Chương 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY UNG DUNG CONG NGHE THONG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHUAN NGHE NGHIEP 1. Téng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Trong những năm gần đây, cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, xu hướng đổi mới giáo dục cũng đã và đang được các cấp quản lý giáo dục và các GV tiếp nhận và chuyên hóa bằng hoạt động nghề nghiệp của mình. Bên cạnh đó, các thành tựu của Khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, tạo ra những bước tiến nhảy vọt, đặc biệt trong lĩnh vực CNTT và truyền thông.
Trên thế giới các nước có nền giáo dục phát triển như Mỹ, Úc, Pháp, Nhật Bản, Singapore. Rất quan tâm, đầu tư, ứng dụng, quản lý CNTT vào khoa học công nghệ giáo dục. Họ xem CNTT là then chốt, là chìa khóa của mọi thành công, trong đó có giáo dục đào tạo [dẫn theo 25] Ở Mỹ: Chính phủ Mỹ ủng hộ và trợ giúp những nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTTT trong giáo dục từ cuối thập niên 90. Dạy và học điện tử được áp dụng rộng rãi trên cả nước.
Đối với Australia, trong tải liệu “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin”, tài liệu này bao gồm hai mục tiêu giáo dục trường học bao quát cho nền kinh tế thông tin, đó là: Thứ nhất: Tất cả mọi HS khi hoàn thành cấp học ở trường là những người sử dụng tin cậy, sáng tạo và hiệu quả những công nghệ mới. Thứ: hai: Đề đem lại hiệu quả, nhiều cơ hội học tập cho người học cũng như tăng hiệu quả việc thực tập kinh doanh thực tế của họ, chính vì thế các trường đều hướng tới việc kết hợp CNTT và viễn thông vào trong hệ thống của họ. Quốc gia phát triển Nhật Bản: Từ những năm 1972 Nhật Bản đã xây dựng chương trình quốc gia có tên là: ”Kế hoạch một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia năm 2000” Năm 1981 Singapore thông qua một đạo luật về Tin học cho toàn quốc gia quy định ba nhiệm vụ: Nhiệm vụ một là, thực hiện việc tin học hoá mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ. Nhiệm vụ hai là: Phối hợp GD&ĐT với việc dạy tin học.
Nhiệm vụ ba: Có một Ủy ban máy tính Quốc gia ở đó việc phát triển và thúc đây công nghiệp địch vụ tin học ở Singapore [dẫn theo 25] Nghiên cứu của Naser Jamil Al-Zaidiyeen, Leong Lai Mei va Fong Soon Fook (2010), đã khảo sát trên 650 giáo viên ở Jordan và khẳng định có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa thái độ của giáo viên đối với việc ứng dụng CNTTT và mức độ ứng dụng CNTTT trong HĐDH của họ. Một nghiên cứu của Schacter (1999) đã chứng minh tác động tích cực của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bằng việc phân tích hơn 700 nghiên cứu về tác động của công nghệ giáo dục đến thành quả học tập của học sinh và kết luận rằng học sinh được tiếp cận với công nghệ phục vụ giảng dạy và học tập đều có tác động tích cực đối với thành quả học tập. Sara Hennessy, David Harrison, và Leonard Wamakote (2010) chi ra rằng, ngoài các yếu tố bên ngoài thì kỹ năng và mức độ tự tin về trình độ công nghệ, nghiệp vụ sư phạm trong sử dụng công nghệ, vai trò của giáo viên là những yếu tố quan trọng có tác động đến “lớp học có ung dung CNTT”. Classroom Use of ICT) trong một nghiên cứu tại Châu Phi.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đối với giáo viên cũng như giảng viên sư phạm, việc ứng dụng CNTTT trong dạy và học, sử dụng phương pháp sư phạm hiện đại, là điều cần thiết. Cher Ping Lim, Ching Sing Chai, Daniel Churchill (2010) chỉ ra rằng “Những phương tiện đánh giá từ các bài kiểm tra trình độ được chuẩn hóa đến hồ sơ bài dạy điện tử đã được sử dụng đề đánh giá trình độ tích hợp CNTTT phục vụ cho giảng dạy của các giáo sinh. Việc đánh giá dựa trên bốn phương diện: khả năng sử dụng CNTT, thái độ và niềm tin đối với việc sử 8 dung CNTT, ly luận sư phạm và việc sử CNTTT trong thực tế”. Và nhận định: “Mặc dù đã có nhiều bằng chứng cho thấy CNTT có tiềm năng lớn trong việc cải thiện chất lượng dạy và học cũng như việc tiếp cận CNTT ngày càng dễ dàng hơn, đa số giáo viên trên thế giới ngày nay vẫn chưa sử dụng công nghệ thành thạo hay thường xuyên đề có thé khai thác tiềm năng của nó.Nhắn mạnh yếu tố nhân lực trong việc ứng dụng CNTTT trong dạy học, Craig Barrett (2012) khẳng định: “Tất cả thiết bị công nghệ đang có trong trường học ngày nay sẽ chang c6 giá trị gì nếu giáo viên không biết sử dụng chúng một cách có hiệu quả.
Chính các giáo viên mới đem lại sự kỳ diệu, chứ không phải là chiếc máy vi tính”. Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước cũng cho thấy việc nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong HĐDH được đặc biệt quan tâm. Dựa trên các nghiên cứu đã khảo cứu tác giả rút ra được nhiều nội dung quan trọng đề kế thừa như việc đánh giá tầm quan trọng và tác động tích cực của việc ứng dụng CNTT trong HĐDH, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học, vai trò của yếu tố nhân lực trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học. Dựa trên nghiên cứu của Isleem (2003), Jef Peeraer và Peter Van Petegem Theo ong Peter Van Gils, chuyén gia dự án Công nghệ thông tin trong gido duc va quan ly nha truong (ICTEM) khang dinh: “Chiing ta dang song trong một xã hội mà người ta gọi là một xã hội trì thức hay một xã hội thông tin.
Điều này có nghĩa rằng những sản phẩm đâu ra mang tính công nghiệp trong xã hội của chúng ta đã mắt đi cái tầm quan trọng của nó. Thay vào đó là những “dịch vụ” và “những sản phẩm tri thức”. Trong một xã hội như vậy, thông tin đã trở thành một loại hàng hoá cực kì quan trong. May vi tinh và những kĩ thuật liên quan đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc lưu trữ và truyền tải thông tin và tri thức.
Thực té này yêu cẩu các nhà trường phải đưa các kĩ năng công nghệ vào trong chương trình giảng dạy của mình. Một trường học mà không có công nghệ thông tin là một nhà trường không quan tâm gì tới 2 các sự kiện đang xảy ra trong xã hội ”. Các quốc gia nói trên và cá nhân các nhà nghiên cứu giáo dục thực sự chú trọng và coi trọng CNTTT trong sự phát triển của xã hội. Ở Việt Nam Trong năm 2000 Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo tại Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tháng 2/2003 hội thảo khoa học quốc gia lần đầu, lần thứ hai vào tháng 9/2004 về nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông ICT Tháng 3/2005 hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” của viện CNTT (Đại học Quốc gia Hà Nội) phối hợp khoa CNTT (Đại học Bách khoa Hà Nội) tổ chức nhằm triển khai các ứng dụng CNTT trong giáo dục tại nước ta Tại thành phố Huế hội thảo quốc gia về CNTT&TT lần thứ IV: “CNTT và sự nghiệp giáo dục - y tế” trong điều kiện thực tế của Việt Nam làm như thế nào ứng dụng CNTT vào giáo dục - y tế đạt hiệu quả cao nhất. Vấn để ứng dụng CNTT vào dạy học từ các nghiên cứu, các tác giả đều khẳng định được ý nghĩa và vai trò quan trọng của các biện pháp quản lý. Bên cạnh đó, có nhiều đề tài, luận văn Thạc sĩ QLGD đã đi sâu nghiên cứu về quản lý ứng đụng CNTT trong dạy học, cụ thê luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hải Dũng [8] với đề tài “Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Tri” (2016); Luận văn của Lê Huỳnh Phương Thảo [25] với nội dung “Quản lí hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường tiểu học quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0” (2021) Luận văn “Quản lí hoạt động ứng dụng CNTTT trong dạy học tại các trường THCS huyện Mỹ Đức, Hà Nội đáp ứng yêu cầu đồi mới giáo dục” (2019) Có thê thấy, có nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT trong các nhà trường chứng tỏ đây là một trong những hoạt động có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến năng lực nghề nghiệp của GV cũng như yêu cầu chuẩn nghề nghiệp. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý, quản lý nhà trường 1. Quan ly Ban về khái niệm quản lý, cho đến nay đã có nhiều nhà khoa học đưa ra cách lý giải, lập luận khác nhau, có thé ké đến như: Theo cách lý giải của tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là sự phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [I8]. Nhóm tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, khẳng định: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thé quan ly đến khách thể quản lý trong một tô chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7, tr. Nghiên cứu cách lập luận, lý giải về khoa học của các nhà khoa học, chúng tôi tiếp cận khái niệm quản lý như sau: Quản lý chính là quá trình tác động của các chủ thể quản lý thông qua chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đến đối tượng được quản lÿ nhằm đạt được mục tiêu quản lý.
Trong khái niệm quản lý đã thê hiện rõ 4 chức năng cơ bản của quản lý là kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Cụ thé: Chức năng kế hoạch: chính là việc đưa toàn bộ các nội dung hoạt động quản lý vào kế hoạch nghĩa là xác định rõ mục tiêu đối với các thành tựu trong tương lai của tổ chức, cũng như chỉ ra các con đường, biện pháp thực hiện nhằm đạt được mục tiêu ấy. Chức năng tổ chức: chính là việc thiết lập nên một hệ thống vị trí cho từng cá nhân hay bộ phận nhất định có thê phối, kết hợp với nhau nhằm thực hiện mục tiêu của tô chức một cách tốt nhất. Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo): đó là chủ thể quản lý sử dụng quyền uy của mình ra các quyết định và chỉ đạo cho cá nhân, tổ chức dưới quyền thực hiện các quyết định quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý đã đề ra.