phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 10 tiết. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG TIÊU THỤ MẶT HÀNG TRÁI CÂY 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về vai trò của Nhà nƣớc Trên cơ sở nghiên cứu quá trình hoạt động của các Nhà nước, nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển nói chung và đối với nền kinh tế thị trường nói riêng.
Trong đó, nhiều học giả và nhà khoa học quan tâm nhiều đến mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, Nhà nước nên chủ động can thiệp đối với thị trường hay để thị trường tự điều tiết, tự vận động theo các quy luật khách quan của thị trường? Và khi cần thiết có sự can thiệp, thì cách thức và sự tác động của Nhà nước vào thị trường ở mức độ nào nhằm có hiệu quả cao hơn trong đối với quá trình phát triển? Để lý giải cho các nội dung này, các tác giả có cách tiếp cận và luận giải khác nhau. Tác giả Lê Thị Mai Anh (2023) khi nghiên cứu về các biện pháp nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa Việt Nam ở Úc và Niu Di-lân đã đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa trọng thương đối với thương mại quốc tế đã cho rằng để xây dựng và thực thi các chính sách thương mại quốc tế không thể thiếu vai trò của nhà nước, cũng như sự hỗ trợ qua lại giữa nhà nước và doanh nghiệp; đồng thời chỉ ra sự cần thiết phải coi trọng các yếu tố liên quan năng suất lao động và đổi mới công nghệ [6, tr. Smith (1776), trong tác phẩm Của cải của các dân tộc [123], cho rằng ngay từ đầu Nhà nước xuất hiện chỉ thực hiện được các vai trò chủ yếu như: giữ gìn hòa bình, không để bùng nổ chiến tranh; tạo dựng môi trường thể chế cho tăng trưởng của nền kinh tế thông qua nền tảng pháp lý để bảo vệ sở hữu tư nhân và cung cấp hàng hoá công cộng. Ngoài ba chức năng cơ bản đó, hầu hết các vấn đề khác đều có thể được giải quyết một cách ổn thỏa và nhịp nhàng bởi “bàn tay vô hình”.
Tuy nhiên, nghiên cứu sâu hơn về những yếu tố giúp nhà nước duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, học giả John Maynard Keynes (1936) [79] đã khẳng định 10 Nhà nước không chỉ dừng lại ở chức năng tạo môi trường mà phải trực tiếp can thiệp, điều tiết kinh tế để thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp và suy thoái, bởi vì nền kinh tế thị trường không có khả năng tự điều tiết tuyệt đối và vô hạn. Trong khi đó, với cách tiếp cận cân bằng hơn khi nghiên cứu vai trò của Nhà nước trong tác phẩm Kinh tế học, các học giả Paul A. Samuelson và William D. Nordhaus (1948) lại cho rằng muốn phát triển kinh tế phải kết hợp cả vai trò tự điều tiết của thị trường và sự tác động của Nhà nước; bởi vì, hệ thống kinh tế thị trường tồn tại những khuyết tật một cách khách quan, để đối phó với những vấn đề mà tự thân thị trường không thể giải quyết cần phát huy vai trò của Nhà nước để sửa chữa những khuyết tật thường xuyên của thị trường [122, tr.
Luận giải sâu sắc hơn về vấn đề thể chế kinh tế của Nhà nước, hai tác giả Daron Acemoglu và James A. Robinson (2012) đã chỉ ra nguyên nhân gốc rễ sự thất bại của một số quốc gia ngày nay đó là do các thể chế kinh tế của các nước đó “không tạo ra động cơ cần thiết để khuyến khích dân chúng tiết kiệm, đầu tư và phát minh đổi mới” [1, tr. Do đó, để tạo ra sự thịnh vượng của quốc gia, Nhà nước cần phải tạo ra được một tập hợp các thể chế kinh tế có thể thúc đẩy tài năng, kỹ năng, sự sáng tạo và năng lượng của người dân, gọi là tính dung hợp của thể chế kinh tế (inclusive economy institutions). Báo cáo Vai trò của Nhà nước trong Phát triển kinh tế Việt Nam được nêu lên bởi Ngân hàng Thế giới (2016) [101] đã cho thấy những kinh nghiệm quốc tế liên quan đến phát huy vai trò của Nhà nước xét ở khía cạnh tổ chức và quản trị.
Đó là cần tăng cường vai trò ở những lĩnh vực như lập kế hoạch, tiêu chuẩn, thực thi pháp luật, phát triển thể chế thị trường và các thị trường nhân tố, theo dõi và giám sát; mặt khác, giảm bớt vai trò của Nhà nước ở các lĩnh vực có thể được thực hiện có hiệu quả và hiệu suất bởi khu vực ngoài Nhà nước. Bên cạnh mục đích khắc phục các thất bại của thị trường, theo tác giả Mai Thị Hồng Liên (2019) [87], Nhà nước còn phải tập trung vào việc thiết kế các chủ trương, định hướng cụ thể, các chính sách tập trung nguồn lực, tạo dựng cơ chế ưu tiên vào các lĩnh vực trọng tâm đối với từng thời điểm lịch sử nhất định trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong đó, chú trọng sử dụng một cách 11 có hiệu quả các nguồn lực, cũng như phát huy mọi tiềm năng của đất nước, như: nhân lực, nguồn vốn, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Bàn về tác động của môi trường quốc tế đối với phát huy vai trò của Nhà nước, tác giả Trần Thị Huyền (2016) [78] cho rằng, Nhà nước cần phải điều chỉnh chính sách để phát huy vai trò của mình trên các phương diện như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhằm tận dụng được tối đa lợi thế do toàn cầu hóa đưa lại cũng như hạn chế tối thiểu những thách thức, nguy cơ mà bối cảnh mới mang đến.
Bên cạnh đó, tác giả Hoàng Thị Kim Oanh (2016) [109] cũng đã đánh giá về đóng góp to lớn của Nhà nước Việt Nam trong tiến trình hội nhập với thế giới thông qua các vai trò cụ thể như sau: (1) Ban hành định hướng, chính sách, pháp luật về hội nhập quốc tế, nhất là hội nhập về kinh tế đáp ứng yêu cầu thực tiễn của Việt Nam và xu hướng phát triển của thế giới; (2) Đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ kinh tế quốc tế, chủ động, tích cực và là thành viên có trách nhiệm trong các tổ chức quốc tế khi gia nhập, nhất là quá trình thực thi các cam kết và đóng góp vào việc hoàn thiện các thể chế kinh tế toàn cầu; (3) Không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính nhằm tạo môi trường pháp lý, môi trường đầu tư, thông thoáng, thuận lợi; (4) Điều chỉnh cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành đối với toàn bộ nền kinh tế; (5) Tăng cường khai thác, thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm tạo nền tảng cần thiết của tiến trình hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng. Đối với lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, tác giả N.Habib (2012) [183] đã khẳng định Chính phủ ở các quốc gia đang phát triển cần thể hiện vai trò trong việc đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực để thích ứng với những yêu cầu của việc làm trong xã hội hiện đại như tính chuyên nghiệp, tính linh hoạt, các kỹ năng thiết yếu. Bên cạnh đó, tác giả Dương Quỳnh Hoa (2017) [62] cho rằng, Nhà nước ở các nước đang phát triển cần quan tâm đến xây dựng và phát triển nhân lực khoa học và công nghệ bằng cách tạo lập môi trường pháp luật, hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; xây dựng và thực thi chính sách (đào tạo, 12 sử dụng, thu hút và giữ chân nhân lực, liên kết, phối hợp với thế giới và khu vực trong phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ). Về vai trò của Nhà nước đối với đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng xã hội, tác giả Micheal G.
Pollitt (2002) [189] đã khám phá ra sự tham gia ngày càng tăng của khu vực tư nhân vào đầu tư kết cấu hạ tầng xã hội từ năm 1979 ở nước Anh. Đánh giá ảnh hưởng của đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước đối với hệ thống hạ tầng xã hội thiết yếu như: bệnh viện, nhà tù, dịch vụ máy tính và các dự án giao thông. tác giả đưa ra những bằng chứng về khả năng thành công của khu vực tư nhân trong việc huy động tài chính cần thiết cho việc đầu tư các hạ tầng này, đặc biệt là các dự án được thúc đẩy bởi Sáng kiến Tài chính tư nhân NPFI - the Private Finance Initiative). Đối với kết cấu hạ tầng giao thông, tác giả Nguyễn Văn Thể (2020) [137] cho rằng nếu hệ thống giao thông vận tải phát triển đồng bộ, hiện đại, kết nối phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế sẽ là cơ sở để đất nước đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; do đó, để phát triển nhanh kết cấu hạ tầng giao thông theo hướng đồng bộ, hiện đại, vừa tháo gỡ các điểm nghẽn, vừa tạo điều kiện bứt phá nhanh cần thiết phải có vai trò “đầu tàu” của các bộ, ngành ở Trung ương và chính quyền địa phương.
Như vậy, các nhận định này sẽ là gợi ý nghiên cứu cho việc xác định mức độ tham gia của Nhà nước trong xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng của Việt Nam, nhất là ở khu vực ĐBSCL. Học giả Iuliia Kornieieva (2018) [184] cũng khẳng định bối cảnh mới do tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại đã tạo điều kiện cho Nhà nước phát huy vai trò đối với nền kinh tế số thông qua kiến tạo môi trường thể chế. Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số hiện đại trong việc khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin, tăng cường tính minh bạch của quá trình ra quyết định từ phía các chủ thể quản lý nhà nước.