CHƯƠNG 1 - TONG QUAN 1. Tong quan lưu vực nghiên cứu 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên 1.L Vi trí dia lý Lưu vực sông Lam là lưu vực lớn thứ hai thuộc vùng Bắc Trung bộ bắt nguồn từ vùng rừng núi của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Toàn bộ lưu vực sông Lam năm trên toa độ địa lý từ: 18°15' đến 20°10'30" vĩ độ Bắc, 103°45'20" đến 105°15'20" kinh độ Đông [4].
Phía Bắc giáp lưu vực sông Chu, sông Bạng, phía Tây giáp lưu vực sông Mêkông, phía Nam giáp lưu vực sông Gianh, phía Đông giáp huyện Quynh Lưu, Yên Thanh tỉnh Nghệ An, huyện Can Lộc, Thạch Hà tinh Hà Tĩnh và biển Đông (Hình 1. RAS Hai Pion, poy Thái Bính Hình 1. Bản đồ lưu vực sông Lam Sông Lam có tông chiều dài là 531 km với tổng diện tích lưu vực là 27.200 km”, phần chảy trên đất Việt Nam là 361 km, diện tích trên lãnh thô Việt Nam là 17. Khi về tới Việt Nam, Sông Lam chủ yếu chảy qua các huyện tỉnh Nghệ An và một phần huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá.
Đặc điểm địa hình Địa hình lưu vực sông Lam phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nghiêng dần ra biển. Phần ở địa phận Việt Nam hơn 80% diện tích là đồi núi. Diện tích đất có độ dốc thoả mãn cho yêu cầu phát triển nông nghiệp chỉ chiếm 19% toàn vùng và 14% toàn lưu vực. Dãy núi Phu Hoạt ở thượng nguồn sông Hiếu có đỉnh cao 2.452 m, thượng nguồn 4 sông Giang, sông La là dãy núi Trường Sơn có độ cao trên 2.000 m, càng gần về phía Nam va Tây Nam núi đổi thấp dần xuống độ cao 1.800 m, đến vùng núi đồi Hà Tĩnh độ cao giảm còn 400-600 m.
Dai Trường Sơn và các dãy núi cao của 6 huyện miền núi Nghệ An đã hình thành một bức tường thành ngăn gió biên thổi vào dat Lào tạo nên sự khác biệt về chế độ khí hậu của hai nước. Địa hình sông Lam rat đa dang, vùng đôi núi độ dốc lớn gây ra tình trang tập trung nước nhanh dễ gây ra lũ lớn. Lưu vực sông Lam có thê phân chia 3 dạng địa hình: Vùng đổi núi cao: Bao gồm các huyện Ky Sơn, Con Cuông, Thanh Chương, Qué Phong, Quy Châu, Quy Hợp, Nghia Dan, thị xã Nghĩa Đàn thuộc tỉnh Nghệ An và huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Vùng có nhiều dãy núi đá vôi phát triển theo hướng Đông Bắc — Tay Nam.
Giữa những dãy núi là những nhánh sông lớn như Nậm Mô, Huôi Nguyên, sông Hiêu và sông Giăng. Vùng trung du: Bao gồm các huyện Anh Sơn, Tân Kỳ, Thanh Chương, Đô Lương thuộc tỉnh Nghé An và huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tinh. Độ cao địa hình dao động từ 300m đến 400m, phân bồ khu vực hạ lưu của các nhánh sông Lam. Vùng hạ lưu là nơi canh tác phát triển nông nghiệp khu vực, thường chịu ảnh hưởng của thời tiết, đặc biệt là các trận lũ lớn.
Mưa lũ làm đất bị xói mòn, rửa trôi mạnh, ảnh hưởng tới năng suất sản xuất nông nghiệp. Vùng đồng bằng: Bao gồm Thành phố Vinh, một phần các huyện Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc thuộc tỉnh Nghệ An và một phần huyện Nghi Xuân, Hồng Lĩnh thuộc tinh Hà Tĩnh. Cao độ bình quân từ 6-8m. Khu vực này chịu ảnh hưởng của thuỷ triều, hiện tượng xâm nhập mặn phát triển mạnh về mùa khô, cách trạm mực nước Cho Tràng về phía hạ lưu 2km [5].
Đặc điểm địa chất thé nhưỡng a) Đặc điểm địa chất Trong vùng nghiên cứu xuất lộ gần như đầy đủ địa tang địa chat có tuổi từ cô đến trẻ. Toàn bộ lưu vực sông Lam thuộc hai đới kiến tạo chính là đới kiến tạo sông Lam và đới oăn võng Sâm Nưa, ngoài ra còn có đới nâng Phu Hoạt. Về địa chất thủy văn, nước đưới đất trong vùng nghiên cứu có nhiều hạn chế, không phong phú. Vấn đề này được giải thích trên cơ sở cau tạo địa chất, đặc điểm dia mạo, điều kiện khí tượng thủy văn.
Trên toàn vùng nghiên cứu nhận thấy: các đất đá có khả năng chứa nước chiếm một khối lượng không lớn so với các loại đất đá thắm nước kém và chứa nước kém. Mặt khác do địa hình vùng nghiên cứu bị phân cắt mạnh, sườn núi dốc, độ đốc lòng sông, suối lớn làm cho nước không có điều kiện tích tụ lại mà thoát nhanh ra các hệ thông sông suôi lớn. về khoáng sản, lưu vực sông Lam có cấu tạo địa chất rất phúc tạp, các nham thạch có mặt đầy đủ các lớp tuôi từ cổ đến trẻ, tiếp theo là những hoạt động kiến tạo đã làm thay đổi các cơ cau kiến trúc của nham thạch trong đó có mặt của các thành phan sa khoáng khác nhau. Nhìn chung trong toàn vùng gặp rất nhiều loại sa khoáng từ đơn giản đến phức tap, từ nham thạch rẻ tiền như vật liệu xây dựng cho đến những khoáng sản quý như vàng, rubi.
Các mỏ khoáng sản có giá tri như thiếc (Quy Hợp), sắt (Thạch Khê), rubi (Quỳ Châu), vàng gặp nhiều ở các thung lũng suối lớn [4]. b) Đặc điểm thổ nhưỡng Vùng đồng bằng sông Lam có các loại đất chủ yếu là đất phù sa và đất cát ven biển, dat bùn lầy, đất mặn và đất Feralitic điển hình nhiệt đới âm vùng đồi. Dat đai vùng trung du khá đa dạng: Các loại đất chua, đất glay hoặc glay mạnh úng nước. Ở vùng đồi chuyên tiếp từ đồng bằng lên núi, loại đất chủ yếu là Feralitic.
Do phải chịu ảnh hưởng tông hợp của các nhân tô địa lý, địa hình, khí hậu, lớp phủ bề mặt. nên đất ở vùng đồng bằng và trung du sông Lam được xếp vào loại kém màu mỡ [4]. Tham phủ thực vật Lưu vực sông Lam có rừng tập trung chủ yếu thuộc lãnh thổ bên Lào, 6 huyện miền núi Nghệ An và hai huyện Hương Sơn, Hương Khê thuộc Hà Tĩnh. Phần đầu nguồn bên Lào, do dân cư còn thưa thớt nên chưa bị chặt phá nhiều, điều này có tác động tích cực đến việc điều hòa dòng chảy phần thượng nguồn sông Lam.
Trên địa phận Việt Nam, diện tích rừng bị giảm nhanh do tốc độ phát triển dân số cao ở miễn núi, cùng với tập quán du canh du cư của đồng bào các dân tộc. Năm 1943 có khoảng 1,2 triệu ha rừng, đến nay diện tích rừng chiếm khoảng 35,5% diện tích tự nhiên, so với điện tích đất của các huyện miền núi và Hương Khê, Hương Sơn thì diện tích đất có rừng chiếm đến 43%. Diện tích rừng già và rừng trung bình toàn lưu vực phần Việt Nam chỉ còn chiếm khoảng 12 +14% [4]. Mạng lưới trạm khí tượng thủy văn Bảng 1.2 thé hiện thông tin các trạm khí tượng thủy văn trên lưu vực sông Lam.
Theo Thông tư số 30/2018/TT- BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2018 ban hành Quy định kỹ thuật về quan trắc và cung cấp thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn đối với trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng đã quy định mật độ trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng trong một số trường hợp cụ thể như sau: - Khoảng cách giữa các trạm đo mưa từ 10km đến 15km đối với một trong các vùng sau: đồi núi; sườn đón gió; tổng lượng mưa năm trung bình nhiều năm từ 1.600 mm trở lên; khu vực đô thị loại II trở lên. - Khoảng cách giữa các trạm do mưa từ 15km đến 20km đối với vùng trung du, đồng băng. - Phục vụ tính toán lượng nước đến hồ chứa: ở lưu vực sông, suối cung cấp nước cho hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 500.000m° trở lên thì bố trí từ 10km đến 15km một trạm đo mưa; ở các nhánh sông, suối chảy đến hồ chứa có diện tích lưu vực từ 100km2 trở lên thì bố trí một trạm quan trắc lưu lượng nước. - Quan trắc ở vườn quốc gia: mỗi vườn quốc gia bố trí tối thiểu một trạm khí tượng; tùy theo quy mô diện tích của vườn quốc gia có thé bố trí thêm trạm khí tượng nhưng bảo đảm khoảng cách giữa các trạm từ 25km đến 30km.
So với quy định về mật độ lưới trạm bên trên, nhận thấy mật độ các trạm quan trắc phân bố không đồng đều: phan lớn tập trung tại nhánh sông La và phía hạ lưu lưu vực sông, phía trung lưu mật độ thưa hơn và phần thượng lưu phía Lào không thu thập được thông tin về các trạm quan trắc. Số liệu quan trắc là vô cùng quan trọng trong các bài toán đánh giá tài nguyên nước, trong khi mật độ lưới trạm tại khu vực này còn thưa thớt do đó, đòi hỏi cần có phương pháp cải thiện chất lượng mưa khu vực sông Lam, đặc biệt phải có nguồn dit liệu mưa đủ tin cậy dé bổ khuyết cho khu vực thượng lưu đang thiếu số liệu quan trắc. Danh sách mạng lưới trạm khí tượng, thủy van TT Tên trạm Tọa độ Vị trí Loại trạm 1 | Chu Lé 18.70 | Hương Thúy, Hương Khê, Hà Tĩnh KT 2 | Con Cuông 19.85 | Chi Khê, Con Cuông, Nghệ An KT 3 | Cửa Hội 18.72 | Nghi Xuân, Nghi Lộc, Nghệ An KT 4 | Cửa Rao 19.42 | Xá Lượng, Tương Dương, Nghệ An KT, TV 5 | Dừa 18. | Tường Sơn, Anh Sơn, Nghệ An KT, TV 6 | Hòa Duyệt 18.60 | Đức Liên, Vũ Quang, Hà Tĩnh KT, TV 7 | Linh Cảm 18.55 | Trường Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh KT, TV 8 | Mường Xén 19.12 | Tà Ca, Kỳ Sơn, Nghệ An KT, TV 9 | Nam Đàn 18.48 | van Diên, Nam Đàn, Nghệ An KT, TV 10 | Nghĩa Khánh | 19.33 | Nghĩa Mai, Nghĩa Đàn, Nghệ An KT, TV 11 | Quy Hop 19.
| Thọ Hop, Quy Hợp, Nghệ An KT 12 | Sơn Diệm 18.36 | Sơn Tây, Hương Sơn, Hà Tĩnh KT, TV 13 | Yên Thượng 18.40 | Thanh Hà, Thanh Chương, Nghệ An KT,TV 14 | Quy Châu 19.12 | Châu Hanh, Quy Châu, Nghệ An KT 7 TT Tên trạm Tọa độ Vị trí Loại trạm 15 | Đô Lương 18. | Luu Sơn, Đô Lương, Nghệ An KT 16 | Tương Dương 19.43 | xá Lượng, Tương Dương, Nghệ An KT 17 | Vinh 18.67 | Cửa Nam, Vinh, Nghệ An KT 18 | Hương Khê Hương Khê, Hà Tĩnh KT (Ghi chú: KT — Trạm khí tượng, TV— Trạm thủy văn) Ha Nam poy sởBà V4 TC:ANNam Dinh 1 Ð SN Ninh Binh} „- RE CHÚ GIẢI [EJ Ranh gới tỉnh | {PE (J ku we ngnencớu |. oun Truoittliohg Dai Sông subi a Tram Khí tượng ° Trạm đo mưa 4 Tram thủy van © Héchéa T Hình 1. Bản đồ mạng lưới trạm khí tượng thủy văn lưu vực sông Lam 1.