảm nghèo”. 12!) Phát triển xã hội thường được nghiên cứu trong mối liên hệ với các van dé kinh tế và phát triển con người. Trong Báo cáo phát triển con người đầu tiên (1990), Mahbub ul Haq tiếp cận theo hướng xác định cái thứ nhất chỉ là phương tiện, phát triển con người là mục tiêu tối cao của sự phát triển !”°!` Ở một khía 12 cạnh khác, theo R.
Beregon sự giàu có, thịnh vượng chưa han đã là phát triển, thậm chí còn là “phản phát triển” °°! Trong những năm 90 thé kỷ XX, một số nhà xã hội học nghiên cứu về vốn xã hội, như James Coleman, Putman Robert, v.