Đặt vấn đề “ Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống, là điạ bàn phân bố các khu dân cƣ, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêu công sức, xƣơng máu mới tạo lập, bảo vệ đƣợc vốn đất đai nhƣ ngày nay !" Nhóm đất chƣa sử dụng là loại đất chƣa xác định mục đích sử dụng.288,00 nghìn ha, chiếm 6,91% diện tích tự nhiên, giảm 876,26 nghìn ha so với năm 2010. Vì vậy cần có phƣơng án quy hoạch phù hợp nhằm định hƣớng sử dụng cũng nhƣ giảm diện tích đất chƣa sử dụng trong cơ cấu đất đai, đảm bảo sử dụng hiệu quả đất đai. Hiện nay ở Việt Nam, công nghệ GIS đƣợc thí điểm khá sớm và đƣợc sử dụng phổ biến để quản lý nhiều lĩnh vực.
Điểm mạnh của GIS so với các công nghệ khác là khả năng gắn kết các thông tin kể cả yếu tố không gian phục vụ phân tích và truy cập theo yêu cầu. GIS là một công nghệ kết hợp nhiều loại hình công nghệ (đồ họa trên máy tính, bản đồ trợ giúp bằng máy tính, viễn thám,…), đặc biệt với khả năng phân tích, GIS đƣợc coi nhƣ là một công cụ trợ giúp đắc lực hiện nay, hệ thống GIS đã và đang đƣợc ứng dụng trong nhiều bộ ngành ở các lĩnh vực: quy hoạch xây dựng, sử dụng đất, tài nguyên môi trƣờng, giao thông vận tải, các cơ quan đo đạc bản đồ… Khi chƣa có ứng dụng GIS thì sự chuyển dịch, biến động không ngừng của đất đai và các số liệu điều tra cơ bản, các loại bản đồ, sổ sách … liên quan đến tài nguyên đất chƣa đƣợc thống nhất, lƣu trữ cồng kềnh, tra cứu thông tin khó khăn … làm cho công tác quản lý đất đai gặp nhiều vƣớng mắc và ít có hiệu quả. Tranh chấp quyền sử dụng đất thƣờng xuyên xảy ra. Quản lý thông tin sử dụng đất nó cho phép tạo và duy trì dữ liệu những thửa đất, những dự n 2 án đất, tình hình sử dụng đất.
Cho phép nhập thêm , phục hồi dữ liệu nhƣ thuế đất, dự án sử dụng đất, mã đất dễ dàng hơn rất nhiều so với thời đại bản đồ giấy. Xuất phát từ thực tiễn và nhận thức đƣợc tầm quan trọng của ứng dụng GIS trong lĩnh vực Tài nguyên & môi trƣờng, đƣợc sự đồng ý và giúp đỡ của ban giám hiệu trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên. Đặc biệt,dƣới sự hƣớng dẫn của thầy giáo Th.S Nguyễn Quang Thi em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Ứng dụng GIS đánh giá hiện trạng và định hướng đối với đất chưa sử dụng đến năm 2020 trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng”. Mục tiêu đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát Đánh giá hiện trạng và định hƣớng đối với đất chƣa sử dụng đến năm 2020 trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu và đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trƣờng huyện Hòa An. - Đánh giá tình hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Hòa An. - Ứng dụng GIS trong đánh giá hiện trạng và định hƣớng đối với đất chƣa sử dụng huyện Hòa An.
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho đất chƣa sử dụng.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nâng cao khả năng khai thác các tƣ liệu địa lý. - Bồi dƣỡng kỹ năng sử dụng GIS cũng nhƣ kỹ năng sử dụng máy tính. - Góp phần giới thiệu sơ bộ về công nghệ GIS cũng nhƣ thúc đẩy việc nghiên cứu công nghệ này trong sinh viên.2 Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài tiến hành đánh giá hiện trạng đất chƣa sử dụng, từ đó định hƣớng sử dụng cho đất chƣa sử dụng tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.
Khái niệm đất đai Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con ngƣời, con ngƣời sinh ra trên mặt đất, sống và lớn lên nhờ vào các sản phẩm từ đất. Cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về đất đai. Khái niệm đầu tiên của học giả ngƣời Nga Docutraiep năm 1987 cho rằng “Đất là vật thể tự nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất, đó là: “Đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian”. Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học đƣợc hiểu theo nghĩa rộng nhƣ sau: "Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trƣờng sinh thái ngay trên vỏ dƣới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, bề mặt, thổ nhƣỡng, dáng địa hình, mặt nƣớc ( hồ, sông, suối, đầm lầy,.
Các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nƣớc ngầm và khoáng sản trong long đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cƣ của con ngƣời, những kết quả của con ngƣời trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nƣớc hay hệ thống tiêu thoát nƣớc, đƣờng xá, nhà cửa. Luật đất đai 1993 của nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “ Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân cƣ, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêu công sức, xƣơng máu mới tạo lập, bảo vệ đƣợc vốn đất đai nhƣ ngày nay !". n 4 Thực vậy, trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng - là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất, là nơi tìm đƣợc công cụ lao động, nguyên liệu lao động và nơi sinh tồn của xã hội loài ngƣời.
Đất chưa sử dụng 2. Khái niệm đất chưa sử dụng Đất chƣa sử dụng là tên gọi thƣờng dùng trƣớc đây của các loại đất: đất không có rừng (lâm nghiệp), đất hoang (nông nghiệp), đất chƣa sử dụng (diện tích hoang hóa, đất không có rừng, mặt nƣớc chƣa đƣợc sử dụng). Theo quy định của Luật Đất Đai :Đất chƣa sử dụng là đất chƣa đƣợc xác định để dùng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dân cƣ, chuyên dùng, và Nhà nƣớc chƣa giao cho ai sử dụng ổn định, lâu dài (Điều 47 Luật Đất Đai 1998). Đất chƣa sử dụng là đất chƣa có đủ điều kiện hoặc chƣa đƣợc xác định để sử dụng và mục đích sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp, chƣa xác định là khu dân cƣ nông thôn, đô thị, chuyên dùng và Nhà nƣớc chƣa giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài (Điều 72-Luật Đất Đai 1993).
Một số quan điểm khác cho rằng đất chƣa sử dụng để chỉ các loại đất nhƣ sau: - Đất nông lâm nghiệp bị phá làm nƣơng rẫy nhiều năm không có rừng, bao gồm: + Thảm cây bụi và cây gỗ, tre, nứa rải rác với trữ lƣợng 25 m3/ha có độ che phủ dƣới 0,3%. + Thảm cỏ và lau lách thuần loại hoặc có cây rải rác. + Nƣơng rẫy do du canh tạo ra và cây bụi hoặc thảm cỏ nằm xen kẽ. + Đất canh tác nông nghiệp do quảng canh, đất bị thoái hóa hoặc bỏ hoang.
n 5 + Đất bị xói mòn mạnh không có thảm thực vật che phủ hoặc thảm thực vật quá thƣa thớt. - Núi đá không có rừng cây. - Ao hồ, đầm phá, mặt nƣớc chƣa sử dụng. Các loại đất trên hiện chƣa đƣợc sử dụng hoặc mới đƣợc khai thác để sử dụng ở mức độ còn thấp, cần đƣợc đánh giá về số lƣợng và chất lƣợng.
Theo tài liệu hƣớng dẫn thực hiện Tổng kiểm kê đất đai năm 2000 – Tổng cục Địa chính thì đất chƣa sử dụng bao gồm và đƣợc thể hiện là: - Đất bằng chƣa sử dụng: là loại đất có độ dốc >5 độ từ trƣớc đến nay chƣa sử dụng hoặc đã sử dụng nhƣng bỏ hoang trên 3 năm, kể cả đất nƣơng rẫy hay không sử dụng. - Đất mặt nƣớc chƣa sử dụng: là các loại ao, hồ, đầm, phá, sông cụt, thùng đào,thùng đấu… từ trƣớc đến nay chƣa sử dụng hoặc đã sử dụng nhƣng bỏ hoang trên 3 năm. - Sông, suối: là toàn bộ diện tích sông suối tự nhiên trong địa giới hành chính. - Núi đá không rừng cây: là toàn bộ núi đá không có rừng cây và không nằm trong phạm vi các mỏ khai thác đá.
- Đất chƣa sử dụng khác: là những loại đất khác chƣa đƣợc sử dụng. Đất chƣa sử dụng là đất chƣa có đủ điều kiện hoặc chƣa đƣợc xác định để sử dụng vào mục đích sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp, chƣa xác định là khu dân cƣ nông thôn, chuyên dùng và nhà nƣớc chƣa giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài (Luật Đất đai, 1993). Nhóm đất chƣa sử dụng bao gồm các loại đất chƣa xác định mục đích sử dụng (Luật Đất đai, 2003). n 6 Theo Điều 6 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP quy định chia đất chƣa sử dụng làm 3 loại: + Đất bằng chƣa sử dụng.
+ Đất đồi núi chƣa sử dụng. + Núi đá không có rừng cây. Nhƣ vậy qua các quan điểm nêu trên có thể hiểu rằng đất chƣa sử dụng là đất chƣa có đủ điều kiện hoặc chƣa đƣợc xác định để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, chuyên dùng, khu dân cƣ nông thôn, đô thị và các loại đất tại thời điểm điều tra chƣa đƣợc sử dụng hoặc đã sử dụng nhƣng bỏ hoang trên 3 năm. Nguyên nhân hình thành đất chưa sử dụng Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (1993) , xác định nguồn gốc của đất chƣa sử dụng đƣợc hình thành do 4 nguyên nhân chủ yếu sau: - Đất chƣa sử dụng hình thành do khai thác nƣơng rẫy: Canh tác nƣơng rẫy là biện pháp sử dụng đất tại các khu vực có độ dốc lớn và có thể chấp nhận đƣợc khi tại địa bàn có số dân không lớn và thời gian bỏ hóa đất dài.
Trên thực tế nguyên nhân làm gia tăng đất chƣa sử dụng ở nƣớc ta chủ yếu lại do canh tác nƣơng rẫy, hiện tƣợng này vẫn đang phát triển rộng ở một số vùng trong cả nƣớc.