CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về đất 1. Khái niệm Đất (Soil) Đất là lớp phủ trên lớp vỏ rắn chắc của khối đất trên trái đất. Đất được tạo thành từ vật liệu đá bị chia nhỏ có độ mịn khác nhau và thay đổi ở các mức độ khác nhau so với đá mẹ do tác động của các cơ quan khác nhau, do đó có thể tạo ra sự phát triển của thảm thực vật.
[1] Đất đai (Land) Theo FAO 1976, đất đai được định nghĩa như sau “Đất đai bao gồm môi trường vật chất, bao gồm khí hậu, đất đai, thủy văn và thảm thực vật, ở mức độ ảnh hưởng đến tiềm năng sử dụng đất. Nó bao gồm các kết quả của hoạt động trong quá khứ và hiện tại của con người, ví dụ như cải tạo từ biển, phát quang thảm thực vật, và cả các kết quả bất lợi, ví dụ như nhiễm mặn đất. Tuy nhiên, các đặc điểm thuần túy về kinh tế và xã hội không được bao hàm trong khái niệm đất đai, những điều này tạo thành một phần của bối cảnh kinh tế và xã hội”. [2] Theo thông tư số 14/2014/TT-BTNMT ngày 26/11/2012 về Ban hành quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất thì đất đai được định nghĩa là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người.
Đánh giá đất đai Đánh giá đất đai là một hệ thống phân loại được áp dụng nhằm đánh giá khả năng sử dụng của đất. Có nhiều phương pháp đánh giá được sử dụng với các kỹ thuật đa dạng, một số phương pháp đánh giá mức độ phù hợp của các đặc tính, trong khi những phương pháp khác lại chú trọng nhiều hơn đến các yếu tố hạn chế có thể có đối với việc sử dụng đất, một số phương pháp sử dụng tiêu chí định tính trong khi những phương pháp khác sử dụng định lượng. Quy hoạch sử dụng đất 6 Căn cứ quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 3, Luật đất đai số 45/2013/QH13 ban hành ngày 29/11/2013 quy định về khái niệm quy hoạch sử dụng đất như sau: quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định. Phân loại đất đai Theo Luật Đất đai 2013, căn cứ vào mục đích sử dụng đất mà phân chia thành 3 nhóm lớn: (1) Nhóm đất nông nghiệp.
(2) Nhóm đất phi nông nghiệp. (3) Nhóm đất chưa sử dụng. Các nhóm này được phân chia thành các loại đất theo mục đích sử dụng cụ thể, trong đó nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: ‒ Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác. ‒ Đất trồng cây lâu năm.
‒ Đất rừng sản xuất. ‒ Đất rừng phòng hộ. ‒ Đất rừng đặc dụng. ‒ Đất nuôi trồng thủy sản.
‒ Đất làm muối. ‒ Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh. Đánh giá thích nghi đất đai 1. Tổng quan Nhiều hệ thống đã được sử dụng để đánh giá chất lượng đất nông nghiệp, đáng chú ý là các hệ thống sau: ‒ Phân loại khả năng sử dụng đất do cơ quan Bảo tồn đất của Hoa Kỳ đề xuất vào năm 1961 và được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Đây là hệ thống phân loại sử dụng các tiêu chí định tính, không phân tích trực tiếp khả năng của đất mà sử dụng mức độ giới hạn của đất đối với một thông số tùy theo mục đích sử dụng cụ thể. Một số yếu tố hạn chế việc sử dụng đất: độ sâu của đất, kết cấu, cấu trúc, độ thấm, đá, độ mặn, nhiệt độ và lượng mưa, độ dốc của địa hình và mức độ xói mòn… [3] Phương pháp này phân chia đất thành tám lớp với yếu tố hạn chế tăng dần (lớp I có yếu tố hạn chế ít nhất và lớp VIII có yếu tố hạn chế nhiều nhất), trong đó mục đích sử dụng đất giảm dần từ có khả năng nông lâm nghiệp đến không thích hợp để trồng trọt [4]. ‒ Phương pháp đánh giá phân hạng đất ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu: từ thập niên 60, việc phân hạng và đánh giá đai được thực hiện, quá trình này bao gồm ba bước: đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng, đánh giá khả năng sản xuất và đánh giá đất đai dựa vào kinh tế [5]. Đa phần các hệ thống, phương pháp đánh giá đất đai những năm 60 – 80 chủ yếu tập trung vào yếu tố tự nhiên, không xem xét đến khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường, nếu có thì cũng chưa đầy đủ.
Từ năm 1970, nhận ra nhiều quốc gia đã phát triển hệ thống đánh giá đất đai của riêng mình. Điều này làm cho việc trao đổi thông tin trở nên khó khăn, và rõ ràng cần có thảo luận quốc tế để đạt được một số tiêu chuẩn đồng nhất. Do đó năm 1976 FAO đã cho ra ấn phẩm đầu tiên Khung đánh giá đất đai (A framework for land evaluation) nhằm thống nhất các hệ thống phân loại đất trên toàn thế giới. Từ ấn phẩm năm 1976, FAO tiếp tục cho ra đời các ấn phầm tiếp theo xây dựng phương pháp điều tra đánh giá tài nguyên đất và khả năng sử dụng đất đai toàn cầu và trên cơ sở đó áp dụng cho các khu vực, các nước, có xem xét đến khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.
‒ Đánh giá đất đai cho nông nghiệp nhờ mưa – 1983. ‒ Đánh giá đất đai cho vùng đất rừng – 1984. 8 ‒ Đánh giá đất đai cho nông nghiệp được tưới – 1985. FAO đã đưa ra các tài liệu hướng dẫn về phân loại đất và đánh giá đất đai (1993b, 2007).
Các tài liệu hướng dẫn của FAO được các nước quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phương pháp tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất. Theo phương pháp đánh giá đất đai của FAO, các yếu tố tự nhiên (địa hình, đất đai, sông ngòi, khí hậu, thảm thực vật…), kinh tế – xã hội, nhu cầu dinh dưỡng cây trồng, khả năng đầu tư thâm canh, hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất, mức độ ảnh hưởng của môi trường,… được xem xét dựa trên những luận cứ khoa học và được tiến hành theo từng bước. Bên cạnh đó, với kỹ thuật tin học tiên tiến nên Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) đã được FAO ứng dụng trong đánh giá đất đai để xử lý thông tin, đưa ra được các thông số cần thiết và chính xác nhằm xây dựng các loại bản đồ về đất. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đánh giá đất đai như sau: ‒ Đơn vị đất đai, bản đồ đơn vị đất đai (Land Mapping Unit – LMU): là những vùng đất ứng với một tập hợp nhiều yếu tố tự nhiên (thổ nhưỡng, địa chất, địa hình, thuỷ văn…) tương đối đồng nhất và có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sử dụng đất.
‒ Tính chất đất đai (Land Characteristic – LC): là những thuộc tính của đất đai có thể đo đạc được hoặc ước lượng được, thường sử dụng làm phương tiện để mô tả chất lượng đất đai hoặc để phân biệt giữa các đơn vị đất đai có khả năng thích hợp cho sử dụng khác nhau. ‒ Chất lượng đất đai (Land Quality – LQ): là những thuộc tính phức hợp phản ánh mối quan hệ và tương tác của nhiều đặc tính đất đai. Chất lượng đất đai thường được chia thành ba nhóm: nhóm theo yêu cầu sinh thái cây trồng, nhóm theo yêu cầu quản trị và nhóm theo yêu cầu bảo tồn. ‒ Loại hình sử dụng đất (Land Use Type – LUT): là loại hình sử dụng đất được mô tả hoặc xác định chi tiết, một loại hình sử dụng đất có thể là một loại cây trồng hoặc một số loại cây trồng trong một điều kiện kỹ thuật và kinh tế - xã hội nhất định.
Các thuộc tính của loại hình sử dụng đất bao gồm thông tin về sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm, đầu tư, lao động, mức thu nhập … 9 ‒ Yêu cầu sử dụng đất (Land Use Requirement – LUR): là một tập hợp chất lượng đất dùng để xác định điều kiện sản xuất và quản trị đất của loại hình sử dụng đất. Như vậy, yêu cầu sử dụng đất là yêu cầu về đất đai của các loại hình sử dụng đất. Khả năng thích nghi Đánh giá thích nghi tự nhiên chỉ ra mức độ thích hợp của từng loại hình sử dụng đất đối với các điều kiện tự nhiên nhưng không tính đến kinh tế. Bộ thích nghi được chia thành các loại, cụ thể như Bảng 1.
Phân loại khả năng thích nghi đất đai [5] Loại Mô tả Thích nghi Thích nghi cao: đất đai không có các hạn chế, hoặc chỉ có những hạn chế S1 nhỏ không làm giảm năng suất cũng như tăng mức đầu tư quá mức có thể chấp nhận được. Thích nghi trung bình: đất đai có những hạn chế mà cộng chung lại ở mức trung bình đối với việc thực hiện một loại hình sử dụng đất được đưa ra, S2 các giới hạn sẽ làm giảm năng suất hoặc lợi nhuận và làm gia tăng mức đầu tư. Thích nghi kém: đất đai có những giới hạn mà cộng chung lại là nghiêm S3 trọng đối với một loại hình sử dụng đất được đưa ra, tuy nhiên vẫn không làm ta phải loại bỏ loại sử dụng đã định. Phí sản xuất cao nhưng vẫn có lãi.
Không thích nghi Không thích nghi hiện tại: đất đai không thích nghi với loại hình sử dụng N1 đất nào đó trong thời điểm hiện tại.