Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong canh tác nông nghiệp tại Việt Nam, tập quán canh tác truyền thống cùng sự gia tăng sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đang gây suy thoái tài nguyên đất và ô nhiễm môi trường. Sau mỗi vụ thu hoạch, một lượng lớn sinh khối phụ phẩm như rơm rạ, thân ngô, bã và lá mía thường bị bỏ rơi trên đồng ruộng hoặc đốt lộ thiên. Hành vi đốt phế phẩm nông nghiệp không chỉ tiêu diệt hệ vi sinh vật đất có ích và làm cạn kiệt nguồn hữu cơ tự nhiên mà còn phát thải khí độc hại vào khí quyển. Mặt khác, việc lạm dụng phân bón vô cơ với giá thành cao tạo gánh nặng kinh tế đối với các nông hộ có mức thu nhập thấp. Trong khi đó, việc chuyển hóa các nguồn phế phụ phẩm dồi dào sẵn có thành phân bón hữu cơ vi sinh thông qua quá trình lên men sinh học là biện pháp kỹ thuật giúp trả lại độ phì cho đất, giảm chi phí đầu vào và hạn chế ô nhiễm nông thôn.
Xã Đa Phúc, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình là một địa bàn thuần nông miền núi với cây trồng chủ lực là mía, ngô và lúa nước. Lượng phụ phẩm phát sinh sau thu hoạch tại đây rất lớn (trung bình 3–4 tấn/hộ/năm, tương đương 2,5–3 tấn/ngày cho toàn xã), nhưng chủ yếu bị đốt hoặc vứt bỏ ngoài tự nhiên, gây tắc nghẽn dòng chảy và trở thành nơi lưu trú của sinh vật truyền bệnh. Trước thực trạng đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường của tác giả Bùi Văn Thiệu (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) đã thực hiện đề tài: “Ứng dụng vi sinh vật hữu hiệu (EM) để xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp tại xã Đa Phúc, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình”.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của xã Đa Phúc ảnh hưởng đến phát sinh chất thải.
- Điều tra thực trạng phát sinh, phân loại và các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt, phế phụ phẩm nông nghiệp tại địa phương.
- Đánh giá mức độ nhận thức của cộng đồng dân cư về chế phẩm vi sinh vật (VSV) và kỹ thuật ủ phân hữu cơ.
- Thử nghiệm ứng dụng hai dạng chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu (dịch lỏng EM2 và bột EM Bokashi) để ủ phế phụ phẩm nông nghiệp (rơm rạ, lá mía), theo dõi các biến thiên động thái và đánh giá chất lượng mùn thành phẩm.
- Đối tượng nghiên cứu: Phế phụ phẩm nông nghiệp gồm rơm rạ khô, vỏ lá mía khô; chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu gồm chế phẩm dịch EM2 và chế phẩm dạng bột EM Bokashi.
- Phạm vi không gian: Khảo sát xã hội học trên địa bàn xã Đa Phúc; thực nghiệm mô hình ủ đống bố trí tại xóm Tung, xã Đa Phúc, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ ngày 01/01/2014 đến ngày 15/04/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên các cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý chuyên ngành quản lý chất thải và công nghệ môi trường:
- Cơ sở khoa học: Khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường và chất thải nông nghiệp. Cơ chế phân hủy sinh học hiếu khí chất thải hữu cơ dưới tác động của tập đoàn vi sinh vật hữu hiệu (EM - Effective Microorganisms) gồm hơn 80 chủng vi sinh vật kỵ khí và hiếu khí thuộc 10 chi (nhóm vi khuẩn Bacillus, vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn Lactic...). Các chủng này tiết enzyme phân giải các hợp chất đại phân tử khó tiêu (xenluloza, tinh bột, lignin, protein) thành dạng hòa tan dễ tiêu, chuyển hóa lân khó tiêu thành lân dễ tiêu, ức chế vi sinh vật gây thối và sinh kháng sinh tiêu diệt mầm bệnh vùng rễ.
- Cơ sở pháp lý: Căn cứ Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005; Nghị định số 80/2006/NĐ-CP và Nghị định số 21/2008/NĐ-CP; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn; Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại; Quyết định số 1630/QĐ-BTNMT ngày 01/10/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành danh mục chế phẩm sinh học được phép lưu hành trong xử lý chất thải tại Việt Nam; TCVN 6696:2000 về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh.
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Thu thập số liệu thứ cấp: Dữ liệu địa lý, khí hậu thủy văn, hiện trạng kinh tế – xã hội từ niên giám thống kê và báo cáo tổng kết hàng năm của UBND xã Đa Phúc; tài liệu khoa học về công nghệ ủ phân hữu cơ trong nước và quốc tế.
- Thu thập số liệu sơ cấp: Khảo sát bằng phiếu điều tra bán cấu trúc (câu hỏi đóng kết hợp mở) trên cỡ mẫu 60 hộ gia đình tại địa phương theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có phân tầng; theo dõi lượng rác sinh hoạt phát sinh thực tế tại hộ dân.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm thực nghiệm:
- Chuẩn bị nguyên vật liệu: Rơm rạ và lá mía khô băm nhỏ kích thước 5–7 cm, làm ẩm bằng nước sạch và phối trộn chế phẩm vi sinh. Dụng cụ gồm bình ô doa tưới, thùng xốp làm khuôn chứa và bạt nilon che phủ giữ ẩm, giữ nhiệt.
- Bố trí công thức ủ: Thí nghiệm gồm 4 công thức đối chứng và so sánh chéo:
- Công thức 1 (CT1): 10 kg rơm rạ + chế phẩm dịch EM2.
- Công thức 2 (CT2): 10 kg lá mía + chế phẩm bột EM Bokashi.
- Công thức 3 (CT3): 5 kg rơm rạ + 5 kg lá mía + chế phẩm bột EM Bokashi.
- Công thức 4 (CT4): 5 kg rơm rạ + 5 kg lá mía + chế phẩm dịch EM2.
- Đo đạc và theo dõi động thái: Theo dõi diễn biến nhiệt độ đống ủ định kỳ (ngày thứ 1, 10, 20, 30, 40, 50, 53) bằng nhiệt kế; cân trọng lượng đống ủ bằng cân đồng hồ định kỳ 10 ngày/lần; đo kích thước hình học (chiều dài $a$, chiều rộng $b$, chiều cao $h$) để tính toán thể tích khối ủ theo công thức $V = a \times b \times h$; quan sát cảm quan độ biến đổi màu sắc khối ủ.
- Phương pháp phân tích hóa lý: Các mẫu phân hữu cơ sau 53 ngày ủ được gửi phân tích tại Viện Khoa học Sự sống – Đại học Nông Lâm Thái Nguyên để xác định các chỉ tiêu: pH ($H_2O$), tỷ lệ mùn tổng số (%), hàm lượng Nitơ dễ tiêu (mg/100g) và Photpho dễ tiêu ($P_2O_5$ trao đổi, mg/100g).
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tính toán thống kê mô tả, tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình và phân tích thống kê so sánh giữa các công thức ủ.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ sinh học thay thế phân bón hóa học đắt đỏ nhằm bảo vệ cấu trúc đất và giảm ô nhiễm vùng nông thôn. Xác định mục tiêu nghiên cứu là ứng dụng chế phẩm EM để chế biến rác thải nông nghiệp tại xã Đa Phúc. Nêu rõ 2 yêu cầu thực tiễn (ứng dụng quy mô hộ gia đình, giải pháp khả thi với sự đồng thuận của nhân dân) và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài trong việc chuyển giao quy trình kỹ thuật cho nông dân.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa chuyên ngành và phân tích tác động tiêu cực của rác thải nông thôn: phát sinh khí độc ($H_2S, NH_3, CH_4, SO_2, CO_2$), làm nghèo kiệt đa dạng sinh học đất và ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm lây lan dịch tả, lỵ, thương hàn. Phân tích hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và các bộ ngành về quản lý chất thải rắn.
Tổng thuật kinh nghiệm quản lý, phân loại rác tại nguồn ở Nhật Bản (phát sinh 450 triệu tấn rác/năm, tái chế >36%, chi phí 300.000 Yên/người), Đức, Hà Lan, Mỹ và Singapore. Trích dẫn bảng thống kê tỷ lệ xử lý chất thải rắn tại 9 quốc gia trên thế giới:
| STT |
Quốc gia |
Tái chế (%) |
Chế biến phân vi sinh (%) |
Chôn lấp (%) |
Thiêu đốt (%) |
| 1 |
Canada |
10 |
2 |
80 |
8 |
| 2 |
Đan Mạch |
19 |
4 |
29 |
48 |
| 3 |
Phần Lan |
15 |
0 |
83 |
2 |
| 4 |
Pháp |
3 |
1 |
54 |
42 |
| 5 |
Đức |
16 |
2 |
46 |
36 |
| 6 |
Ý |
3 |
3 |
74 |
20 |
| 7 |
Thụy Điển |
16 |
34 |
47 |
3 |
| 8 |
Thụy Sỹ |
22 |
2 |
17 |
59 |
| 9 |
Mỹ |
15 |
2 |
67 |
16 |
Đồng thời, tổng hợp hiện trạng các nhà máy sản xuất phân compost tập trung tại Việt Nam (nhà máy Cầu Diễn công suất 140 tấn/ngày; Nam Định 250 tấn/ngày; Việt Trì 35,2 tấn/ngày; Hóc Môn 240 tấn/ngày đã đóng cửa; nhà máy Cẩm Quan – Hà Tĩnh đầu tư 156 tỷ đồng vốn ODA Bỉ công suất 200 tấn/ngày). Đánh giá đặc tính các dòng chế phẩm sinh học hiện hành: EM2, EM Bokashi, EMUNIV (mật độ $>10^9$ CFU/g), Compost Maker ($10^8$ CFU/g); và hiệu quả các mô hình thực nghiệm như xử lý rác/phân gia súc bằng Biomix1 và Biomix2 tại Vĩnh Phúc (giảm COD từ 1.697 xuống 330 mg/l, giảm SS từ 1.160 xuống 144 mg/l), mô hình Compost Maker trên cây chè tại xã Hùng Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An (120 hộ làm 600 tấn phân, năng suất chè tăng 25%, tiết kiệm 28.000 đồng/tấn so với phân chuồng).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết về đối tượng thực nghiệm (rơm rạ, vỏ lá mía; chế phẩm EM2, EM Bokashi), địa bàn nghiên cứu tại xóm Tung, thời gian nghiên cứu trong 3,5 tháng. Mô tả cụ thể phương pháp điều tra 60 hộ gia đình, quy trình sơ chế phế phẩm (băm nhỏ 5–7 cm, tưới ẩm), thiết kế 4 công thức ủ đống đối chứng trong thùng xốp, các công thức toán học đo thể tích, nhật trình theo dõi nhiệt độ, khối lượng và phương pháp phân tích mẫu hóa học tại Viện Khoa học Sự sống.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này phản ánh toàn bộ kết quả điều tra và số liệu thực nghiệm thu được:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội xã Đa Phúc: Tổng diện tích tự nhiên 2.740,6 ha (địa hình đồi núi đá vôi chia cắt xen kẽ thung lũng); dân số 1.182 hộ với 5.446 nhân khẩu phân bố ở 15 xóm, gồm 3 dân tộc (Mường chiếm 98,6%, Kinh chiếm 1,2%, Thái chiếm 0,2%). Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 40%, thu nhập bình quân năm 2013 đạt 9,06 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế thuần nông: diện tích trồng mía 700 ha (sản lượng 56.000 tấn), ngô 240,6 ha (sản lượng 786,7 tấn), lúa 120 ha (sản lượng 504 tấn), sắn 155,44 ha.
- Thực trạng phát sinh và quản lý rác thải sinh hoạt (CTRSH): Lượng phát sinh đạt 0,15–0,7 kg/người/ngày (trung bình 0,37 kg/người/ngày). Tổng lượng CTRSH phát sinh của 60 hộ khảo sát là 54,74 tấn/năm; trong đó rác hữu cơ chiếm 72% (39,42 tấn/năm, trung bình 657 kg/hộ/năm), rác vô cơ chiếm 26,9% (14,7 tấn/năm, 245,5 kg/hộ/năm), chất thải nguy hại chiếm 1,1% (0,62 tấn/năm, 10,03 kg/hộ/năm). Các phương thức xử lý rác sinh hoạt của người dân gồm: đổ ra vườn/hố rác gia đình chiếm 50% (30 hộ), vứt trực tiếp ra khe suối ao hồ chiếm 35% (21 hộ), đốt chiếm 10% (6 hộ), chỉ có 5% (3 hộ) ủ làm phân bón.
- Thực trạng phát sinh và xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp: Tổng khối lượng phụ phẩm phát sinh từ 60 hộ đạt 1.130 tấn/năm (vỏ lá mía 670 tấn, rơm rạ 250 tấn, thân cây họ đỗ 195 tấn, phụ phẩm khác 15 tấn). Phân tích cách thức xử lý cho thấy tập quán đốt ngoài đồng ruộng rất phổ biến (85 lượt hộ, đặc biệt với lá mía có 60 hộ chọn phương pháp đốt để dọn ruộng nhanh), 191 lượt hộ tận dụng làm thức ăn gia súc, 112 lượt hộ làm chất độn chuồng ủ phân và 66 lượt hộ thải bỏ tự do. Tình trạng bao bì thuốc bảo vệ thực vật vứt bừa bãi ngoài ruộng chưa có bể thu gom chuyên dụng.
- Nhận thức cộng đồng về chế phẩm sinh học: Điều tra 60 hộ cho thấy chỉ 11,6% (7 người) biết rõ về chế phẩm vi sinh; 40,0% (24 người) chỉ nghe nói nhưng không hiểu rõ đặc tính; và 48,4% (29 người) hoàn toàn không biết do thiếu kênh thông tin truyền thông nông thôn.
- Kết quả thực nghiệm ủ phế phẩm bằng chế phẩm EM:
- Nhiệt độ: Tăng nhanh từ 20°C ban đầu lên ngưỡng cực đại 57–59,6°C trong khoảng ngày thứ 10 đến ngày 25 (giai đoạn vi sinh vật hoạt động mạnh nhất), sau đó hạ dần về 45–52°C ở ngày thứ 53. Công thức CT2 đạt nhiệt độ cao nhất (59,6°C vào ngày thứ 20).
- Độ suy giảm khối lượng và thể tích sau 53 ngày:
| Công thức |
Khối lượng ban đầu (kg) |
Khối lượng sau ủ (kg) |
Mức giảm trọng lượng (%) |
Thể tích ban đầu ($m^3$) |
Thể tích sau ủ ($m^3$) |
Mức giảm thể tích (%) |
| CT1 (Rơm + EM2) |
10,0 |
4,50 |
55,0 |
0,252 |
0,1123 |
48,0 |
| CT2 (Lá mía + EM Bokashi) |
10,0 |
4,35 |
56,5 |
0,216 |
0,1176 |
53,3 |
| CT3 (Rơm + Lá mía + Bokashi) |
10,0 |
4,40 |
56,0 |
0,234 |
0,1100 |
53,0 |
| CT4 (Rơm + Lá mía + EM2) |
10,0 |
4,60 |
54,0 |
0,234 |
0,1170 |
50,0 |
- Màu sắc và độ hoai mục: Toàn bộ 4 công thức chuyển hóa hoàn toàn sang màu nâu đen mùn tơi xốp sau 45–49 ngày. Trong đó, công thức CT2 chuyển đen nhanh nhất (ngày thứ 45), CT1 và CT4 chuyển màu ở ngày 48, CT3 đạt màu đen ở ngày 49.
- Hàm lượng dinh dưỡng của phân thành phẩm:
| Công thức |
pH ($H_2O$) |
Mùn tổng số (%) |
Nitơ dễ tiêu (mg/100g) |
Photpho dễ tiêu (mg/100g) |
| CT1 (Rơm + EM2) |
7,74 |
6,18 |
30,66 |
13,38 |
| CT2 (Lá mía + EM Bokashi) |
7,62 |
9,45 |
34,02 |
108,11 |
| CT3 (Rơm + Lá mía + EM Bokashi) |
7,64 |
8,57 |
31,50 |
84,75 |
| CT4 (Rơm + Lá mía + EM2) |
7,66 |
8,35 |
27,44 |
73,98 |
Kết quả và đóng góp
- Kết quả định lượng cụ thể: Khóa luận đã chứng minh tính hiệu quả của công nghệ ủ hiếu khí bằng chế phẩm vi sinh hữu hiệu đối với phế phẩm nông nghiệp vùng cao. Sau 53 ngày lên men, thể tích đống ủ giảm trung bình 51,075% và khối lượng giảm trung bình 52,625%, giúp tinh gọn sinh khối chất thải nông thôn. Phân hữu cơ thành phẩm đạt độ hoai mục tốt, phản ứng môi trường trung tính đến kiềm nhẹ (pH 7,62–7,74). Công thức CT2 (sử dụng 100% lá mía kết hợp EM Bokashi) cho hiệu quả chuyển hóa hữu cơ vượt trội nhất với hàm lượng mùn đạt 9,45%, đạm dễ tiêu đạt 34,02 mg/100g và lân dễ tiêu đạt 108,11 mg/100g.
- Giải pháp và đề xuất của tác giả:
- Đề xuất chính quyền địa phương và hội đoàn thể (Hội đồng nhân dân, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ) tổ chức tập huấn kỹ thuật ủ phân hữu cơ bằng chế phẩm EM tận dụng nguồn phế phụ phẩm mía và rơm rạ dồi dào.
- Phổ biến quy trình kinh tế: Sử dụng 1 lít chế phẩm EM2 (giá thị trường thời điểm đó là 10.000 đồng/lít) có thể xử lý từ 700–1.000 kg rác; hoặc đầu tư thêm 38.000 đồng tiền cám gạo và mùn cưa (6–7 kg) để phối chế dạng bột EM Bokashi lên men cho 1.000 kg rác, đem lại phân bón giàu dinh dưỡng hơn.
- Xây dựng mô hình các bể chứa bằng bê tông có mái che tại các cánh đồng để thu gom riêng vỏ chai lọ, bao bì thuốc bảo vệ thực vật độc hại nhằm tuân thủ Thông tư 12/2011/TT-BTNMT.
- Thiết lập kênh cung ứng dịch vụ buôn bán chế phẩm sinh học chính hãng về các thôn xóm vùng sâu, vùng xa.
- Đóng góp mới của tác giả: Cung cấp bộ số liệu thực địa đầu tiên về kiểm kê lượng phát sinh chất thải sinh hoạt và phế phụ phẩm cây trồng tại xã Đa Phúc; xác lập công thức phối trộn và so sánh định lượng trực tiếp giữa dạng lỏng (EM2) và dạng bột ủ yếm khí/hiếu khí (EM Bokashi) trên chất nền lá mía và rơm rạ đặc thù của vùng núi Hòa Bình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận:
- Thí nghiệm mới thực hiện ở quy mô mô hình mô phỏng thể tích nhỏ (10 kg sinh khối/công thức trong thùng xốp), chưa triển khai ở quy mô luống ủ ngoài đồng ruộng hoặc đống ủ trang trại hàng tấn.
- Khảo sát thực trạng xã hội học giới hạn ở 60 hộ gia đình trên tổng số 1.182 hộ của xã.
- Nghiên cứu mới dừng lại ở bước phân tích thành phần hóa lý cơ bản của mùn phân sau 53 ngày, chưa tiến hành bón thực nghiệm trên các đối tượng cây trồng chính của địa phương (mía, lúa, ngô) để đánh giá chỉ số sinh trưởng và năng suất kinh tế thực tế.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai mở rộng mô hình ủ đống lớn tại hiện trường các hộ nông dân, nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ môi trường các mùa khác nhau đến tốc độ phân giải.
- Nghiên cứu công thức tự nhân sinh khối vi sinh và sản xuất Bokashi từ nguyên liệu cám, bã thải địa phương để hạ giá thành đầu vào.
- Thử nghiệm bón đối chứng phân hữu cơ vi sinh sản xuất từ lá mía lên đất canh tác mía và ngô tại địa phương nhằm xác định liều lượng bón tối ưu.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Nông học và Công nghệ Sinh học: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về thiết kế thí nghiệm ủ phân hữu cơ (composting), kỹ thuật theo dõi động thái nhiệt - khối lượng - thể tích và phương pháp xử lý số liệu điều tra môi trường nông thôn.
- Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, huyện và cán bộ trạm khuyến nông: Tham khảo quy trình kỹ thuật ủ rác hữu cơ bằng men vi sinh chi phí thấp để phổ biến, chuyển giao cho bà con nông dân.
- Các hộ nông dân canh tác mía, ngô, lúa: Hướng dẫn kỹ thuật cụ thể về tỷ lệ cắt băm, độ ẩm, liều lượng chế phẩm vi sinh EM2 và Bokashi để tự ủ phân bón chất lượng cao, giảm thiểu chi phí phân vô cơ.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ phát sinh các thành phần rác thải sinh hoạt tại xã Đa Phúc theo kết quả khảo sát 60 hộ gia đình là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra của tác giả, tổng khối lượng CTRSH phát sinh của 60 hộ là 54,74 tấn/năm (trung bình 0,37 kg/người/ngày). Trong đó:
- Thành phần rác hữu cơ chiếm tỷ lệ lớn nhất: 72,0% (tương đương 39,42 tấn/năm hay 657 kg/hộ/năm).
- Thành phần rác vô cơ chiếm: 26,9% (tương đương 14,7 tấn/năm hay 245,5 kg/hộ/năm).
- Chất thải nguy hại chiếm: 1,1% (tương đương 0,62 tấn/năm hay 10,03 kg/hộ/năm).
2. Khóa luận đã thử nghiệm bao nhiêu công thức ủ và công thức nào cho hàm lượng dinh dưỡng cao nhất?
Khóa luận đã thử nghiệm 4 công thức:
- CT1: 10 kg rơm + EM2
- CT2: 10 kg lá mía + EM Bokashi
- CT3: 5 kg rơm + 5 kg lá mía + EM Bokashi
- CT4: 5 kg rơm + 5 kg lá mía + EM2
Kết quả phân tích tại Viện Khoa học Sự sống cho thấy công thức CT2 đạt chất lượng dinh dưỡng cao nhất với tỷ lệ mùn 9,45%, hàm lượng Nitơ dễ tiêu 34,02 mg/100g và Photpho dễ tiêu 108,11 mg/100g.
3. Khối lượng và thể tích của các đống ủ suy giảm như thế nào sau 53 ngày thí nghiệm?
Sau 53 ngày, các đống ủ có bổ sung chế phẩm vi sinh đều phân hủy mạnh thành mùn:
- Khối lượng giảm từ 54,0% đến 56,5% (trung bình giảm 52,625%), trong đó CT2 giảm mạnh nhất (56,5%, khối lượng từ 10 kg xuống còn 4,35 kg).
- Thể tích giảm từ 48,0% đến 53,3% (trung bình giảm 51,075%), trong đó CT2 giảm nhiều nhất (53,3%, từ 0,216 $m^3$ xuống còn 0,1176 $m^3$).
4. Mức độ nhận thức của người dân địa phương về chế phẩm vi sinh vật xử lý rác được ghi nhận ra sao?
Qua phỏng vấn 60 đối tượng, mức độ hiểu biết về chế phẩm VSV còn rất thấp do hạn chế về truyền thông: chỉ có 11,6% (7 người) biết rõ; 40,0% (24 người) không biết rõ (chỉ nghe qua nhưng không nắm bản chất); và có tới 48,4% (29 người) hoàn toàn không biết.
5. Chi phí sử dụng chế phẩm vi sinh vật để xử lý 1 tấn rác thải nông nghiệp được tác giả hạch toán như thế nào?
Theo khảo sát giá cả thị trường của tác giả, 1 lít chế phẩm EM2 có giá 10.000 đồng, đủ để xử lý 700–1.000 kg rác thải hữu cơ. Nếu sản xuất dạng bột EM Bokashi từ 1 lít EM2 kết hợp 6–7 kg cám gạo và mùn cưa, tổng chi phí nguyên liệu phụ trợ là khoảng 38.000 đồng cho 1.000 kg (1 tấn) rác thải.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Văn Thiệu đã phản ánh chân thực thực trạng ô nhiễm môi trường nông thôn do thói quen đốt và xả thải phụ phẩm mía, rơm rạ tại xã Đa Phúc, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. Thông qua việc bố trí thực nghiệm khoa học trong 53 ngày, nghiên cứu đã chứng minh chế phẩm EM (đặc biệt là EM Bokashi phối trộn trên lá mía) giúp phân hủy nhanh chất thải thành phân hữu cơ tơi xốp, giàu mùn và khoáng dễ tiêu, làm giảm hơn một nửa khối lượng và thể tích rác ban đầu. Đây là giải pháp kỹ thuật sinh học đơn giản, kinh tế và phù hợp với điều kiện nông hộ vùng sâu, vừa góp phần bảo vệ môi trường, vừa hỗ trợ cải tạo đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững.