Chương I: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu biodiesel Biodiesel còn được gọi Diesel sinh học là một loại nhiên liệu có tính chất giống với dầu diesel nhưng không phải được sản xuất từ dầu mỏ mà từ dầu thực vật hay mỡ động vật [1]. Theo tiêu chuẩn ASTM thì Biodiesel được định nghĩa: “là các mono alkyl ester của các acid mạch dài có nguồn gốc từ các lipit có thể tái tạo lại như: dầu thực vật, mỡ động vật, được sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ diesel”. Biodiesel bắt đầu được sản xuất khoảng giữa năm 1800, trong thời điểm đó người ta chuyển hóa dầu thực vật để thu Glycerol ứng dụng làm xà phòng và thu được các phụ phẩm là Methyl hoặc Ethyl Ester gọi chung là Biodiesel.
10/08/1893 lần đầu tiên Rudolf Diesel đã sử dụng Biodiesel do ông sáng chế để chạy máy. Năm 1912, ông đã dự báo: “Hiện nay, việc dùng dầu thực vật cho nhiên liệu động cơ có thể không quan trọng, nhưng trong tương lai, những loại dầu như thế chắc chắn sẽ có giá trị không thua gì các sản phẩm nhiên liệu từ dầu mỏ và than đá”. Trong bối cảnh nguồn tài nguyên dầu mỏ đang cạn kiệt và những tác động xấu lên môi trường của việc sử dụng nhiên liệu, nhiên liệu tái sinh sạch trong đó có Biodiesel đang ngày càng khẳng định vị trí là nguồn nhiên liệu thay thế khả thi. Để tưởng nhớ nguời đã có công đầu tiên đoán được giá trị to lớn của Biodiesel, Nation Board Biodiesel đã quyết định lấy ngày 10 tháng 8 hằng năm bắt đầu từ năm 2002 làm ngày Diesel sinh học Quốc tế [1].
1900 tại Hội chợ thế giới tổ chức tại Pari, Diesel đã biểu diễn động cơ dùng dầu Biodiesel chế biến từ dầu Phụng (lạc). Trong những năm của thập kỷ 90, Pháp đã triển khai sản xuất Biodiesel từ dầu hạt cải và được dùng ở dạng B5 (5% Biodiesel với 95% Diesel), B30 (30% Biodiesel trộn với 70% Diesel) [4].Nguyễn Vĩnh Khanh 1 Ứng dụng công nghệ tạo bong bóng hơi trong sản xuất biodiesel SVTH: Nguyễn Đình Phúc Trong thời gian gần đây, do giá xăng dầu tăng nhanh, nguy cơ cạn kiệt nhiên liệu hóa thạch đe dọa và yêu cầu bức thiết về chống sự biến đổi khí hậu toàn cầu mà nhiên liệu sinh học trở thành một nhu cầu thiết thực của nhân loại, nhất là khi các công nghệ biết đổi gen góp phần làm tăng đột biến sản lượng một số sản phẩm nông lâm nghiệp Tóm lại, có thể hiểu một cách tổng quát Diesel là loại nhiên liệu bất kì dùng cho động cơ Diesel. Dựa theo nguồn gốc, có thể chia Diesel thành 2 loại: - Petrodiesel (thường được gọi tắt là Diesel) là 1 loại nhiên liệu lỏng thu được khi chưng cất dầu mỏ ở phân đoạn có nhiệt độ từ 175 0C đến 370 0C, thành phần chủ yếu là hidrocacbon từ C16 – C21. - Biodiesel: có nguồn gốc từ dầu thực vật (cỏ, tảo, cây Jatropha, cây cao su…) hay mỡ động vật.
Các loại dầu mỡ động thực vật, dầu mỡ thải tuy rằng có thể cháy ở điều kiện thường nhưng vì có độ nhớt cao, một số loại có chỉ số acid lớn nên chúng không thể dùng trực tiếp cho các động cơ mà chúng cần phải được chuyển hóa thành Monoankyl – Este rồi mới đem đi sử dụng. Theo phương diện hóa học, Biodiesel là Metyl este của những acid béo (trong đó, thành phần tạo năng lượng chủ yếu là gốc hidrocacbon) [6]. Hiện nay biodiesel chính là giải pháp cho việc cạn kiệt nguồn tài nguyên dầu mỏ và sự đe dọa môi trường sống của con người do khói thải từ giao thông và công nghiệp. Tính chất của biodiesel 2.
Tính chất vật lý Biodiesel là chất lỏng màu vàng nhạt, có mùi nhẹ, dễ bay hơi, tỷ trọng khoảng 0,88 g/cm3, độ nhớt tương đương với diesel, không tan trong nước, bền và không chứa các thành phần nguy hiểm cho môi trường. Biodiesel tồn trữ tốt nhất trong container ở 50oF đến 120oF, không tiếp xúc với các chất oxy hóa, nguồn lửa nhiệt, hoặc dưới ánh nắng mặt trời và phải được thông hơi.Nguyễn Vĩnh Khanh 2 Ứng dụng công nghệ tạo bong bóng hơi trong sản xuất biodiesel SVTH: Nguyễn Đình Phúc Biodiesel có khả năng đóng vai trò chất khử đối với đồng, chì, thiếc, kẽm. do đó người ta không dùng các nguyên liệu trên cũng như hợp kim của chúng làm bồn chứa. Nhôm, thép, polymer hoặc Teflon thường được sử dụng làm vật liệu tồn trữ và vận chuyển biodiesel.
Biodiesel là một dung môi hưu cơ tốt hơn diesel. Nó gây ảnh hưởng ít nhiều khi tiếp xúc với các bề mặt sơn, vecni.hoặc làm thoái hóa cao su thiên nhiên. Biodiesel chứa từ 10-11% oxy, do đó quá trình cháy xảy ra hoàn toàn và không có tiếng ồn. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất của biodiesel Một số chất có trong dầu mỡ động thực vật còn lại trong quá trình sản xuất biodiesel có thể gây ra một số tính chất như oxy hóa, polymer hóa.
làm ảnh hưởng đến chất lượng của biodiesel. Axit béo no hoặc không no tự do trong thành phần của biodiesel khi tiếp xúc với không khi sẽ bị oxy hóa thành chất rắn hoặc chất keo. Do đó mà biodiesel có nguồn gốc từ dầu mỡ động vật bền hơn từ thực vật. Tuy nhiên điểm chảy và điểm vẫn đục lại cao hơn, nghĩa là việc sử dụng biodiesel trong môi trường nhiệt độ thấp sẽ khó khăn hơn.
Tính chất của biodiesel phụ thuộc rất nhiều vào thành phần của nguyên liệu sử dụng. Mỗi loại dẫu mỡ có thành phần axit béo khác nhau. Các axit béo no như C14:0, C16:0, C18:0 cho biodiesel có chỉ số cetan, độ bền oxy hóa cao hơn nhưng lại dễ bị kết tinh và không chịu được nhiệt độ cao. Ngược lại, các axit béo không no dễ bi oxy hóa nhưng bền trong môi trường lạnh.
Axit béo mạch dài làm tăng độ nhớt và biodiesel không ổn định ở thời tiết lạnh. Những nghiên cứu gần đây cho thấy mỡ động vật là nguyên liệu thích hợp nhất để sản xuất biodiesel do thành phần có hàm lượng axit oleic cao làm cho biodiesel có tính ổn định phù hợp với những nước có khí hậu lạnh. TG và DG nếu có trong biodiesel do quá trình sản xuất sẽ làm tăng độ nhớt, tạo cặn khi bị đốt cháy. Nhóm –OH trong glycerine hoặc MG khi phản ứng với hợp kim chứa crom hoặc kim loại sẽ ăn mòn vòng xi hoặc vòng piston làm bằng crom GVHD: PGS.Nguyễn Vĩnh Khanh 3 Ứng dụng công nghệ tạo bong bóng hơi trong sản xuất biodiesel SVTH: Nguyễn Đình Phúc có trong động cơ.
Hydroperoxit nếu có trong biodiesel rất dễ bị oxy hóa thanh andehid và axit cũng như gây ra quá trình polymer tạo thành gum hoặc cặn không tan. Ảnh hưởng của nguyên liệu đến tính chất của biodiesel Độ nhớt Nhiệt Điểm Điểm Tỷ Chỉ số Điểm Nguyên liệu động học trị vẩn chớp trọng cetan chảy (mm2/s) (MJ/kg) đục cháy (kg/l) Đậu phụng 4.859 Biodiesel có thể bị oxy hóa khi tiếp xúc với không khí. Khả năng này được đánh giá thông qua chỉ số peroxit. Trong dầu mỡ động thực vật thường có sẵn một số chất chống oxy hóa như vitamin E (tocopherol).
Nếu loại các chất này đi thì quá trình oxy hóa sẽ xảy ra rất nhanh. Người ta nhận thấy rằng chỉ số peroxit tăng tỉ lệ với số nối đôi. Trong quá trình sản xuất để giảm hàm lượng glycerine tổng đáp ứng yêu cầu của các tiêu chuẩn, người ta thường chưng cất lại biodiesel. Gerpen cho rằng điều này sẽ làm cho biodiesel có chỉ số peroxit cao hơn do các chất chống oxy hóa tự nhiên bị mất đi.Nguyễn Vĩnh Khanh 4 Ứng dụng công nghệ tạo bong bóng hơi trong sản xuất biodiesel SVTH: Nguyễn Đình Phúc 3.
Ưu nhược điểm của Biodiesel so với Diesel truyền thống. Ưu điểm: Biodiesel là một trong những nguồn nhiên liệu thay thế ít gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ con người; là loại nhiên liệu sạch hơn vì khí thải khi đốt Biodiesel hầu như sẽ không có SOx , hàm lượng CO và Hidrocacbon thơm giảm so với khi đốt Diesel truyền thống (chẳng hạn như Benzofluoranthense ít hơn 56%, Benzopysenes ít hơn 71% ). Là nguồn nhiên liệu thay thế cho Diesel khi sử dụng cho động cơ Diesel mà không ảnh hưởng đến động cơ. Là loại nhiên liệu có thể được dùng dạng tự do hoặc pha trộn với Diesel nhằm đạt được hiệu quả sử dụng và kinh tế theo yêu cầu của từng quốc qia.
Là loại nhiên liệu tái sinh nên Biodiesel sẽ là thế mạnh của các nước có nền nông nghiệp phát triển. Là loại nhiên liệu bị vi sinh vật phân huỷ nên khi thất thoát ra ngoài môi trường sẽ ít độc hại hơn rất nhiều so với các loại xăng dầu từ dầu mỏ. Khi đạt các tiêu chuẩn thì Biodiesel sẽ là nhiên liệu ít ăn mòn động cơ hơn so với Diesel. Nhược điểm Trong phân tử Biodiesel có chứa nguyên tử Oxy nên nhiệt trị thấp hơn Diesel truyền thống.
Vì vậy, khi sử dụng Biodiesel làm nhiên liệu sẽ tiêu hao hơn nhiều so với nhiên liệu Diesel truyền thống. Dễ bị Oxy hóa nên vấn đề bảo quản là vấn đề hàng đầu khi sử dụng Biodiesel (lưu trữ trung bình 6 tháng). Hàm lượng NOx cao trong khí thải, đây là nhược điểm đang được nghiên cứu khắc phục. Nhiệt trị thấp hơn so với Diesel nên cần một lượng nhiên liệu lớn hơn để đi được cùng một quãng đường.
Chi phí sản xuất còn cao so với Diesel. Hiện tại, Biodiesel trở thành thương phẩm vẫn phải cần chính sách hỗ trợ của chính phủ nhằm thúc đẩy nền công nghiệp năng lượng này. Với tình trạng nguồn nhiên liệu hóa thạch đang cạn dần, Diesel GVHD: PGS.Nguyễn Vĩnh Khanh 5 Ứng dụng công nghệ tạo bong bóng hơi trong sản xuất biodiesel SVTH: Nguyễn Đình Phúc truyền thống ngày càng tăng giá, thì trong tương lai, Biodiesel gần như là giải pháp thay thế duy nhất. Một số thông số kỹ thuật được đưa ra so sánh giữa hai loại nhiên liệu: Bảng I.
So sánh nồng độ khí thải giữa Diesel và Biodisel Khí thải Đơn vị Diesel truyền thống BD từ dầu nành BD từ dầu thải NOx g 0. Bảng so sánh năng suất toả nhiệt của một số loại nhiên liệu Nhiên liệu Năng suất toả nhiệt (MJ/Kg) DO 44,8 BDO 37,2 Methanol 18,2 Glyxerin 18,3 Dầu dừa 35,3 Dầu Jatropha 39,6 Dầu hạt cao su 39. Một số đặc tính chọn lọc của Diesel và Biodiesel Đặc tính nhiên liệu Diesel Biodiesel Nhiệt trị, Btu/gal 129,05 118,17 Độ nhớt động học ở 400C, mm2/s 1,3 – 4,1 4,0 – 6,0 Tỉ trọng ở 150C, lb/gal 7,079 7,328 Hàm lượng nước và cặn cơ học, max 0,05 0,05 Điểm chớp cháy, 0C 60 - 80 100 – 170 Điểm đông đặc, 0C -15 - 5 -3 _ -12 Chỉ số cetane 40 - 55 48 - 65 GVHD: PGS.