MỞ ĐẦU ˆ Tên đề tài: Ứng dụng công nghé thong tin trong quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ ở các trường đại học 1. Thời gian thực hiện: 2 năm (4/2002 —~ 4/2004) 2. Lý do chọn đề tài: Nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ của các trường đại học. Trong những năm qua, KH-CN ở nước ta đã có nhiều chuyển biến và đã đạt được nhiều thành tích góp phần thay đổi hiện trạng kinh tế-xã hội của cả nước.
Tuy nhiên nhìn thực chất KH-CN của ta chưa tiến được là bao so với các nước đang phát triển trong khu vực mặc dù đã quán triệt sự chỉ đạo của Đảng và Chính phủ coi 'giáo dục-đào tạo và khoa học-công nghệ' phải được ưu tiên hàng đầu. Nguyên nhân dẫn đến chất lượng nghiên cứu KH-CN chưa phát huy được trong thực tiễn có thể kể ra rất nhiều như: Qui trình quản lý từ khâu xét duyệt đến thực hiện, nghiệm thu còn chưa hiệu quả, cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học (NCKH) còn thiếu thốn, điều đáng nói là việc NCKH chưa thực sự gắn với thực tiễn, học chưa kết hợp với hành, thông tin nghiên cứu chưa đến được rộng rãi với nhiều đối tượng trong xã hội. Việc ứng dụng tỉn học trong quản lý các nhiệm vụ nghiên cứu KH-CN ở các trường đại học có thể là khâu đột phá nhằm tăng cường hiệu quả và chất lượng công tác NCKHH ở các trường ĐH hiện nay. Đây cũng chính là lý do tác giả lựa chọn vấn để ứng dụng CNTT trong quản lý các nhiệm vụ KH&CN ở trường đại học để nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất các giải phấp tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý các nhiệm vụ nghiên cứu KH-CN nhằm nâng cao hiệu quá hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường đại học. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn ở nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích hiện trạng để từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường ứng dụng CNTT vào quan lý các hoạt động nghiên cứu KH-CN ở trường đại học. Đề tài không đi vào thiết kế và thử nghiệm chương trình phần mềm ứng dụng. Nội dung nghiên cứu 5.
Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về quản lý các nhiệm vụ KH&CN ở trường đại học 5. Hiện trạng ứng dụng CNTT trong quản lý các nhiệm vụ KH&CN ở các trường đại học Việt Nam 5. Các giải pháp tăng cường ứng dụng CNTTT trong quản lý các nhiệm vụ KH&CN ở trường đại học 6. Phương pháp nghiên cứu e©- Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến vấn để nghiên cứu e - Hội thảo khoa học ˆ e Khao sat thong qua phiếu hỏi được gửi tới các trường ĐH và CÐ trong toàn quốc e Phuong pháp chuyên gia: Lấy ý kiến trực tiếp thông qua tọa đàm, phỏng vấn các chuyên gia về tính cấp thiết, khả thí của các giải pháp đề xuất, 7.
Kế hoạch nghiên cứu: - Đã tổ chức các hội thảo khoa học về “Cơ sở lý luận về quản lý các nhiệm vụ KH&CN và các giải pháp tăng cường ứng dụng CNTT vào quản lý các nhiệm vụ. KH&CN ở các trường đại học. - Đã tiến hành khảo sát 52 trường đại học và cao đẳng trong toàn quốc và lấy ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn liên quan đến đề tài nghiên cứu. Kinh phí thực hiện đề tài: 40.
Cán bộ tham gia đề tài: 1. Vương Thanh Hương — Viện CL&CTGD Chủ nhiệm đề tài 2. Trần Thị Ninh Giang —- Viện CL&CTGD Thư ký để tài 3. Bùi Thị Tính — Viện CL&C†TGD Thành viên 4.
Nguyễn Dinh Trung - Viện CU&CTGD Thành viên 5. Nguyễn Bá Thái - Viện CL&CTGD Thành viên 6. Chữ Đức Nhã - Vụ KH&CN, Bộ GD&ĐÐĐT Thành viên 7. Vũ Đình Hoà - ĐH Nông nghiệp I, Hà Nội Thành viên 8.
Phan Tùng Mậu — Ban Khoa giáo Trung ương Thành viên 9. Nguyễn Thị Vinh Hoà - Viện CL&€ŒTGD Thành viên 10. Sản phẩm khoa học của đề tài: Sản phẩm chính của đề tài gồm báo cáo nghiên cứu khoa học toàn văn, báo cáo tóm tắt, kết quả điều tra khảo sát của đề tài và một số bài viết của các cộng tác viên. Chủ nhiệm đề tài đã có 2 bài báo liên quan đến để tài gửi đăng tạp chí “Phát triển Giáo dục”, số 2/2003 và 5/2004 — Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục PHẦN 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI ˆ 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ CÁC NHIỆM VỤ KH&CN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan về vấn để nghiên cứu Bước vào thế kỷ 21, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (KH&CN) hiện đại tiếp tục có tác động sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội. Phát triển dựa vào KH&CN trở thành xu thế tất yếu đối với nhiều quốc gia trên thế giới. ˆ Trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục, KH&CN là quốc sách hàng đầu.
Đại hội IX của Đảng đã khẳng định nước ta cần và có thể rút ngắn quá trình CNH, HĐH bằng cách phát triển mạnh mẽ năng lực KH&CN, nắm bắt và vận dụng sáng tạo những thành tựu KH&CN mới nhất của thế giới. NCKH và đào tạo là hai nhiệm vụ quan trọng ở các trường đại học. Trong những năm vừa qua, các trường đại học đã tổ chức thực hiện, triển khai thành công các nhiệm vụ KH&CN được giao, phục vụ tích cực cho việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và chuyển giao cong nghệ phục vụ sản xuất và đời sống. Một số trường đại học có uy tín là nơi rất coi trọng nhiệm vụ NCKH và có thể nói sự trưởng thành của cán bộ trong giảng dạy là kết quả của các hoạt động khoa học mà họ đang tiến hành và tham gia.
Có thể nói các trường đại học là nơi đào tạo và sản sinh ra các trí thức khoa học. Về : lĩnh vực NCKH ở các trường đại học, Ngân hàng thế giới đã tổng kết và cho, thấy rằng: "Phân lớn các nước không thể chỉ đơn thuần dựa vào việc đào tạo và NCKH ở nước ngoài. Điều này tốn kém, không hướng được vào những nhu cầu của quốc gia mà còn có thể dẫn đến mất mát các trí thức ra nước ngoài. Vì vậy, năng lực nghiên cứu của một quốc gia phải được thành lập ở các lĩnh vực khoa học cơ bản và kỹ thuật." Chính phủ nhiều nước cũng đi đến nhận định rằng: Khu vực giáo dục đại học là một nguồn kiến thức công nghệ và bí quyết sản xuất cần được khai thác.
Ở Việt Nam, điều 12, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 đã xác định các nhiệm vụ KH&CN của các trường đại học là: (a) Trường đại học có nhiệm vụ tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất, dịch vụ KH&CN theo qui định của Luật này, Luật giáo dục và các qui định khác của pháp luật. (b)Trường đại học thực hiện nghiên cứu cơ bản, nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên, trọng điểm của nhà nước và NCKH về giáo dục. : Điều 54, Luật Giáo duc nim 1998 cũng đã ghi rõ ngoài nhiệm vu đào tạo, giảng dạy, các trường đại học, cao đẳng còn có các nhiệm vụ sau: (4) Thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển công nghệ, tham gia giải quyết các vấn dé kinh tế-xã hội của địa phương và đất nước. (b)Thực hiện các dịch vụ khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh đoanh phù hợp với ngành nghề đào tạo theo qui định của pháp luật.
Việc triển khai ứng dụng CNTT trong các hoạt động KH&CN ở Việt Nam có từ những năm 80 của thế kỷ XX, đặc biệt trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc hệ thống thông tín KH&CN cấp quốc gia. Các cơ quan này đã nhận thức được việc ứng dụng CNTTT sẽ tạo ra những đột biến về chất trong hoạt động thông tin KH&CN. Chỉ trong một thời gian ngắn, một số khá lớn các cơ sở dữ liệu (CSDL) đã được hình thành với hàng chục ngàn biểu ghi. Một số cơ sở dữ liệu đã có thể chia sẻ trên mạng tới đông đảo độc giả trong và ngoài nước.
Với sự phát triển công nghệ mạng như mạng nội bộ (LAN), mạng điện rộng (WAN) đặc biệt là Internet và Intranet, các cơ quan thông tin đang từng bước thiết kế và triển khai các mạng thông tin KH&CN với qui mô khác nhau. Một số trường đại học lớn như ĐI Quốc gia Hà Nội, ĐH Thái Nguyên, ĐH Vinh, ĐH Đà Nẵng, ĐH Luật Hà Nội, ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội. đã thiết lập các mang Intranet phục vụ hoạt động giảng dạy và học tập. Vẻ mặt lý luận, đã có nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy và học trong nước và trên thế giới.
Một số để tài thực hiện tại Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục cũng đã để cập đến vấn đề này như để tài "Giáo duc từ xa" do GS. Nguyễn Cảnh Toàn làm chủ nhiệm cũng coi CNTT là một công cụ hữu hiệu phục vụ cho quá trình đạy và học. Đề tài "Nghiên cứu các giải pháp tăng cường việc ứng dụng CNTT trong dạy và học ở các trường trung học chuyên nghiệp" do Th§. Nguyễn Đăng Trụ làm chủ nhiệm đã nghiên cứu khả ning tng dung CNTT trong dạy học nói chung và trong các trường THCN nói riêng.
Việc ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý GD-ĐT hiện cũng được nhiều dự án, dé án quan tâm như: Để án tin học của Bộ GD&ĐT, dự án "Hỗ trợ Bộ GD&ĐT” do EU tài trợ. Vụ Khoa học - Công nghệ, Bộ GD&ĐT đã phối hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin xây dựng phần mềm quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học. Tóm lại, từ tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đã tạo điều kiện cho tác giả để tài và nhóm nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm và các bài học trong quá trình nghiên cứu của mình. Một số chính sách phát triển CNTT của Việt Nam.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, phát triển CNTT là một hướng cấp bách để Việt Nam nhanh chóng hội nhập và tiếp cận được với sự phát triển nhanh chống của KH&CN. Nhận thức sâu sắc vai trò của CNTT, ngày 04-08- 1993 Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị quyết 49/CP về phát triển CNTT ở Việt Nam.