Chương 1: Một số van đề lý thuyết Chương 2: Chỉ số chứng khoán VN-Index và diễn biến thị trường chứng khoán của Việt Nam giai đoạn 2010-2021 Chương 3: Ứng dụng mô hình ARIMA vào dự báo chỉ số VN-Index trong ngăn hạn. 11181530 - NGUYEN THỊ THU HANG 3 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế CHUONG 1: MOT SO VAN ĐÈ LY THUYET 1. Sơ lược về chứng khoán và thị trường chứng khoán 1. Chứng khoán s* Khái niệm: là bằng chứng xác nhận quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phan vốn của tổ chức phát hành.
Chứng khoán được thê hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi số hoặc dữ liệu điện tử bao gồm các loại sau đây: - __ Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ - - Quyền mua cô phan, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. - Hop đồng góp vốn đầu tư - Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài Chính quy định - Hay nói cách khác, chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt và là công cụ dé huy động vốn trung và dai hạn. Nó đại diện cho một giá trị tài chính, nhằm xác nhận quan hệ vay nợ giữa người nắm giữ nó với chủ thé phát hành ra nó và có khả năng chuyền đôi, chuyển nhượng. s* Đặc điểm - Tinh thanh khoản (tính lỏng) của một chứng khoán: Là khả năng chuyển đổi giữa chứng khoán đó sang tiền mặt.
Tính long của chứng khoán thé hiện qua việc chứng khoán đó được mua bán, trao đôi trên thị trường. - _ Tính sinh lời: Thể hiện ở thu nhập của nhà dau tư, được sinh ra từ việc gia tăng giá chứng khoán trên thị trường, hay các khoản tiền lãi được trả hàng năm. - Tinh rủi ro: Đây là đặc trưng cơ ban cua chứng khoán.Trong quá trình trao đổi, mua đi bán lại, giá của chứng khoán bị giảm hoặc mat hoàn toàn ta gọi là rủi ro. Thị trường Chứng khoán s* Khái niệm: - La nơi mua bán, giao dịch các loại giấy tờ có giá , các chứng khoán, được thực hiện một cách có tô chức trong một hệ thống luật chặt chẽ.
Việc mua bán này được tiến hành bởi các nhà môi giới nhân danh khách hàng và có thé diễn ra trên thị trường tập trung hoặc phi tập trung. Đây là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, nhăm mục đích huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tô chức kinh tế và Chính phủ đề phát triển sản xuất, 11181530 - NGUYEN THỊ THU HANG 4 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư. s* Chức năng: - Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các NDT mua chứng khoán do các công ty niêm yết phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần phát triển xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
- _ Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau vì tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các NĐT có thé lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình. - Tao tính thanh khoản cho các chứng khoán: Nhờ có TTCK các NDT có thé chuyén đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư.
Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của von đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thi trường càng cao. - Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua TTCK, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tong hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh. - Tao môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô: Các chỉ số của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tăng trưởng, ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế.
Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thê mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế, s* Cơ cầu Xét về sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường, TTCK có hai loại: 11181530 - NGUYEN THỊ THU HANG 5 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế - Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyên sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
- Thị trường thứ cấp: Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. Thị trường thứ cấp là nơi trao đối, mua bán các chứng khoán đã được phát hành. Nhà đầu tư mua đi bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các mục đích: cất giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập có định hàng năm, hưởng chênh lệch giá.
Như vậy, thị trường thứ cấp sẽ không cung cấp dịch vốn cho các doanh nghiệp, thì nó có lợi gi? Không có thị trường thứ cấp, thì sẽ không có thị trường sơ cấp. Nếu chứng khoán phát hành ra mà không lưu chuyền được trên thị trường thứ cấp, thì nhà đầu tư cũng không quan tâm đến việc mua, nắm giữ chứng khoán phát hành (nhất là cô phiếu, một loại chứng khoán vô thời hạn). Cô phiếu của một tô chức niêm yết trên TTCK khi được mua bán nhiều tức là phản ánh lòng tin của nhà đầu tư vào tô chức đó; do đó khi tổ chức niêm yết muốn tăng vốn, họ có thể tiếp tục phát hành cô phiếu hoặc trái phiếu đợt mới. Vì vậy, thông thường, khi thị trường đang lên (chỉ số giá cô phiếu dang ở xu hướng tăng), thì các công ty dé dàng phát hành với khối lượng lớn.
Khi thị trường đang xuống, thì các công ty rất khó phát hành chứng khoán. Ngược lại, nếu tổ chức phát hành các cô phiếu có chất lượng cao ở thị trường sơ cấp thì việc mua bán trên thị trường thứ cấp mới sôi động, nếu phát hành cổ phiếu không có chất lượng thì cỗ phiếu đó không thé giao dịch được trên thị trường thứ cấp. Chỉ số thị trường chứng khoán s* Khái niệm: Khi nói đến TTCK thì không thể không nhắc đến chỉ số chứng khoán là một giá trị thống kê phản ánh tình hình phát triển của thị trường và tình hình hoạt động của công ty trên thị trường. Bat kì một TTCK nào cũng có một chỉ số chứng khoán riêng của nó.
Đó có thé là chỉ số cho tất cả các CP trên thị trường của một quốc gia, như chỉ số giá Hangseng của Hồng Kong, chỉ số giá CP tổng hợp của Hàn Quéc(KOSPI) hoặc có thé là chỉ số cho từng ngành, như chỉ số giá CP ngành công nghiệp của Mỹ(DJIA) s* Cách xây dựng Muốn xây dựng một chỉ số chứng khoán, cần giải quyết ba vấn đề: Thứ nhất, lựa chọn phương pháp. Hiện nay có năm phương pháp dé tính chỉ 11181530 - NGUYEN THỊ THU HANG 6 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế số giá chứng khoán: - Phương pháp Passcher: Đây là phương pháp tính chỉ số giá CP thông dụng nhất. Chỉ số tính bằng phương pháp này là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết thời kì tính toán. Các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc), S&P500(Mỹ), FT-SE 100 (Anh), TOPIX (Nhật), CAC (Pháp), VNIndex của nước ta đều áp dụng phương pháp này - Phuong pháp Laspeyres: Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy quyên số là số CP niêm yết thời kì gốc.
Chỉ một số ít nước áp dụng phương pháp này, chăng hạn chỉ số FAZ, DAX của Đức. - Chi số giá bình quân Fisher: là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số gi Passcher và chỉ số giá Laspeyres. Về mặt lý luận có phương pháp này, nhưng trên thực tế nó không được áp dụng ở bất kì một quốc gia nào - Phuong pháp số bình quân giản đơn: lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng khoán tham gia tính toán. Các chỉ số Dow Jon của Mỹ, Nikkei 225 của Nhật; MBI của Y áp dụng phương pháp này - Phuong pháp bình quân nhân giản don: chỉ nên dùng khi độ lệch chuẩn khá cao.
Các chỉ số Value line ( Mỹ), T-30 ( Anh) áp dụng phương pháp này. Thứ hai, chọn r6 đại diện. R6 đại diện phải tiêu biểu, đại diện được cho tổng thé vì tính chất các CP thường xuyên thay đổi, nên trong quá trình tính toán cũng cần thường xuyên thay những CP không còn tiêu biểu nữa bằng CP tiêu biểu hơn. Ba tiêu thức quan trọng để xác định sự tiêu biéu của CP dé chọn vào rô đại diện là số lượng CP niêm yết, giá trị niêm yết và tỷ lệ giao dịch CP đó trên thị trường.
Thứ ba, loại trừ ảnh hưởng của các yếu tố thay đổi về khối lượng và giá tri trong quá trình tính toán chỉ số giá chứng khoán, mục đích là dé đảm bao tính liên tục của chỉ số và làm cho chỉ số thực sự phản ánh đúng sự biến động của nó. Giới thiệu về TTCK Việt Nam- VN-Index 1. Khái niệm chỉ số chứng khoán VN-Index VN-Index là chỉ số chứng khoán trên sàn giao dịch chứng khoán TP.