Chương 1 trình bày bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2 xây dựng khung phân tích cho đề tài. Phần chính của luận văn tập trung vào Chương 3 và Chương 4. Trong đó, Chương 3 đánh giá thiệt hại ngành trồng lúa do NBD và năng lực thích ứng của ngành.
Chương 4 đề 4 xuất kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao năng lực thích ứng với BĐKH – NBD cho ngành trồng lúa vùng ĐBSCL. 5 Chƣơng 2 KHUNG PHÂN TÍCH 2. Khung phân tích về tính dễ bị tổn thƣơng do tác động của biến đổi khí hậu Tính dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH (MONRE, 2008, tr. Ba hợp phần cấu thành tính dễ bị tổn thương là Biểu hiện (Exposure – E), Độ nhạy (Sensitivity – S) và Năng lực thích ứng (Adaptive Capacity – AC).
Một hệ thống dễ bị tổn thương với BĐKH nếu nó có độ nhạy cao hoặc có năng lực thích ứng thấp với BĐKH. Đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH có thể thực hiện trên phạm vi toàn cầu, khu vực, quốc gia, vùng. Tuy nhiên, theo Allison (2009), việc đánh giá trên qui mô quốc gia cung cấp một cái nhìn bao quát về các mô hình dễ bị tổn thương. Và cũng là vì, các chính sách về BĐKH thì được xây dựng và thực hiện phù hợp hơn trên qui mô này, và vì nhiều chỉ số toàn cầu chỉ sẵn có ở qui mô quốc gia.
Những đánh giá này cũng vẫn tốt nếu được thực hiện ở qui mô vùng hoặc tiểu vùng, nơi mà đặc biệt chịu tác động nặng nề của BĐKH hơn các khu vực khác (Perry và Sumaila, 2007; McGoodwin 2007, trích trong Allison 2009, tr. Tính dễ bị tổn thương do BĐKH được sử dụng để đánh giá cho một ngành nào đó. Các nghiên cứu trên thế giới thường tập trung vào ngành sản xuất lúa, ngành cá và thủy sản (được cho là những ngành bị tác động nặng nhất do BĐKH). Hoặc, cũng có thể đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH đối với sinh kế của cá nhân hoặc hộ gia đình, giới, chủ yếu là những đối tượng sống ở vùng ven biển và vùng bị tác động của BĐKH.
Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability – V) là một chỉ số tổng hợp được tính toán dựa vào ba cấu phần E, S, và AC. V = f( E, S, AC) 6 Trong đó: E: Biểu hiện S: Độ nhạy AC: Năng lực thích ứng Nguồn: Gerald Jurasinski và cộng sự, 2003, tr.6 Việc tính toán chỉ số V là hết sức phức tạp. Allison và cộng sự (2009) tính toán định lượng tính dễ bị tổn thương của các nền kinh tế do tác động của BĐKH đối với nghề cá. Kết quả, nước có mức độ tổn thương cao nhất là Angola (0,77), Việt Nam (0,64) đứng thứ 27 (Phụ lục 1).
Amy và cộng sự (2003) định lượng tính dễ bị tổn thương do BĐKH đối với ngành nông nghiệp ở thung lũng Yaqui, Mexico và chỉ ra rằng nếu nhiệt độ tăng 1oC thì mức độ tổn thương trung bình của người nông dân tăng lên 10%. Yoo và Kim (2007) định lượng tính dễ bị tổn thương trong hoạt động sản xuất lúa do BĐKH ở khu vực Tây Nam, Hàn Quốc và mô phỏng bằng bản đồ các cấp độ tổn thương cho toàn khu vực. Nghiên cứu cũng cho thấy, việc giảm tính tổn thương bằng cách cải thiện các lựa chọn thích ứng có thể mang lại 259 tỷ won (ước khoảng 233 triệu USD) vào năm 2030. Tuy nhiên, tính dễ bị tổn thương cũng có thể xem xét một cách định tính thông qua thống kê mô tả và phân tích các số liệu.
Jurasinski và cộng sự (2003) đánh giá tính dễ bị tổn thương cho hoạt động trồng lúa do tác động của hiện tượng thời tiết cực đoan ở Đồng bằng sông Hồng, Việt Nam, và đưa ra kết luận rằng, hoạt động trồng lúa có năng lực thích ứng trung bình với các hiện tượng thời tiết cực đoan, các nhà chính sách nên tập trung vào sự tổn thương của ngành hơn là vấn đề BĐKH. Ngoài ra, còn có các nghiên cứu khác như WF (2012) nghiên cứu tác động của BĐKH và tính dễ bị tổn thương trong nghề cá của Uganda; Tao và cộng sự (2011) nghiên cứu tổn thương của ngành nông nghiệp do BĐKH ở Trung Quốc, … Để đánh giá tính dễ bị tổn thương với BĐKH, khung phân tích tập trung vào ba nhân tố là biểu hiện, độ nhạy và năng lực thích ứng. Biểu hiện của biến đổi khí hậu BĐKH thể hiện ở sự tăng lên của nhiệt độ và mực nước biển. Tuy nhiên, các tác động của BĐKH có thể là nhiệt độ tăng trong bầu khí quyển và trong nước, NBD, bão, lũ, hạn hán, và các hiện tượng cực đoan khác.
Trong phân tích tính dễ bị tổn thương của một ngành nào đó, biểu hiện của BĐKH là những tác động của BĐKH mà hiện hữu trong ngành đó. Vì vậy, biểu hiện của BĐKH ở đây còn liên quan đến vùng nghiên cứu và ngành nghiên cứu. BĐKH có thể ảnh hưởng đến ngành trồng lúa thông qua sự tăng lên của mực nước biển gây hiện tượng đất nhiễm mặn; tăng lên của nhiệt độ làm tăng hay giảm năng suất lúa; bão, lũ lụt, hạn hán gây mất mùa. Độ nhạy với biến đổi khí hậu Độ nhạy với BĐKH là sự phản ứng lại của đối tượng bị tác động trước mối đe dọa của BĐKH.
Nó chính là khả năng mà một kết quả sẽ xảy ra nếu BĐKH xảy ra trên thực tế. Mối đe dọa của BĐKH chính là biểu hiện của BĐKH. Sự phản ứng lại của đối tượng là những thay đổi của đối tượng do tác động của BĐKH. Mức độ thay đổi nhiều hay ít thể hiện độ nhạy của BĐKH cao hay thấp.
Mức độ tác động của BĐKH tăng lên hay giảm đi ít, làm đối tượng thay đổi nhiều, chứng tỏ đối tượng rất nhạy cảm với BĐKH. Theo Yoo và Kim (2007, tr.21), độ nhạy của ngành trồng lúa với BĐKH chính là sự thay đổi trong sản lượng lúa. Còn theo Jurasinski và cộng sự (2003, tr.6), nó có thể là diện tích đất bị mất do NBD, năng suất cây, con giảm do nhiệt độ tăng, sản lượng giảm do bão lũ,… 2. Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu IPCC (2007) định nghĩa năng lực thích ứng với BĐKH là khả năng hay tiềm năng mà một hệ thống điều chỉnh thành công với BĐKH để (i) giảm nhẹ các tác động tiềm tàng, (ii) lợi dụng các cơ hội, (iii) và/hoặc đương đầu với những hậu quả của BĐKH.
8 Như vậy, năng lực thích ứng với BĐKH là khả năng của một hệ thống hoặc xã hội trong việc điều chỉnh hoặc ứng phó với BĐKH nhằm đạt được 3 mục tiêu: giảm khả năng bị tổn thương, giảm nhẹ các thiệt hại có thể xảy ra, tận dụng các cơ hội mới do BĐKH mang lại. Năng lực thích ứng bao gồm những điều chỉnh trong hành vi, nguồn lực và công nghệ. Các yếu tố kinh tế - xã hội có vai trò quan trọng đối với khả năng thích ứng của một hệ thống, và vai trò không thể thiếu của các tổ chức, quản trị, và quản lý trong xác định khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Một vài yếu tố kinh tế xã hội nói chung của năng lực thích ứng là giáo dục, thu nhập và sức khỏe.
Các yếu tố còn lại cụ thể hơn cho từng loại tác động của BĐKH như thể chế, kiến thức, công nghệ (Fellmann, 2012, trích trong Allison, 2009). Đánh giá năng lực thích ứng dựa vào cách tiếp cận nguồn lực tập trung vào phân tích 5 nguồn lực bao gồm nguồn lực con người, nguồn lực xã hội, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất – phương tiện, và nguồn lực tài chính (Hình 2. Trong đó: Nguồn lực con người được đánh giá thông qua các yếu tố kiến thức và nhận thức của con người về rủi ro và các thảm họa của BĐKH; Các kỹ năng và kỹ thuật trong sản xuất mà có thể vận dụng để đương đầu với các thảm họa của BĐKH; Sức khỏe của người lao động. Nguồn lực xã hội được phản ánh bởi vai trò của các tổ chức đoàn thể xã hội trong việc giúp nông dân thích ứng với BĐKH; Tính liên kết của cộng đồng thể hiện ở tương tác của một cá nhân với các cá nhân khác trong cộng đồng, sự ảnh hưởng lẫn nhau và mạng lưới liên kết trong toàn vùng.
Sự liên kết chặt chẽ hay lỏng lẻo góp phần tạo nên năng lực thích ứng cao hay thấp cho vùng, ngành; Mạng lưới thông tin cảnh báo sớm thảm họa và các hiện tượng của BĐKH.1 đánh giá năng lực thích ứng theo cách tiếp cận nguồn lực.1: Khung đánh giá năng lực thích ứng Nguồn: Thân Thị Hiền và cộng sự, 2010 Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên được phản ánh qua tiềm lực của các hệ sinh thái và dịch vụ hệ sinh thái như RNM ven biển và cửa sông, các khu đất ngập nước; Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên sinh vật, tất cả những nguồn tài nguyên này đều có tác dụng hỗ trợ để hệ thống có thể ứng phó với BĐKH. Nguồn lực vật chất, phương tiện là cơ sở hạ tầng, hệ thống đê điều, thủy lợi, giao thông và các trang thiết bị sử dụng trong sản xuất. Nguồn lực này hỗ trợ ngành trồng lúa như thế nào và có thể đương đầu với BĐKH ra sao? Nguồn lực tài chính được phản ánh thông qua khả năng đa dạng hóa thu nhập của người dân trong vùng bị tác động hoặc trong ngành, lĩnh vực bị tác động. Khả năng đa dạng hóa nguồn thu càng lớn, thì người dân càng giảm được những rủi ro từ BĐKH.
Khả năng tiết kiệm của người dân cũng làm tăng năng lực thích ứng của người dân với BĐKH. 10 Thân Thị Hiền và cộng sự (2011) đánh giá hoạt động thích ứng với BĐKH trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam thông qua phân tích 5 nguồn lực. Kết quả cho thấy năng lực thích ứng của người dân trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản còn thấp. Trong 5 nguồn lực, chỉ có nguồn lực tự nhiên là có năng lực thích ứng cao, còn lại đều thấp.
Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2010) đánh giá năng lực thích ứng của sinh kế ven biển trước tác động của BĐKH và đưa ra kết luận rằng, các biện pháp thích ứng chủ yếu xuất phát từ kinh nghiệm; nguồn lực xã hội có vai trò quan trọng và thích ứng tự phát nhiều hơn là có kế hoạch do hạn chế về nguồn lực tài chính, nguồn lực con người và nguồn lực vật chất.