Đặt vấn đề: Xói lở bờ sông là hiện tượng khá phổ biến, đã và đang diễn ra ở hầu hết các triền sông trong cả nước. Đối với hệ thống sông Cửu Long (sông Tiền và sông Hậu), hiện nay có tới hàng trăm điểm xói lở bờ, trong đó trọng điểm là bảy khu vực: Thường Phước, Tân Châu, Long Xuyên, Hồng Ngự, Sa Đéc, Tp. Vĩnh Long, Tp. Cần Thơ, TT Gành Hào.
Do vậy, đối với việc nghiên cứu phòng chống xói lở bảo vệ bờ phải có kế hoạch, từ việc khảo sát đo đạc, thu thập các tài liệu cơ bản như: thủy văn bùn cát, địa chất, địa hình, môi trường…nghiên cứu thấu đáo quy luật diễn biến lòng sông, quy luật hình thái sông, xác định rõ nguyên nhân, cơ chế, đặc điểm xói lỡ. Xói lỡ hàng năm đã cuốn đi hàng trăm hécta đất canh tác, trên 3000 căn hộ bị sụp đổ và buộc phải di dời, nhiều công trình kiến trúc, văn hóa cơ sở hạ tầng bị sụp đổ xuống sông, một thị xã tỉnh lị phải di dời đi nơi khác (Sa Đéc) là mối đe dọa nghiêm trọng cho tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân ở ven sông làm cản trở đến kế hoạch xây dựng, khai thác, phát triển bền vững dân sinh, kinh tế, xã hội, môi trường.Với đặc thù về điều kiện dòng chảy và lòng dẫn của hệ thống sông Cửu Long các công trình bảo vệ bờ trên sông phải dựa trên quy hoạch tuyến chỉnh trị, trong điều kiện hiện nay khi chưa có điều kiện thực hiện được toàn bộ tuyến chỉnh trị thì việc bảo vệ trực tiếp, tại chỗ nhằm tạo cho mái bờ một áo giáp, chống lại dòng chảy trong sông và dòng thấm khi lũ xuống, triều rút tuy là phương án bị động nhưng phát huy tác dụng ngay. Việc xây dựng công trình bảo vệ bờ trên sông ngoài việc phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường còn phải đảm bảo khai thác tổng hợp, phải bền vững và mỹ quan. Cho đến nay việc thiết kế tường chắn thường được tiến hành theo phương pháp truyền thống đơn giản (cân bằng giới hạn) hay theo phương pháp kinh nghiệm.
Phương pháp đơn giản thường được áp dụng cho tường trọng lực, tường consol ngàm, tường ngàm với một thanh chống hay neo. Thông thường những phương pháp đó cho ta kết quả hạn chế về sự chuyển dịch và không có kết quả về sự tương tác giữa tường và đất. -2- Xuất phát từ thực tiễn trên, bên cạnh các kết cấu đê kè truyền thống người ta còn sử dụng kết cấu cọc ván dự ứng lực xem như là một giải pháp phổ biến cho việc thi công các kết cấu đứng dọc bờ sông. Tường cọc bản, là một dạng đặc biệt của tường chắn đất với mục đích chung là chịu tải trọng ngang gây ra bởi mặt đất tự nhiên, đất đắp, tải trọng bên trên.
Hệ thống kết cấu bao gồm tường và hệ thống kết cấu chống đỡ tường, ngoài ra tường còn ngàm vào đất bên dưới. Trong hầu hết các trường hợp, đất vừa gây ra lực tác động lên tường vừa là kết cấu chống đỡ hay giữ tường, tạo ra sự dịch chuyển cơ học của hệ kết cấu trong đất. Người thiết kế phải biết các định nội lực và mức độ chuyển dịch của kết cấu. Thông thường, chúng được xác định trong điều kiện làm việc cực hạn.
Bên cạnh đó, cũng cần xác định mức độ chuyển dịch tiềm tàng của đất có thể xảy ra trong quá trình thi công kết cấu vì sự thoát nước bên trong xuất hiện. Do đó, ứng xử của đất trong quá trình thi công ảnh hưởng đến sự làm việc của cọc bản là rất lớn cần phải xem xét. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng loại tường cọc bản bê tông dự ứng lực hợp lý và kinh tế cho khu vực huyện Thới Lai, Tp. Phân tích cơ sở lý thuyết tính toán tường cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực.
Mô phỏng bằng phần mềm plaxis để phân tích và đánh giá sự làm việc của hệ thống tường cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực. Phân tích, so sánh kết quả giữa tính toán giải tích và plaxis 2D. Phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý thuyết về tính toán tường cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực. Sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn (Plaxis) để mô phỏng sự làm việc thực tế của kết cấu kè.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu, tính toán tìm ra loại tường cọc bản bê tông dự ứng lực thích hợp với khu vực lựa chọn. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn (phần mềm Plaxis) mô phỏng gần sát với điều kiện làm việc của cọc ngoài thực tế cho ta có thể kiểm soát -3- được trạng thái ứng xử của đất và các nguyên nhân tác động lên chúng bằng cách đưa các thông số đầu vào phù hợp, là một công cụ hỗ trợ đắt lực giúp tìm ra lời giải chính xác hơn, tối ưu hơn… 4. Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài làm rõ ưu, nhược điểm của kết cấu kè sử dụng tường cọc bản bê tông dự ứng lực, đưa ra loại tường cọc phù hợp làm cơ sở cho việc ứng dụng hiện tại và trong tương lai phục vụ cho nhu cầu xây dựng công trình bảo vệ bờ ở nơi thị trấn, thành phố, nơi tập trung đông dân cư….cụ thể là khu vực phường huyện Thới Lai, Tp.
Dùng phần mềm Plaxis mô phỏng, dự đoán các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình thi công làm giảm nguy cơ gây hại đến công trình. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ mô phỏng, phân tích, tính toán tường cọc bản trong phạm vi giới hạn địa chất của công trình và một số vùng lân cận. Dựa trên hồ sơ khảo sát địa chất, các số liệu quan trắc xem như là tương đối chính xác để làm cơ sở nghiên cứu cho bài toán phân tích kè. Đề tài không đi sâu nghiên cứu, tải trọng động và sóng va tác động lên tường.
TỔNG QUAN VỀ TƯỜNG CỌC BẢN BÊ TÔNG CỐT THÉP DỰ ỨNG LỰC ĐỂ ỔN ĐỊNH BỜ SÔNG. Các giải pháp công nghệ mới trong công trình bảo vệ bờ sông [1]: Ứng dụng vật liệu mới: Sử dụng các sản phẩm từ sợi tổng hợp có cường độ cao, ứng dụng nhựa uPVC chế tạo tấm cọc nhựa, công nghệ bêtông Miclayo sử dụng phụ gia CSSB. Sử dụng các loại thực vật thân thiện với môi trường (kỹ thuật mềm): Kỹ thuật 'Mềm', hoặc công nghệ sinh học là sử dụng thực vật thích hợp để giữ lại bờ sông, nó ít tốn kém và cung cấp nhiều lợi ích. Kết hợp giữa công nghệ cứng và vật liệu mềm: Hỗ trợ cho các công trình kè cứng bằng cách tạo ra một thảm thực vật ở ngay phía ngoài hoặc phía trong chân kè cứng vừa tăng ổn định chân kè vừa tạo cảnh quan.
Công nghệ mới gia cố mái bờ và chân bờ: Lưới địa kỹ thuật, bấc thấm ngang, gia cố chân bờ sông bằng công nghệ cọc xi măng đất. Cải tiến giải pháp thi công. Cải tiến cấu kiện và kết cấu công trình: Sử dụng các sản phẩm từ sợi tổng hợp có cường độ cao, cải tiến thảm thanh và tấm bêtông đơn giản liên kết bằng thanh thép bằng thảm khối bê tông phức hình hoặc liên kết dây mềm, cải tiến các loại rồng, rọ đá, cải tiến các khối bê tông lát mái, ứng dụng công nghệ bê tông ứng suất trước chế tạo cọc bản BTCT dự ứng lực. Với sự ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, lĩnh vực công trình chỉnh trị sông, bảo vệ bờ sông chống lũ đã có được nhiều cải tiến.
Nhiều vật liệu, công nghệ mới đã được sử dụng, nổi bậc là việc sử dụng rộng rãi các sản phẩm cọc bản bê tông dự ứng lực có khả năng chịu tải trọng ngang lớn. Hiện nay loại kết cấu này ứng dụng khá phổ biến để bảo vệ bờ sông vùng đồng bằng Nam Bộ. Giới thiệu về cọc bản bê tông dự ứng lực [2]: Trong kỹ thuật xây dựng, cọc bản thường được thiết kế để gia cố nền móng các tòa nhà cao tầng, móng các trụ cầu giao thông, xử lý nền móng các cống đập thủy lợi, làm tường chắn các công trình chống sạt lỡ bờ sông, bờ biển, công trình cầu cảng,. có thể nói cọc bản là một bộ phận không thể thiếu, đóng vai trò quan trọng quyết định đến độ ổn định và an toàn các công trình xây dựng.
-5- Cọc bản là loại cọc có kích thước chiều dày nhỏ hơn nhiều lần so với chiều rộng và chiều dài. Có thể chia ra các loại cọc bản chính như sau: - Cọc bản bằng gỗ: loại vật liệu này có ở mọi nơi, dễ sử dụng, gia công theo ý muốn, giá thành rẻ nhưng tuổi thọ không cao, hạn chế chống thấm,.và các quy định về “Bảo vệ môi trường” làm cho vật liệu này ít sử dụng hơn. - Cọc bản thép: Sản xuất công nghiệp với nhiều chủng loại và kích cỡ, thi công nhanh chóng, có thể dễ dàng nối dài hoặc cắt ngắn theo chiều dài yêu cầu. Cọc bản thép được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành xây dựng trên thế giới cũng như ở Việt nam.
Nhưng vẫn còn tồn tại nhược điểm là tiêu tốn nhiều thép, loại vật liệu đắt tiền nhất trong các vật liệu xây dựng và thường bị ăn mòn trong môi trường nước biển. - Cọc bản bằng vật liệu tổng hợp: Cọc bản Composite, cọc bản nhựa chống xâm thực và ăn mòn trong môi trường nước chua mặn, thi công lắp đặt gọn nhẹ, thuận tiện khi vận chuyển, tăng vẻ mỹ quan cho công trình,. nhưng khả năng chịu lực không cao như các loại cọc bản thép và bê tông cốt thép nên hạn chế phạm vi sử dụng. - Cọc bản bê tông cốt thép: Sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực xây dựng, tuy nhiên do trọng lượng cọc khá lớn nên khó khăn trong thi công và hay bị nứt trong quá trình vận chuyển.
Do vậy để giảm khối lượng vật liệu (thép và bê tông) và tăng khả năng chịu lực cho cọc ta sử dụng các loại cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực thay thế các loại cọc bản bê tông cốt thép thường. Công nghệ cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực do tập đoàn P. Mishubishi (Nhật Bản) nghiên cứu chế tạo từ những năm giữa thế kỉ XX, bao gồm nhiều loại kết cấu khác nhau như: cọc bản phẳng tiết diện chữ nhật, cọc bản tiết diện chữ U, cọc bản tiết diện chữ H,.