Nghiên cứu ứng dụng nghệ thuật tò he vào áo dài trẻ em 3-5 tuổi - UTEHY

Khám phá nghệ thuật tò he trong thiết kế áo dài cách tân trẻ em. Nghiên cứu giải pháp kết hợp nét văn hóa truyền thống vào thời trang ứng dụng hiện đại.

Chuyên ngành

Thiết kế thời trang

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên

2022

68
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nghệ thuật tò he trong áo dài cách tân trẻ em

Nghệ thuật tò he làng Xuân La mang giá trị văn hóa dân gian lâu đời của dân tộc. Đồ chơi tò he sử dụng bột nặn với màu sắc tự nhiên từ rau củ quả. Các nghệ nhân tạo ra những hình tượng sống động như rồng, phượng, con giống và hoa lá. Đề tài ứng dụng tò he vào trang phục áo dài cách tân cho trẻ em 3-5 tuổi mở ra hướng đi mới. Sự kết hợp này bảo tồn di sản và làm mới thời trang thiếu nhi. Trẻ em lứa tuổi mầm non có nhu cầu vận động rất cao. Việc đưa văn hóa dân gian vào trang phục giúp các em tiếp cận bản sắc dân tộc tự nhiên. Các nhà thiết kế khai thác ngôn ngữ tạo hình dân gian để xây dựng phom dáng áo dài tiện dụng. Dự án nghiên cứu tại Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên chứng minh tính ứng dụng cao của đề tài. Nghệ thuật dân gian trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo dồi dào. Áo dài trẻ em không còn đơn điệu mà trở nên giàu tính thẩm mỹ và giáo dục.

1.1. Nguồn gốc và giá trị tạo hình của nghệ thuật tò he

Nghề nặn tò he xuất phát từ làng Xuân La, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Tên gọi sơ khai của nghề là nặn chim cò. Nguyên liệu chính gồm bột gạo tẻ trộn bột nếp dẻo. Nghệ nhân nhuộm màu bột từ thực vật tự nhiên như gấc, dành dành, lá chàm và tro than. Nghệ thuật tò he phản ánh thế giới quan dung dị của người nông dân Bắc Bộ. Các khối hình tạo tác bằng tay mang tính ngẫu hứng và sống động. Từng chi tiết vuốt, nặn, gắn kết thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân. Giá trị tạo hình tò he nằm ở bảng màu tươi tắn và đường nét ước lệ độc đáo. Đây là chất liệu trực quan tuyệt vời cho thiết kế trang phục trẻ thơ.

1.2. Xu hướng cách tân áo dài cho trẻ em lứa tuổi 3 5

Thời trang trẻ em hiện đại đòi hỏi tính thẩm mỹ và công năng cao. Trẻ từ 3 đến 5 tuổi phát triển nhanh về thể chất và tính hiếu động. Áo dài truyền thống thường gò bó và khó cử động. Áo dài cách tân giải quyết triệt để vấn đề này bằng phom dáng mở rộng. Thiết kế tà ngắn chữ A kết hợp quần lửng hoặc chân váy tạo sự linh hoạt. Xu hướng hiện nay kết hợp yếu tố truyền thống với kỹ thuật cắt may tiên tiến. Các nhà thiết kế chọn lọc họa tiết dân gian để tạo điểm nhấn thị giác. Áo dài cách tân cho bé vừa giữ nét trang trọng vừa mang hơi thở đương đại.

II. Phân tích đặc điểm nhân trắc và tạo hình tò he cho áo dài

Nghiên cứu nhân trắc học trẻ em từ 3 đến 5 tuổi là bước nền tảng trong thiết kế. Giai đoạn này hệ xương và cơ của trẻ đang phát triển mạnh. Tỷ lệ cơ thể trẻ em có sự khác biệt lớn so với người trưởng thành. Vòng ngực bé trai dao động quanh mức 59 cm và bé gái tương đương. Bụng trẻ thường nhô về phía trước, vai xuôi và cổ ngắn. Nếu áp dụng rập áo dài người lớn, trẻ sẽ cảm thấy ngột ngạt và khó chịu. Bên cạnh đó, việc chuyển hóa màu sắc tò he sang vải may mặc cần sự chọn lọc tinh tế. Bảng màu tò he gồm đỏ, vàng, xanh lục, lam rực rỡ nhưng dễ gây rối mắt nếu lạm dụng. Thách thức đặt ra là phải cân bằng giữa màu sắc truyền thống và tính ứng dụng thực tế. Chất liệu vải cũng phải đảm bảo an toàn cho làn da nhạy cảm. Sự hòa hợp giữa nhân trắc và ngôn ngữ tạo hình quyết định sự thành công của mẫu thiết kế.

2.1. Đặc điểm nhân trắc học và vận động của trẻ 3 5 tuổi

Trẻ mầm non 3-5 tuổi không ngừng chạy nhảy và khám phá xung quanh. Số đo cơ thể biến đổi liên tục theo từng chu kỳ tăng trưởng. Chiều dài áo phù hợp cho bé trai là khoảng 63 cm và dài tay 37 cm. Cử động cánh tay và vùng nách đòi hỏi độ mở rộng hợp lý. Vòng nách trung bình 27 cm cần độ dư cử động thoải mái. Thân áo không được ôm sát eo để tránh cản trở hô hấp. Quần áo phải dễ mặc và dễ cởi để hỗ trợ sinh hoạt hàng ngày. Mọi đường may tiếp xúc trực tiếp với da cần êm phẳng tuyệt đối.

2.2. Thách thức trong việc chuyển tải ngôn ngữ tò he lên vải

Tò he là nghệ thuật điêu khắc khối ba chiều từ chất liệu bột mềm. Khi chuyển sang mặt phẳng hai chiều của vải, họa tiết dễ bị biến dạng hoặc mất đi cái thần. Bảng màu tò he nguyên bản có độ tương phản rất mạnh. Nếu phối hợp không khéo, trang phục sẽ trở nên lòe loẹt và thô ráp. Việc lựa chọn kỹ thuật in, thêu hay đắp nổi đòi hỏi sự tính toán kỹ lưỡng. Họa tiết nổi không được cọ xát gây xước da trẻ nhỏ. Độ bền màu khi giặt tẩy cũng là bài toán kỹ thuật quan trọng. Nhà thiết kế cần lược giản chi tiết nhưng vẫn giữ được hồn cốt dân gian.

III. Giải pháp thiết kế áo dài cách tân trẻ em từ nghệ thuật tò he

Quy trình thiết kế áp dụng các giải pháp kỹ thuật và mỹ thuật đồng bộ. Về phom dáng, áo dài bé trai có kết cấu đối xứng, tà áo dáng chữ A và xẻ tà 6 cm hai bên hông. Quần đi kèm là dáng ống đứng rộng rãi với cạp chun co giãn. Áo dài bé gái cách điệu với cổ yếm hoặc tay cánh tiên hai lớp, kết hợp chân váy chữ A xòe nhẹ. Khóa kéo giọt lệ bố trí sau lưng giúp thao tác mặc trang phục nhanh chóng. Về chất liệu, các loại vải tự nhiên như lụa tơ tằm, đũi, cotton và gấm mềm được ưu tiên hàng đầu. Về họa tiết, hình tượng linh vật tò he như rồng mây, phượng hoàng và con gà trống được cách điệu hóa. Phương pháp thêu vi tính kết hợp đắp vải nổi tạo chiều sâu thị giác sống động. Bảng màu phối hợp hài hòa giữa màu xanh ngọc, be nhã nhặn và các điểm nhấn đỏ, vàng tươi sáng.

3.1. Phương pháp phát triển phom dáng và xử lý kết cấu rập

Kết cấu rập áo dài cách tân được hiệu chỉnh dựa trên thông số nhân trắc chuẩn. Cổ áo tròn viền 1 cm hoặc dáng cổ yếm thay thế cho cổ đứng truyền thống. Tay áo raglan hoặc tay lỡ buông nơ giúp trẻ cử động vai linh hoạt. Tà áo cắt ngắn ngang gối để bé không bị vấp ngã khi vui chơi. Độ xẻ tà hai bên từ 6 cm đến 37 cm tùy thuộc mẫu mã và giới tính. Thân sau bổ dọc đường gập đôi để tra khóa giọt lệ êm ái. Mọi đường ráp nối đều được bọc mép hoặc may cuốn kín kẽ nhằm bảo vệ làn da.

3.2. Nghệ thuật cách điệu họa tiết rồng phượng và con gà

Họa tiết tò he được tinh giản đường nét để phù hợp với bề mặt trang phục. Mẫu bé trai mang họa tiết rồng uốn lượn trên vai với đám mây cách điệu tại cửa tay. Mẫu bé gái thứ nhất sử dụng hình ảnh phượng hoàng màu xanh bơ giữa ngực và đuôi phượng chạy dài bên sườn. Mẫu bé gái thứ hai nổi bật với hình ảnh con gà trống rực rỡ gam đỏ vàng. Kỹ thuật thêu nổi nhiều lớp tái hiện trọn vẹn sự tròn trịa của khối bột tò he. Cách phối màu xanh ngọc - be làm nền giúp họa tiết dân gian tỏa sáng nổi bật.

IV. Kết luận và khả năng ứng dụng áo dài tò he vào thị trường

Ứng dụng nghệ thuật tò he vào áo dài cách tân cho trẻ em mang lại giá trị kép to lớn. Thiết kế không chỉ tôn vinh di sản làng nghề Xuân La mà còn đáp ứng nhu cầu thị trường thời trang cao cấp. Sản phẩm hoàn thiện có tính ứng dụng cao trong các dịp lễ Tết, biểu diễn nghệ thuật và sự kiện văn hóa. Phom dáng tiện dụng giúp trẻ em thoải mái vận động suốt ngày dài. Trẻ nhỏ thêm yêu mến văn hóa cội nguồn thông qua những hình ảnh tò he gần gũi. Nghiên cứu mở ra tiềm năng sản xuất thương mại cho các doanh nghiệp dệt may trong nước. Việc kết nối giữa mỹ thuật truyền thống và công nghệ may công nghiệp tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững. Đây là định hướng phát triển sáng tạo cần được nhân rộng trong giáo dục và thiết kế thời trang hiện đại.

4.1. Giá trị văn hóa và giáo dục thẩm mỹ cho trẻ nhỏ

Trang phục áo dài tò he đóng vai trò như một giáo cụ trực quan sinh động. Trẻ em được tiếp xúc với nghệ thuật dân gian một cách tự nhiên qua trang phục thường ngày. Các câu chuyện lịch sử và linh vật dân gian được gợi mở qua từng nét thêu. Trẻ hình thành lòng tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ di sản từ thuở ấu thơ. Màu sắc tươi vui kích thích tư duy sáng tạo và cảm xúc thẩm mỹ của trẻ. Trang phục truyền tải thông điệp nhân văn về sự gắn kết giữa thế hệ trẻ và nguồn cội quê hương.

4.2. Tiềm năng thương mại hóa và phát triển bền vững

Nhu cầu tiêu dùng trang phục truyền thống cho trẻ em ngày càng tăng trưởng mạnh. Bộ sưu tập áo dài tò he có tính khả thi cao trong sản xuất công nghiệp hàng loạt. Doanh nghiệp thời trang có thể khai thác dòng sản phẩm này cho phân khúc lễ hội và quà tặng lưu niệm. Việc liên kết với làng nghề tò he Xuân La tạo cơ hội việc làm và quảng bá văn hóa du lịch. Sản phẩm sử dụng chất liệu thân thiện với môi trường đáp ứng tiêu chuẩn tiêu dùng xanh. Đây là mô hình kết hợp hiệu quả giữa kinh tế thời trang và bảo tồn di sản.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/08/2026
Ứng dụng nghệ thuật tò he vào sáng tác trang phục áo dài cách tân dành cho trẻ em

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH, TẠO HÌNH ĐỒ CHƠI DÂN GIAN TÒ HE 1. Một số khái niệm cơ bản Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh hiện thức và truyền đạt tư tưởng, tình cảm bằng hình tượng sinh động, cụ thể, gợi cảm. Do nhu cầu và thực hiện cuộc sống sinh động, phong phú, có nhiều loại hình nghệ thuật xuất hiện: Nghệ thuật hội họa, nghệ thuật văn học, nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật điện ảnh… Trong đó có những loại hình nghệ thuật cùng chung một ngôn ngữ biểu đạt như hội họa - điêu khắc - kiến trúc - trang trí - đồ họa. Vì vậy chúng có cùng một tên gọi: nghệ thuật tạo hình.

Nghệ thuật tạo hình là từ dùng để chỉ các loại hình nghệ thuật tạo nên những hình tượng mang tính tạo hình trực tiếp bằng hệ thống ngôn ngữ tạo hình. Tác phẩm tạo hình mang tác động trực tiếp vào thị giác của người thưởng thức bằng hình khối, màu sắc, bố cục… Nghệ thuật tạo hình là một trong những loại hình nghệ thuật ra đời sớm nhất của loài người, nó bao gồm nhiều ngành có cùng chung một phương tiện biểu đạt, tạo nên các mối quan hệ không gian và tác động đến người xem bằng cảm hứng thị giác. Vì vậy, nghệ thuật tạo hình còn được gọi là nghệ thuật thị giác hay mỹ thuật. Tò he là một món đồ chơi quen thuộc của trẻ em Việt Nam qua nhiều thế hệ.

Chúng được làm từ bột bánh, có độ dẻo, độ dính và rất đa dạng về hình dáng với sắc màu rực rỡ. Sản phẩm này có màu sắc tương đối giống đồ thực và có pha thêm chút đường nên có thể ăn được. Đây cũng là một trong những điều độc đáo của món đồ chơi dân gian này. Ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình Khái niệm ngôn ngữ học được hiểu chung: Là hệ thống các tín hiệu quan trọng và độc đáo trong giao tiếp của loài người; là phương tiện để biểu hiện và phát triển tư duy, bảo lưu và chuyển giao có hiệu lực nhất các truyền thống lịch sử - văn hóa của dân tộc.

Khái niệm Ngôn ngữ theo quan điểm triết học với các luận điểm cơ bản: là hệ thống ký hiệu thực hiện các chức năng nhận thức và giao tiếp (tiếp xúc) trong quá trình hoạt 15 động của con người, ngôn ngữ có tính chất tự nhiên và nhân tạo, ngôn ngữ là hình thức tồn tại và hình thức biểu thị tư duy, giữ vai trò quan trọng trong hình thành ý thức. Như vậy, ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình kiến trúc sẽ là sản phẩm, phương tiện của tư duy sáng tác kiến trúc, với các thành tố như hình và khối, chất liệu chất cảm dưới ánh sáng, thủ pháp sáng tạo có tính cá nhân mà hình thành nên ngôn ngữ tạo hình kiến trúc. Các loại hình nghệ thuật đều có sự biểu cảm riêng, tạo nên một loại truyền tải trao đổi thông tin nghệ thuật, được coi như là một dạng ngôn ngữ. Các loại hình nghệ thuật tạo hình sử dụng ngôn ngữ là đường nét, hình mảng, khối, màu sắc để tạo nên các tác phẩm nghệ thuật như bức tranh, pho tượng, công trình kiến trúc, trang trí làm đẹp cho cuộc sống, môi trường.

Trong Mỹ thuật lấy màu sắc, đường nét làm ngôn ngữ biểu hiện. Ca nhạc lấy âm, tiết tấu, từ ngữ làm ngôn ngữ. Nghệ thuật kiến trúc lấy hình và khối, màu sắc, chất liệu làm dụng cụ để thể hiện ngôn ngữ. Quá trình nhận biết, nghiên cứu về ngôn ngữ của nghệ thuật tạo hình kiến trúc, thông qua nhận thức vai trò của hình và khối trong các tác phẩm kiến trúc, góp phần nâng cao nhận thức, tư duy thẩm mỹ.

Nhận thức ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình kiến trúc có đầy đủ các thành phần chức năng, thông tin tín hiệu, quá trình tư duy hình thành ngôn ngữ, là một loại riêng của ngôn ngữ nghệ thuật. Đối tượng phản ánh của nghệ thuật tạo hình Đứng ở góc độ triết học thì nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội. Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội hay ta có thể nói nghệ thuật phản ánh hiện thực xã hội. Ý thức xã hội không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà nó còn góp phần cái tạo, sáng tạo ra nó.

Nghệ thuật là dạng biểu hiện cao của ý thức. Nó còn những thuộc tính khách quan đặc biệt: đó là năng lực phản ánh và sáng tạo. Nghệ thuật chính là hình ảnh chủ quan của thế giới thẩm mỹ khách quan, nó được sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Nghệ thuật tạo hình là một loại hình của nghệ thuật.

Vì vậy nó cũng mang những đặc điểm chung của nghệ thuật và có những đặc điểm riêng của loại hình. Nếu lập luận như vậy thì nghệ thuật tạo hình cũng phản ánh hiện thực xã hội bằng ngôn ngữ của loại hình. Nhìn chung, tất cả mọi nền nghệ thuật từ cổ xưa đến ngày nay đều có một đối tượng nghệ thuật đó là hiện thực cuộc sống. Tuy vậy mỗi nền nghệ thuật lại có một cách biểu hiện riêng của mình.

Với cách biểu hiện riêng biệt đó, đôi khi hiện thực cuộc sống được phản ánh trong từng nền nghệ thuật lại có những hình dáng nghệ thuật biểu hiện 16 khác hẳn nhau. Điều này tùy thuộc vào quan niệm tạo hình, quan điểm tiếp cận với hiện thực cuộc sống của từng nghệ sĩ, từng xu hướng trường phái nghệ thuật. Mối quan hệ của nghệ thuật tạo hình với các ngành nghệ thuật khác 1. Các loại hình nghệ thuật Các loại hình nghệ thuật tạo hình dùng các yếu tố biểu hiện như đường nét - hình khối - màu sắc.

Nghệ thuật âm nhạc ngôn ngữ lại là âm thanh, nhịp điệu, tiết tấu. Văn học là loại hình sử dụng ngôn ngữ để xây dựng hình tượng nhân vật. Nghệ thuật múa khai thác các động tác, cử chỉ, nhìn chung là những hoạt động của cơ thể con người tuân theo những quy luật tạo hình mỹ cảm để biểu hiện tình cảm, nội dung của vở diễn, điệu múa… Các loại hình nghệ thuật không ra đời cùng một lúc và cũng không phải ngay khi xã hội loài người hình thành đã có nghệ thuật. Nguyên nhân ra đời của các loại hình nghệ thuật là vấn đề được bàn cãi và tranh luận rất nhiều.

Nếu tuyệt đối hóa vai trò của khách thể thì cho rằng sự phong phú đa dạng của hiện thực khách quan là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của các loại hình nghệ thuật. Ngược lại nếu đề cao vai trò của chủ thể thì nguyên nhân ra đời của nghệ thuật là do sự đa dạng, phong phú của các giác quan của con người. Có những loại hình nghệ thuật đến với con người bằng thị giác, nhưng lại có những loại hình nghệ thuật được cảm nhận thông qua thính giác… Tuy vậy theo quan điểm biện chứng thì phải phối hợp cả hai nguyên nhân khách quan và chủ quan, dặt nó trong mối quan hệ. Không có đối tượng thẩm mỹ khách quan không có nghệ thuật.

Nhưng không có chủ ghể thẩm mỹ thì đối tượng thẩm mỹ không được phản ánh vào nghệ thuật. Con người có 5 giác quan: các giác quan đó lại cảm nhận, nhận biết các thuộc tính thẩm mỹ khách quan và phản ánh chúng theo các phương tiện ngôn ngữ khác nhau để tạo ra loại hình nghệ thuật. Hơn nữa từ khi khoa học nghệ thuật phát triển, chúng ta lại được thưởng thức nhiều loại hình nghệ thuật hơn. Bên cạnh nghệ thuật hội họa, điêu khắc, âm nhạc, múa kịch… xuất hiện thêm nghệ thuật nhiếp ảnh, điện ảnh nhờ sự phát minh ra máy ảnh, máy quay phim… Như thế sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự ra đời và tồn tại của một số ngành nghệ thuật.

Để phân biệt các loại hình nghệ thuật ta có thể dựa vào đặc trưng, đặc thù của từng loại hình nghệ thuật. Mỗi một cách phân loại đều chỉ là tương đối, khong thể có 17 cách phân chia tuyệt đối bởi các loại hình nghệ thuật có thể chuyển hóa lẫn nhau và có quy luật chung của sự phản ánh. Tuy vậy có thể chia nghệ thuật ra làm mấy nhóm sau: Nhóm nghệ thuật tạo hình trực tiếp: Hội họa - Điêu khắc - Kiến trúc - Đồ họa - Trang trí. Nhóm nghệ thuật biểu hiện: Âm nhạc - Múa - Văn học - Điện ảnh - Sân khấu.

Tuy vậy cũng không thể tách bạch hoàn toàn, bởi vì nhóm nghệ thuật tạo hình cũng nhằm biểu hiện nội tâm, tâm trạng, tình cảm, tư tưởng…. Ngược lại nhóm nghệ thuật biểu hiện cũng nhằm tạo nên một hình tượng, quang cảnh, không khí… chỉ có một điều là cách tạo hình đó gián tiếp chứ không trực tiếp như hội họa, kiến trúc…. Nếu không dựa vào các hình thức tồn tại của tác phẩm mà dựa vào đặc điểm chủ quan của sự nhận thức, cảm nhận tác phẩm, ta có thể chia nhóm nghệ thuật thính giác, nghệ thuật thị giác và có nghệ thuật kết hợp của sự cảm nhận của mắt nhìn và của tai nghe như nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật điện ảnh, nghệ thuật múa… 1. Mối quan hệ của nghệ thuật tạo hình với các ngành nghệ thuật khác Mỗi loai hình nghệ thuật có một đặc thù riêng.

Tuy vậy nó có cùng chung một đối tượng, đó là phản ánh hiện thực cuộc sống. Mỗi loại hình nghệ thuật phản ánh ở một góc độ riêng. Tuy vậy mọi loại hình nghệ thuật cùng đi vào một chủ đề, đề tài sẽ cho người xem cảm nhận một cách đầy đủ, hoàn thiện về cuộc sống. Mỗi loại hình nghệ thuật đều có tiếng nói riêng cách tiếp cận với hiện thực, đặc trưng ngôn ngữ và phản ánh cuộc sống mang đặc điểm riêng.

Nhưng chúng ta có mối quan hệ biện chứng cái này bổ sung cho cái kia và cùng nhau làm phong phú đời sống thẩm mỹ cho con người. Giữa nghệ thuật tạo hình và các loại hình nghệ thuật cũng có mối quan hệ gắn bó. Một số ngành nghệ thuật khác: 18 Nghệ thuật sân khấu: Hình 1. Nghệ thuật múa rối bóng Hình 1.

Nghệ thuật múa đương đại 19 Nghệ thuật kiến trúc: Hình 1. Nghệ thuật kiến trúc Nghệ thuật tạo hình: Hình 1. Nghệ thuật tạo hình mặt nạ Tuồng 20 Nghệ thuật ứng dụng: Hình 1. Nghệ thuật cắm hoa 1.

Nghệ thuật tạo hình đồ chơi dân gian Tò he 1. Nguồn gốc Tò he là đồ chơi dân gian thuần chất thôn quê đã đi vào đời sống tinh thần của biết bao thế hệ người dân đất Việt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Vũ Thị Anh, Đặng Yến Ngân, Lê Thị Hoa Nở (2022), Nghiên cứu nghệ thuật cổ truyền tò he ứng dụng vào sáng tác trang phục áo dài cách tân dành cho trẻ em lứa tuổi từ 3-5, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, Hưng Yên.
APA 7
Vũ, T. A., Đặng, Y. N., & Lê, T. H. N. (2022). Nghiên cứu nghệ thuật cổ truyền tò he ứng dụng vào sáng tác trang phục áo dài cách tân dành cho trẻ em lứa tuổi từ 3-5 [Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/ung-dung-nghe-thuat-to-he-vao-sang-tac-trang-phuc-ao-dai-cach-tan-danh-cho-tre-em/9443564348
IEEE
T. A. Vũ, Y. N. Đặng, and T. H. N. Lê, "Nghiên cứu nghệ thuật cổ truyền tò he ứng dụng vào sáng tác trang phục áo dài cách tân dành cho trẻ em lứa tuổi từ 3-5," Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, Hưng Yên, 2022. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/ung-dung-nghe-thuat-to-he-vao-sang-tac-trang-phuc-ao-dai-cach-tan-danh-cho-tre-em/9443564348

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác