chương I này trình bày về cơ sở ly thuyết của vỡ nợ, tong du nợ tai thời điêm vỡ nợ và yêu câu cua Basel II với mô hình tông dư nợ tại thời điêm vỡ nợ Bên cạnh đó, chương này cung cấp tông quan nghiên cứu về đặc điểm, lý thuyết, áp dụng của mô hình EAD cũng như là một số kỹ thuật để ước lượng tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ. Võ nợ là gi? Các lý thuyết về vỡ nợ bao gồm cả lý thuyết xác định rủi ro tín dụng và lý thuyết về tài chính hành vi. Lý thuyết xác định rủi ro tín dụng giúp định lượng rủi ro của các khoản vay và đưa ra các biện pháp dé giảm thiểu rủi ro này. Trong khi đó, lý thuyết về tài chính hành vi nghiên cứu cách mà các cá nhân và tổ chức đưa ra các quyết định tài chính và ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý và hành vi trong việc đưa ra quyết định đó.
Định nghĩa vỡ nợ theo quy định của Basel II (Đoạn 452, 453). Vỡ nợ phát sinh đôi với một người có nghĩa vụ tín dụng khi một trong hai điêu sau xảy ra: - Ngân hàng cho rằng người có nghĩa vụ tín dụng có khả năng cao là sẽ không thực hiện được nghĩa vụ tín dụng một cách đầy đủ nếu ngân hàng không có hành động truy đòi nợ như xử lý tài sản bảo đảm (nếu có); - Người có nghĩa vụ tín dụng đã quá han 90 ngày đối với bat kỳ nghĩa vụ tín dụng trọng yếu đã ký kết nào với Ngân hàng. Thấu chi sẽ được coi là quá hạn khi ma khách hàng vi phạm hạn mức được cấp hoặc được cấp một hạn mức thấp hơn mức dư nợ hiện tại. -Những yếu tố khác được coi là các dấu hiện của không thực hiện được nghĩa vụ tín dụng bao gồm: - Ngân hàng không tính lãi dự thu đối với khoản nghĩa vụ tín dụng của khách hang; - Ngân hang thực hiện trích một khoản chi phí hoặc dự phòng cu thể cho khoản tín dụng sau khi nhận thấy có sự sụt giảm đáng ké chất lượng tín dung; - Ngân hàng bán khoản tín dụng và chịu một thiệt hại kinh tế đáng kể liên quan đến khoản tín dụng: - Ngân hàng đồng ý thực hiện cơ cấu cho nghĩa vụ tín dụng và điều này dan đến suy giảm nghĩa vụ tài chính của khách hàng do miễn giảm, trì hoãn, gia hạn trả gôc, lãi hoặc các loại phí liên quan; - Ngân hàng yêu cầu khách hàng thực hiện thủ tục phá sản hoặc các hình thức tương tự do không thực hiện được các nghĩa vụ đối với ngân hàng; - Bên đi vay đang thực hiện thủ tục hoặc đã ở trong tình trạng phá sản hay những hình thức bảo vệ tương tự, dẫn đến việc tránh hoặc trì hoãn thực hiện nghĩa vụ tín dụng đối với ngân hàng.
Các mô hình và phương pháp thống kê được sử dụng dé định lượng rủi ro vỡ nợ và dự báo khả năng vỡ nợ của khách hàng, bao gồm mô hình logit, SVM, KNN và các phương pháp khác. Việc nghiên cứu và ứng dụng các mô hình này trong ngành ngân hàng và tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định tín dụng an toàn và bảo vệ các khoản vay. Tổng du nợ tại thời điểm vỡ nợ Hiệp định Basel II và III cho phép các ngân hàng tính toán vốn điều lệ bằng cách sử dụng các mô hình phát triển nội bộ của riêng họ theo cách tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ nâng cao (AIRB). Tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ (EAD) là một tham số cốt lõi được mô hình hóa cho các cơ sở tín dụng quay vòng với mức độ rủi ro thay đồi.
Tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực quản lý rủi ro tín dụng. Nó đo lường giá trị tài sản hoặc số tiền mà một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính có thê mắt trong trường hợp khách hàng không thể trả nợ. Tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ được sử dụng dé ước lượng mức độ rủi ro tín dụng và dong vai trò quan trọng trong việc đánh giá tính bền vững của các khoản vay và quản lý danh mục tín dụng. Lý thuyết tông dư nợ tại thời điểm được xây dựng một cách tiếp cận phân tích dựa trên dữ liệu và mô hình hóa các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tong du no tai thời điểm vỡ nợ.
Các yếu tố này có thể bao gồm mức độ sử dụng hạn mức tín dụng, tình trạng tài chính của khách hàng, loại tài sản đảm bảo và rủi ro thị trường. Các phương pháp ước lượng tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ được phát triển dựa trên các mô hình tín dụng, dữ liệu lịch sử và các công cụ phân tích. Các mô hình này có thé sử dụng các phương pháp thống kê, mô hình hóa tài chính, hoặc kỹ thuật học máy dé dự đoán và đo lường tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ. Đồng thời, việc áp dụng EAD trong quản lý rủi ro tín dụng đòi hỏi các biện pháp kiểm soát nội bộ chặt chẽ, quan ly dữ liệu chính xác và hiệu quả, cùng với việc đánh giá và cập nhật định kỳ các mô hình ước lượng tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ.
Yêu cầu của Basel đối với mô hình EAD Basel II — đoạn 264: Giai đoạn chuyền tiếp bắt đầu từ ngày tuân thủ Basel và sẽ kéo dai trong 3 năm ké từ ngày đó. Trong giai đoạn chuyên tiếp, các yêu cầu tối thiểu sau có thê được nới lỏng, tùy theo quyết định của ngân hàng quốc gia: - Đối với các khoản tín dụng doanh nghiệp, quốc gia và ngân hàng theo phương pháp cơ bản, đoạn 463, ngân hàng phải sử dụng ít nhất năm năm đữ liệu để ước tính PD; và - Đối với các khoản tín dụng bán lẻ, đoạn 466, ngân hàng phải sử dụng ít nhất năm năm dé liệu dé ước tính các tồn that (EAD, và tổn thất dự kiến (EL) hoặc PD va LGD) - Đối với các khoản tin dụng doanh nghiệp, quốc gia, ngân hàng và doanh nghiệp bán lẻ, đoạn 445, ngân hàng phải chứng minh đã sử dụng hệ thống mô hình rủi ro tín dụng phù hợp với các yêu cầu tối thiểu được nêu trong tài liệu này ít nhất ba năm trước khi đủ điều kiện. - Các thỏa thuận chuyền tiếp áp dụng nói trên cũng áp dụng cho các phương pháp tính PD / LGD đối với vốn chủ sở hữu. Không có thỏa thuận chuyển tiếp nào đối với cách tiếp cận dựa trên thị trường đối với vốn chủ sở hữu.
Khoản vay quay vòng và khoản vay không quay vòng Theo thông lệ của Basel, công thức xác định EAD phụ thuộc vào vào việc khoản vay là tín dụng quay vòng hay không quay vòng.2: 02 nhóm sản phẩm của Ngân hàng Phân loại sản 2 Mô ta pham Khoản vay quay |- Đây là các khoản vay khách hàng có thé rút tiền đến một vòng mức hạn mức. Sau khi khách hàng đã trả hết nợ lãi và gốc của khoản vay thì có thể tiếp tục giải ngân. Ví dụ: Vay hạn mức, thẻ tín dụng, v.v - EAD của các khoản vay nay sẽ được tính toán dựa trên sự thay đổi số dư tại thời điểm quan sát so với thời điểm vỡ nợ. Khoản vay không |- Là các khoản vay khách hàng có thê được giải ngân một quay vòng hoặc nhiều lần đến một hạn mức.
Sau khi đã giải ngân hết hạn mức, khách hàng sẽ không thê giải ngân thêm. Ví dụ: cho vay mua nhà, cho vay mua máy móc, cơ sở vật chất, v.v - EAD của các khoản vay này được xác định bằng du nợ Phân loại sản 2 Mô tả pham tai thời diém quan sát hoặc dư nợ cộng sô tiên chưa giải ngân (với trường hợp được phép giải ngân thêm). Tổng quan nghiên cứu Dé ước lượng EAD cho thẻ tín dụng hoặc các hình thức tín dụng xoay vòng khác, Hiệp định Basel II/III da đề xuất sử dụng dữ liệu lịch sử để đánh giá ty lệ chuyên đổi tín dụng (CCP), tức là ty lệ phan trăm của số tiền chưa rút hiện tại có thể sẽ được rút trong trường hợp khách hàng không thể trả nợ (Valvonis, 2008). Hiệp định không yêu cầu rõ ràng các mô hình EAD phải sử dụng tính toán CCF; tuy nhiên, CCF thường được đề cập đến trong Basel.
Sau khi ước lượng tỷ lệ chuyên đổi tín dụng cho một (phân đoạn) số tiền phải trả biến đổi, EAD được tính bằng công thức: EAD = Số tiền đã rút hiện tại + (CCE x Số tiền chưa rút hiện tại). Với phương pháp này, độ chính xác của việc dự đoán tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ rõ ràng phụ thuộc vào chất lượng của mô hình CCF và việc mô hình hóa nay đã đặt ra những thách thức đáng ké do phân phối của tỷ lệ chuyên đổi tín dụng không tuân theo các phân phối thống kê tiêu chuẩn. Phân phối tỷ lệ chuyền đổi tín dụng thường có xu hướng kép lệnh cao với khối lượng xác suất băng không (không có sự thay đổi trong số dư), một khối lượng xác suất băng một (vượt quá hạn mức tín dụng), và một phân phối tương đối phăng ở giữa, tương tự như một số phân phối LGD (tốn thất vỡ nợ) (Loterman et al. Hơn nữa, trong nhiều tập dữ liệu CCF, có thé thấy một số lượng đáng kể các tỷ lệ chuyền đôi tín dụng âm và tỷ lệ chuyên đôi tín dụng lớn hơn một (một ví dụ về điều cuối cùng có thé là khi hạn mức tin dụng đã tăng giữa điểm quan sát và thời điểm vỡ nợ, cho phép khách hàng vượt quá hạn mức ban đầu); vì các ước lượng mô hình cuối cùng cần được giới hạn trong khoảng từ không đến một, những quan sát 10 riêng lẻ như vậy đôi khi được cắt giảm thành không hoặc một, tương ứng (Jacobs, 2010).
Taplin, Minh To và Hee (2007) đã chỉ ra rằng công thức CCF gặp van đề vì phân phối tỷ lệ chuyên đổi tín dụng có giới hạn, khiến cho tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ phải bang han mức tín dụng khi tỷ lệ chuyên đổi tin dụng bang 1. Trong thực tẾ, thường có những tài khoản với tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nựo lớn hơn hạn mức tín dụng do các chi phí phát sinh từ việc mua sắm vượt quá hạn mức và các khoản lãi suất, hoặc thay đôi han mức tín dụng. Bên cạnh đó, còn một phương pháp ít phổ biến hơn đó là sử dụng công thức URAD - tỷ lệ sử dụng hạn mức tại thời điểm vỡ nợ.