Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ SDR 1.1 Khái niệm cơ bản về hệ thống SDR 1.1 Quá trình nghiên cứu Khái niệm hệ thống vô tuyến cấu hình mềm SDR đƣợc đƣa ra năm 1991, tuy nhiên nội dung nghiên cứu về loại thiết bị vô tuyến này đã đƣợc bắt đầu ngay từ thập kỷ 70 của thế kỷ 20. Tên ban đầu là “Software Radio”, còn có tên gọi khác nhƣ “Re-programmable radios” hoặc “Re-configurable radios” là thiết bị vô tuyến có thể tái cấu hình hay tái lập trình. Tên gọi thay đổi theo thời gian và tùy theo ứng dụng. Sự phát triển của các thiết bị bán dẫn sau những năm 1991 đã cho phép chế tạo thiết bị vô tuyến sử dụng công nghệ số.
Mặc dù công nghệ đã phát triển, song vẫn còn nhiều quan tâm nghiên cứu về SDR. Một số nghiên cứu đặc biệt về SDR đã đƣợc xuất bản vào năm 2000 [1], đề cập đến cách tích hợp tần số vô tuyến và một số chức năng của thiết bị khác vào SDR. Đây là phƣơng pháp tiếp cận mới hƣớng đến kỹ thuật hệ thống không dây, tạo cơ sở xây dựng những hệ thống vô tuyến trong tƣơng lai. Một số nghiên cứu khác đề cập đến chức năng của SDR để giải quyết các vấn đề liên quan, cũng nhƣ ứng dụng cho toàn bộ các công nghệ liên quan đến thiết kế tần số vô tuyến, xử lý tín hiệu và phần mềm [2].
Những nghiên cứu này cung cấp nền tảng vững chắc, kiến thức về hệ thống không dây thế hệ mới, mới mà thiết kế vô tuyến trong tƣơng lai sẽ đảm nhận tính linh hoạt động nhƣ đã cho. Ứng dụng của SDR còn đƣợc áp dụng cho lĩnh vực thƣơng mại trong việc cung cấp các dịch vụ để giảm bớt nhu cầu tiêu chuẩn hóa và cải thiện các chính sách quản lý [3]. Nghiên cứu đã thúc đẩy các đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông truyền thống cạnh tranh với các nhà cung cấp sử dụng dịch vụ có nền tảng SDR mới; nó tác động lớn đến ngành công nghiệp di động, làm giảm chi phí triển khai và chi phí vận hành. Nguyên nhân chủ yếu do thiết bị vô tuyến truyền thống có cấu hình cứng, hệ thống chỉ gồm 1 số ít các phần mềm điều khiển, tạo ra cho các chức năng xác định, công tác ở một số chế độ cụ thể, các tiêu chuẩn giới hạn, trong các điều kiện cụ thể nào đó.
Thời gian sử dụng thiết bị ngắn hơn do các linh kiện sử dụng lão hóa, nhu cầu sử dụng luôn thay đổi nhanh chóng mà phần cứng chƣa thể thay đổi kịp Luan van 4 theo. Nhƣng với phần mềm thì có thể nâng cấp, thay thế dễ dàng do đó kéo dài tuổi thọ, thời gian sử dụng của thiết bị. Hiện nay các thiết bị thông tin SDR đang đƣợc nghiên cứu thay thế để khắc phục các nhƣợc điểm này. Yếu tố này sẽ làm thúc đẩy sửa đổi mô hình kinh doanh viễn thông của các doanh nghiệp.
Cho đến nay, SDR đã phát triển thế hệ các thiết bị vô tuyến ứng dụng công nghệ thực hiện các kỹ thuật mới trong thông tin liên lạc, đảm bảo đa băng, đa chế độ với khả năng hoạt động đƣợc thiết lập qua lập trình với cấu trúc mở của hệ thống. Bản chất thiết bị thông tin ứng dụng công nghệ SDR có các tính năng tuỳ biến thông qua phần mềm và hoạt động trên nền tảng của phần cứng đã đƣợc thiết kế tối ƣu. So với các thiết bị thông tin thông thƣờng, thiết bị SDR có ƣu điểm là dễ thích ứng với nhiều tiêu chuẩn khác nhau, có dải tần công tác rộng, cung cấp nhiều chế độ làm việc và đặc biệt là linh hoạt trong quá trình sử dụng nhƣ đã đề cập. Một số nghiên cứu về nền tảng SOPRANO dựa trên SDR [4] trình bày phƣơng pháp thiết kế cấp cao cho các mạch kỹ thuật số, cách chuyển đổi trực tiếp dựa trên công nghệ sáu cổng và thuật toán xử lý tín hiệu số mới cho hoạt động đa băng tần và đa chế độ hay những đánh giá về công nghệ SDR [5] bao gồm các sơ đồ phần cứng và các lĩnh vực ứng dụng về một thiết bị hiệu suất thấp đƣợc trình bày và một số thử nghiệm đƣợc thực hiện bằng phần mềm.
Những nghiên cứu trên đã đóng góp cho các giải pháp giảm chi phí để thể giải quyết các vấn đề phát triển hệ thống viễn thông ngày nay. Ngoài ra, công nghệ về SDR ngày nay đƣợc dùng rất nhiều trong nghiên cứu, ứng dụng viễn thông thƣơng mại hoặc có thể sử dụng trong các phƣơng pháp điều chế và đo lƣờng tín hiệu. Trong lĩnh vực quân sự, SDR đƣợc ứng dụng để đảm bảo tính “nhanh chóng – bí mật – kịp thời” trong hiệp đồng tác chiến các quân binh chủng. Tại Việt Nam hiện nay chƣa có nhiều nghiên cứu đƣợc công khai về việc sử dụng SDR trong các lĩnh vực nói trên.
Về bản chất thiết bị thông tin ứng dụng công nghệ SDR có các tính năng tuỳ biến thông qua phần mềm và hoạt động trên nền tảng của phần cứng đã đƣợc thiết kế tối ƣu. So với các thiết bị thông tin thông thƣờng, thiết bị vô tuyến điện định nghĩa bằng phần mềm có ƣu điểm là dễ thích ứng với nhiều tiêu chuẩn khác nhau, Luan van 5 có dải tần công tác rộng, cung cấp nhiều chế độ làm việc và đặc biệt là linh hoạt trong quá trình sử dụng. Thiết bị vô tuyến truyền thống chủ yếu hoạt động bởi cấu hình cứng kèm số ít các phần mềm điều khiển để tạo ra cho các chức năng xác định, chúng chỉ có thể thể công tác ở một số chế độ cụ thể, các tiêu chuẩn giới hạn, trong các điều kiện nhất định. Thời gian sử dụng thiết bị ngắn hơn do nhu cầu sử dụng thay đổi nhanh chóng mà phần cứng chƣa thể đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật.
Nhƣng nếu ta có thể tích hợp các chức năng bằng phần mềm thì ta có thể nâng cấp, thay thế dễ dàng do đó kéo dài tuổi thọ, thời gian sử dụng của thiết bị. Hiện nay các thiết bị thông tin SDR đang đƣợc nghiên cứu thay thế để khắc phục các nhƣợc điểm này.2 Khái niệm về thiết bị vô tuyến có cấu trúc mềm SDR Thiết bị vô tuyến có cấu trúc mềm (SDR) là thiết bị trong đó việc số hóa tín hiệu thu đƣợc thực hiện tại một tầng nào đó xuôi dòng từ anten, tiêu biểu là sau khi lọc dải rộng, khuyếch đại tạp âm nhỏ và hạ tần xuống tần số thấp hơn trong các tầng tiếp theo, quá trình số hóa tín hiệu phát diễn ra ngƣợc lại. Việc xử lý tín hiệu số trong các khối chức năng có khả năng định lại cấu hình và mềm dẻo, xác định các đặc điểm của thiết bị vô tuyến. Khi công nghệ phát triển, SDR có thể tiến tới thiết bị vô tuyến thông minh, trong đó việc số hóa đƣợc thực hiện tại (hoặc rất gần) anten và tất cả qúa trình xử lý yêu cầu cho thiết bị vô tuyến đƣợc thực hiện bởi phần mềm cài trong các thành phần xử lý tín hiệu số tốc độ cao.
Nhƣ đƣợc minh họa trong hình 1.1: sơ đồ của SDR giai đoạn đầu và hệ thống truyền thông cá nhân – PCS [7]. Phần cao tần Phần xử lý tín hiệu Bàn phím Microphone Chuyển Xử lý Hạ tần Xử lý Hạ tần Xử lý Vào/ mạch T/R cao tần trung tần băng gốc Loa Ra Màn hình thu nhỏ Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc SDR giai đoạn 1 Luan van 6 Khi xem xét kỹ cấu trúc này, chúng ta thấy đƣợc sự khác biệt rõ giữa SDR và SR (SoftWare Radio), đó là giai đoạn chuyển đổi cơ bản về cấu trúc của SDR tới SR. Sự thay đổi này là những tiến bộ trong công nghệ lõi đƣợc cân bằng với toàn bộ phạm vi tiêu chuẩn thiết kế và các yêu cầu đối với sản phẩm vô tuyến. Công nghệ lõi trong trƣờng hợp này bao gồm tối thiểu là các khả năng chuyển đổi tƣơng tự - số - tƣơng tự, các tiến bộ xử lý tín hiệu số, các thuật toán, các tiến bộ về bộ nhớ, bao hàm cả thuộc tính tƣơng tự của các khối xây dựng cơ bản yêu cầu cho việc số hóa và xử lý các tín hiệu vô tuyến trong không gian số và bất kỳ sự chuyển đổi tần số cần thiết của môi trƣờng tƣơng tự.
Tiêu chuẩn thiết kế và yêu cầu bao gồm các yếu tố về giá thành, độ phức tạp, chất lƣợng và hình dạng, kích thƣớc, trọng lƣợng, mức tiêu thụ công suất…vv. Trong thiết bị đầu cuối không dây thƣơng mại cụ thể nhƣ là các dịch vụ truyền thông cá nhân (PCS) cần kết hợp nhiều loại giao diện công nghệ vô tuyến và các dải tần số trong thiết bị đầu cuối. Theo phƣơng pháp thực hiện truyền thống, mỗi giao diện vô tuyến duy nhất kết hợp băng tần sẽ đƣợc xây dựng xung quanh một tập hợp các mạch ứng dụng cụ thể chuyên dụng hoặc các mạch tích hợp chức năng. Về cơ bản, các khả năng đó đƣợc mã hóa cứng và cố định tại thời điểm thiết kế hoặc sản xuất.
Để tăng số dải hoặc phƣơng thức đƣợc hỗ trợ thì các khối chức năng bổ sung đƣợc gắn thêm vào bên trong thiết bị đầu cuối. Ứng dụng của thiết bị vô tuyến trong SDR đƣợc chỉ ra trong hình 1. Phần cao tần Phần xử lý tín hiệu Các bộ lọc 30, 200, 1250 kHz RF: 869 – 894 MHz Bàn phím Chuyển Xử lý Hạ tần Xử lý Xử lý băng Microphone Hạ tần gốc tƣơng tự Vào/Ra mạch T/R cao tần trung tần Loa Xử lý Hạ tần Màn hình RF:1930-1990MHz cao tần Xử lý Hạ tần Bộ chuyển đổi A/D Bộ chuyển đổi D/A RF:1805–1830MHz cao tần Xử lý Hạ tần Hạ tần Xử lý băng RF:935–960MHz cao tần gốc TDMA Xử lý băng gốc GSM Xử lý băng gốc CDMA Hình 1.2: SDR - giai đoạn 2 [6] Luan van 7 Những ƣu điểm chính là sự thay thế công nghệ trong. Các cấu trúc tiếp theo dựa trên cơ sở này và đem lại khả năng mềm dẻo nhiều hơn: từ đơn giản là việc cập nhật chức năng vô tuyến, tới mức cao là tải xuống các giao diện vô tuyến mới qua đƣờng vô tuyến.
Việc phân chia các khả năng xử lý theo các chức năng vô tuyến và các ứng dụng rộng khắp của của phƣơng tiện vô tuyến là đòn bẩy rất hiệu quả, làm tăng khả năng vô tuyến của SDR, đó là khả năng điều khiển dễ dàng, vƣợt ra khỏi các hạn chế vốn có trong các ứng dụng cụ thể và các khối chức năng cố định sẵn có trong các thiết bị hiện thời.4 minh họa cho sự phát triển của SDR trong tƣơng lai.