Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VIỆC ỨNG DỤNG PHẦN MỀM THINGLINK TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH 1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh 1. Khái niệm năng lực Năng lực là một nội dung được bàn luận và nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học và các cuốn sách của các học giả nổi tiếng. Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê:“Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện hành động nào đó.
Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”[13]. Trong cuốn sách Tâm lí học đại cương tác giả Cosmovici viết: “Năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định” [5]. Từ những định nghĩa trên có thế hiểu năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động ở một bối cảnh nhất định bằng việc huy động tất cả các kiến thức, kĩ năng, thái độ… của cá nhân không chỉ vậy năng lực của mỗi người được đánh giá qua phương thức và khả năng người đó giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Ở một góc nhìn khác, có thể hiểu năng lực là một cấu trúc động, có tính mở thể hiện sự sẵn sàng hành động của HS trong môi trường học tập phổ thông và thích ứng với những thay đổi của môi trường và xã hội.
Năng lực cũng là một yếu tố quan trọng để đánh giá tính hiệu quả công việc của một cá nhân so với những người khác, là thước đo sự nhạy bén, linh hoạt và tính thích ứng của cá nhân trong một môi trường cụ thể. Đặc điểm của năng lực - Về nguồn gốc hình thành, một phần nào đó năng lực được hình thành từ tư chất tự nhiên của mỗi người, tuy nhiên phần lớn năng lực chỉ được bồi đắp và phát triển trong quá trình học tập, làm việc tại các cơ sơ giáo dục, rèn luyện qua những trải nghiệm thực tế và sự quan sát, lĩnh hội trong chính cuộc sống hằng ngày. - Mức độ đánh giá năng lực hoàn toàn khác nhau giữa các cá nhân và phu thuộc vào vốn sống, sự tiếp thu, học hỏi cũng như sự hiểu biết trong từng lĩnh vực của con người. 11 “Năng lực gắn liền với từng hoạt động cụ thể, được biểu hiện qua cách giải quyết công việc‚ học tập, thực hiện nhiệm vụ của mỗi người.
Năng lực của một người khi trong các hoạt động là khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở mỗi cá nhân, và nó được hình thành trong quá trình sống cũng như giáo dục của mỗi người” [22]. Ngoài ra, năng lực cũng chịu sự chi phối‚ sự ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố như: con người‚ gia đình, môi trường làm việc‚ môi trường giáo dục… 1. Các yếu tố cấu thành năng lực Năng lực thường bao gồm các yếu tố như kiến thức, kĩ năng, thái độ cụ thể là: - Kiến thức: Là những tri thức mà cá nhân tích lũy được qua quá trình học tập, trau dồi bản thân. - Kĩ năng: Những hành động được lặp đi lặp lại, thực hiện một cách thuần nhờ quá trình tập luyện để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được giao được gọi là kĩ năng.
- Thái độ: Là cách xem xét, đánh giá về một sự vật, hiện tượng, cách xử lí các công việc, cách ứng xử của cá nhân đối với cộng đồng và xã hội [14]. Năng lực chung và năng lực đặc thù Theo cách phân loại của chương trình GDPT 2018 thì năng lực phân làm 2 loại đó là năng lực chung và năng lực đặc thù trong đó năng lực chung được hiểu là những năng lực cơ bản, cần thiết để con người thực hiện các hoạt động và nhiệm vụ. Những năng lực mà HS THPT cần hình thành căn bản đó là tự học, tự quản lí, giao tiếp, sử dụng CNTT và truyền thông…[3] Bên cạnh đó chương trình GDPT 2018 còn đề cập tới khái niệm năng lực đặc thù, đó được xem là những năng lực phải được hình thành từ các hoạt động chuyên biệt, ở mỗi môn học. Riêng đối với môn học Địa lí thì những năng lực đặc thù đó là năng lực nhận thức khoa học Địa lí theo quan điểm không gian, biết phân tích và giải thích các hiện tượng, sự vật xung quanh, năng lực sử dụng các công cụ Địa lí như bản đồ, at lat để học tập môn Địa lí… [4] 1.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Trong chương trình GDPT 2018, các hoạt động dạy và học được định hướng theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất của HS vì thể khi xây dựng các kế hoạch bài dạy (KHBD) và thiết kế các hoạt động học tập, người GV cần chú ý tới định hướng này. 12 Các kế hoạch bài dạy phải bảo đảm các yêu cầu ở những mục cụ thể như sau: Về mục tiêu: GV hoàn toàn bám vào khung của YCCĐ để sử dụng linh hoạt các nội dung dạy học ở các nguồn tài liệu khác nhau nhằm thực hiện mục tiêu dạy học để phát triển năng lực cho người học. Về thiết bị dạy học và học liệu: GV căn cứ vào mục tiêu dạy học đối với các bài học cụ thể cũng như việc thiết kế các hoạt động học tập để đưa ra những thiết bị, đồ dùng mà GV và HS cần chuẩn bị trước khi tiến hành hoạt động dạy và học. Về các hoạt động học tập: Đối với từng nội dung kiến thức với những YCCĐ cụ thể mà người GV sẽ tiến hành xây dựng các hoạt động hcọ tập để phát triển tối đa các năng lực chung và năng lực đặc thù cho HS.
Điều này được thể hiện đầy đủ từ hoạt động khởi động đến hình thành kiến thức mới, hoạt động luyện tập và hoạt động vận dụng… Khi người GV xây dựng kế hoạch bài dạy dựa theo hướng phát triển năng lực của HS thì bài học sẽ thu hút được sự tham gia tích cực của HS đồng thời mục tiêu bài học sẽ đạt được hiệu quả cao nhất. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 1. Công nghệ thông tin trong dạy học, giáo dục Trong điều kiện công cuộc chuyển đối số đang được tiến hành ở nhiều lĩnh vực thì việc đưa công nghệ thông tin (CNTT) đến gần hơn, sâu sát hơn với GV, HS là một điều tất yếu. Không còn là đơn giản ở mức sử dụng các bài giảng powper point đơn thuần, hiện nay việc đưa CNTT vào hoạt động dạy học đặt ra những đòi hỏi cao hơn nữa.
Đó là việc sử dụng những nguồn học liệu mở trên môi trường số, là việc để HS khai thác những thiết bị công nghệ hiện đại trong các bài học, là việc HS có thể ở nhà và tiếp thu các bài giảng của GV từ xa…[11] Tất cả những điều đó không chỉ đi đúng với sự phát triển của thời đại số mà còn góp phần cơ bản để phát triển ở HS năng lực sử dụng CNTT trong học tập và trong cuộc sống. Đây là điều thực sự cần thiết bởi giáo dục ngày nay không chỉ là bồi đắp, cung cấp kiến thức cho HS mà còn phải giúp HS hình thành được những năng lực cần thiết để các em bước ra ngoài xã hội, thích nghi được với sự phát triển nhanh chóng của thời đại. 13 Trên thực tế “giáo dục Việt Nam có xu hướng giao tiếp theo lối mòn “một thầy - một trò”, quá trình tương tác giữa GV và HS còn nhiều hạn chế. Điều này khiến cho HS lười suy nghĩ, tìm hiểu và khám phá kiến thức mới vì vậy chất lượng học tập không đạt hiệu quả cao như mong đợi” [9] đây là một điều hạn chế mà những người làm giáo dục phải nhìn nhận và rút ra những bài học sâu sắc để đưa ra những giải pháp nhằm cải tiến cách thức truyền thụ cũ kĩ và cổ điển ấy.
Để giải quyết được hạn chế này, không có cách thức nào ưu việt hơn đó là chính người GV phải tự mình đổi mới, phải tự bổ sung kiến thức cho bản thân mình, học hỏi những thành tựu của cách mạng 4.0 để đưa vào các bài giảng của mình, tổ chức các hoạt động học tập có ứng dụng CNTT để HS được tương tác, sử dụng các phần mềm CNTT, biết cách khai thác CNTT để phục vụ hoạt động học tập của mình. Học liệu số trong dạy học, giáo dục Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Thông tư 21/2017/TT-BGDĐT (có hiệu lực ngày 23/10/2017) quy định ứng dụng CNTT trong hoạt động bồi dưỡng, tập huấn qua mạng Internet cho giáo viên, nhân viên và cán bộ quản lý giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thì học liệu số (hay học liệu điện tử) được quy định như sau: Học liệu số là tập hợp các phương tiện điện tử phục vụ cho hoạt động dạy và học trong đó gồm các sản phẩm như giáo trình điện tử, SGK điện tử, tài liệu tham khảo điện tử, bài kiểm tra đánh giá điện tử, bản trình chiếu, bảng dữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm mô phỏng và các học liệu được số hóa khác [47]. CNTT và chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục Có ba vấn đề cốt lõi của ứng dụng CNTT và chuyển đổi số đó là: góp phần tạo ra sự đột phá, phát triển khác biệt cho cả giáo dục phổ thông, giáo dục đại học; lấy người học và người dạy làm trung tâm của chuyển đổi số, lấy lợi ích của người học, nhà giáo, người dân làm thước đo đánh giá chuyển đổi số; xác định vai trò trách nhiệm chuyển đổi mạnh mẽ của cán bộ quản lý, những đòi hỏi này cần được cụ thể hoá bằng những kế hoạch, hành động cụ thể [48]. CNTT và ứng dụng để đổi mới phương pháp dạy học Hiện nay, ứng dụng CNTT trong dạy học được chia làm 4 mức độ: 14 Mức độ 1: CNTT được sử dụng nhằm mục đích hỗ trợ GV soạn giáo án, in ấn, sưu tầm tài liệu… Mức độ này chưa được ứng dụng cho các tiết học cụ thể của từng môn học.
Mức độ 2: CNTT được dùng để hỗ trợ một công việc trong toàn bộ quá trình giảng dạy. Mức độ 3: GV sử dụng phần mềm dạy học để tổ chức một tiết học, một chủ đề hoặc một khóa học. Mức độ 4: Ứng dụng CNTT vào toàn bộ quá trình dạy học [47].