Chương 1: Tổng quan tài liệu. Chương 2: Nguyên vật liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả và thảo luận. Chương 4: Kết luận và kiến nghị.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ SỢI QUANG 1. Sơ lược về sự phát triển của sợi quang Năm 1880, Alexander Graham Bell, người Mỹ, đã phát minh ra một hệ thống thông tin ánh sáng, đó là hệ thống photophone sử dụng ánh sáng mặt trời từ một gương phẳng mỏng đã điều chế tiếng nói để mang tiếng nói đi, nhưng nguồn nhiễu quá lớn làm giảm chất lượng đường truyền [1].French, kỹ sư người Mỹ, nhận được bằng sáng chế về hệ thống thông tin quang với phương tiện truyền dẫn là thanh thủy tinh [1]. Kao và George Hockham thuộc phòng thí nghiệm Standard Telecommunication của Anh thực hiện nhiều thí nghiệm để chứng minh rằng nếu thủy tinh được chế tạo trong suốt hơn bằng cách giảm tạp chất trong thủy tinh thì sự suy hao ánh sáng sẽ được giảm tối thiểu.
Và họ cho rằng nếu sợi quang được chế tạo đủ tinh khiết thì ánh sáng có thể truyền đi xa nhiều Km [1]. Năm 1983, sợi quang đơn mode SM (Single Mode) được sản xuất ở Mỹ. Đầu những năm 1980, các Công ty điện thoại bắt đầu sử dụng sợi quang để xây dựng lại cơ sở hạ tầng truyền thông và sử dụng cáp quang vào mục đích thương mại [1]. Ngày nay, công nghệ và kỹ thuật truyền dẫn quang tiếp tục phát triển mạnh và được coi là hệ thống truyền tải thông tin với tốc độ cao khi hàng tỉ dữ liệu số hoá được chuyển hoá thành những tín hiệu ánh sáng để truyền đi trong sợi quang.
Ngoài ra, công nghệ và kỹ thuật truyền dẫn quang cũng đang đóng vai trò quan trọng tại nhiều lĩnh vực như: truyền hình mạng, mạng Internet, mạng điện thoại…. Khái niệm, cấu tạo và nguyên lí hoạt động của sợi quang 1. Khái niệm sợi quang Sợi quang là một loại sợi linh hoạt, trong suốt và được làm bằng thủy tinh (silicate) hoặc nhựa (plastic). Sợi quang có kích thước rất nhỏ, được dùng để truyền dẫn tín hiệu bằng ánh sáng và được sử dụng rộng rãi trong truyền thông tin sợi quang nhờ những ưu điểm nổi bật của nó như: Hoạt động tốt ở khoảng cách hàng ngàn mét, băng thông rộng, suy giảm tín hiệu ít, tính bảo mật tín hiệu cao, không bị nhiễu điện từ, không dẫn điện, tỷ lệ lỗi bít rất thấp, suy hao tín hiệu thấp và ít méo dạng tín hiệu, sợi quang cung cấp băng thông rộng….
Vì vậy, sợi quang là giải pháp lựa chọn phù hợp để truyền tải dữ liệu tốc độ cao và truyền đi đến những khoảng cách xa. Cấu tạo của sợi quang * Thành phần chính của sợi quang gồm lõi và lớp bọc được mô tả như hình 1. - Lõi (core): Hình trụ, là thành phần chính của một sợi quang, có vai trò truyền dẫn tín hiệu ánh sáng nhờ sự phản xạ toàn phần ánh sáng giữa lõi và lớp bọc. Lõi thường được làm bằng vật liệu thủy tinh hoặc chất dẻo trong suốt có chiết suất n1.
- Lớp vỏ bọc (cladding): Hình trụ, là lớp bao ngoài trực tiếp với lõi sợi quang, nhờ đó tạo ra hiện tượng phản xạ toàn phần liên tiếp trong sợi quang. Lớp vỏ bọc có chiết suất n2 nhỏ hơn so n1 [1]. Lõi và lớp vỏ bọc của sợi quang với các chiết suất n 1, n2 được minh họa trong hình 1. Hình ảnh sợi quang * Để bảo vệ sợi quang tránh các tác dụng bên ngoài, sợi quang còn được bọc thêm các lớp: - Lớp phủ ngoài (coating): Có tác dụng hấp thụ các tia sáng bị tán xạ ra bên ngoài lớp vỏ bọc, chống gãy dập sợi quang, chống sự xâm nhập của nước, các tác nhân vật lý, hóa học bên ngoài.đến lõi sợi quang [1,2].
Chiết suất của lớp phủ lớn hơn chiết suất của lớp bọc để loại bỏ các tia sáng truyền trong lớp bọc. - Lớp gia cường (strength memner): Làm tăng sức chịu lực, chịu nhiệt cho sợi quang. - Lớp vỏ (outer jacket): Là lớp vỏ cứng ngoài cùng có tác dụng bảo vệ các thành phần bên trong trước các tác dụng cơ học và sự thay đổi nhiệt độ…đến lõi sợi quang. Nguyên lí hoạt động của sợi quang Thông tin được truyền dẫn qua cáp quang bắt đầu ở dạng một dòng điện mang theo một lượng dữ liệu số hoá.
Một nguồn sáng, thường là nguồn laser, chuyển hoá dòng điện mang thông tin này thành những xung ánh sáng và đưa chúng vào những sợi cáp quang. Trong sợi quang, chiết suất của lớp vỏ bọc n2 nhỏ hơn chiết suất của lớp lõi n1 nên ánh sáng bị phản xạ toàn phần liên tục ở mặt phân cách giữa lớp lõi và lớp vỏ bọc như được minh họa ở hình 1.1, nhờ đó ánh sáng được truyền đi dọc theo sợi quang. Xung ánh sáng đi qua lõi của sợi quang bằng rất nhiều hướng được gọi là những đường dẫn .Ở điểm nhận tín hiệu, một thiết bị dò ánh sáng nhận xung ánh sáng và chuyển hoá chúng thành dòng điện và tái tạo lại thông tin gốc ban đầu. Kết quả là thông tin đã được truyền đi xa thông qua sợi quang [2].
Các công nghệ truyền dẫn quang Công nghệ truyền dẫn quang gồm hai mode truyền dẫn: Đơn mode (Single mode) và đa mode (Multi mode). - Loại đa mode thể hiện trên hình 1. Trong đó các tia tạo xung ánh sáng có thể đi theo nhiều đường khác nhau trong lõi: thẳng, cong, zig zag…sử dụng cho truyền tải tín hiệu trong khoảng cách ngắn [1, 2]. - Loại đơn mode thể hiện trên hình 1.
Trong đó các tia truyền theo phương song song trục. Xung nhận được hội tụ tốt, ít méo dạng. Thường dùng cho truyền tải tín hiệu khoảng cách xa hàng nghìn km. Truyền dẫn quang bằng (a) đa mode và (b) đơn mode [3] 1.
KỸ THUẬT GHÉP KÊNH PHÂN CHIA THEO BƯỚC SÓNG (WDM) 1. Tổng quan về ghép kênh phân chia bước sóng (WDM) Ghép kênh là kỹ thuật rất quan trọng trong các hệ thống thông tin. Khi truyền đi, mỗi bước sóng đại diện cho một kênh quang trong sợi quang. Ghép kênh có nhiều dạng: Ghép kênh theo thời gian (TDM), ghép kênh theo tần số (FDM), ghép kênh theo bước sóng WDM, trong đó ghép kênh theo 9 bước sóng WDM là giải pháp tiên tiến trong kỹ thuật thông tin quang và được sử dụng phổ biến nhất hiện nay [3].
Ghép kênh phân chia bước sóng WDM là công nghệ ghép nhiều tín hiệu (hoặc chuỗi dữ liệu) có các bước sóng khác nhau thành một tín hiệu (hoặc chuỗi dữ liệu) sóng mang trên một sợi quang để truyền tín hiệu đi xa. Kĩ thuật ghép kênh phân chia bước sóng WDM cho phép tăng dung lượng mà không cần tăng tốc độ bít đường truyền và cũng không dùng thêm sợi dẫn quang. Công nghệ WDM đã giúp tiết kiệm tài nguyên, tăng hiệu suất kênh truyền, nhất là băng thông WDM sử dụng rất lớn và có đặc tính trong suốt với dữ liệu, do đó các mạng WDM có thể chấp nhận dữ liệu ở bất kỳ tốc độ bít nào và bất kỳ định dạng giao thức nào trong phạm vi giới hạn. Trong hai thập kỷ qua, công nghệ truyền tải quang WDM đã có sự phát triển vượt bậc.
Những thành tựu của công nghệ này đã góp phần tạo nên hệ thống WDM dung lượng rất lớn như ngày nay [4]. Sơ đồ khối của hệ thống WDM được hiển thị trong hình 1. Sơ đồ chức năng của hệ thống WDM [1, 3]. Trong những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ WDM trên sợi quang đã phát triển mạnh mẽ và bắt đầu được đưa vào sử dụng rộng rãi hình thành mạng thông tin quang.
Nguyên lí hoạt động của hệ thống WDM Hệ thống WDM hoạt động dựa trên cơ sở tiềm năng băng tần của sợi quang để mang đi nhiều bước sóng ánh sáng khác nhau, điều thiết yếu là 10 việc truyền đồng thời nhiều bước sóng cùng một lúc này không gây nhiễu lẫn nhau. Mỗi bước sóng đại diện cho một kênh quang trong sợi quang. Mục tiêu của ghép kênh quang là nhằm để tăng dung lượng truyền dẫn. Tại phía phát, bộ ghép kênh quang MUX thực hiện việc ghép và khuếch đại các sóng ánh sáng với các bước sóng khác nhau để cùng truyền đi trên một sợi quang đến máy thu.
Tại phía thu, bộ tách kênh quang DEMUX thực hiện việc tách các sóng ánh sáng đã ghép thành các bước sóng khác nhau để đưa đến các đầu thu tương ứng, sau đó khôi phục lại tín hiệu gốc rồi đưa vào các đầu cuối khác nhau. Khi dùng bộ tách/ghép WDM, ta phải xét các tham số như : khoảng cách giữa các kênh, độ rộng băng tần của các kênh bước sóng, bước sóng trung tâm của kênh, mức xuyên âm giữa các kênh, tính đồng đều của kênh, suy hao xen, suy hao phản xạ, xuyên âm đầu gần đầu xa [3, 4]. Sơ đồ hệ thống thông tin quang được thể hiện trên hình 1. Hệ thống thông tin quang 1.
Phân loại kỹ thuật ghép kênh WDM Có hai kỹ thuật ghép kênh WDM đó là: 1. Kỹ thuật truyền dẫn hai chiều trên hai sợi: Trong hệ thống WDM truyền dẫn hai chiều trên hai sợi, tất cả kênh quang cùng trên một sợi quang truyền dẫn theo cùng một chiều (như hình 1. Sơ đồ truyền dẫn 2 chiều trên 2 sợi quang [3] Ở đầu phát các tín hiệu có bước sóng quang khác nhau và đã được điều chế 1 , 2 , 3 ., n thông qua bộ ghép kênh tổ hợp lại với nhau, và truyền dẫn một chiều trên một sợi quang. Vì các tín hiệu được mang qua các bước sóng khác nhau, do đó sẽ không lẫn lộn.
Ở đầu thu, bộ tách kênh quang tách các tín hiệu có bước sóng khác nhau, hoàn thành truyền dẫn tín hiệu quang nhiều kênh. Ở chiều ngược lại truyền dẫn qua một sợi quang khác, nguyên lý giống như vậy [3]. Hệ thống WDM hai chiều trên hai sợi được ứng dụng và phát triển tương đối rộng rãi trong kỹ thuật quang. Kỹ thuật truyền dẫn hai chiều trên một sợi Ở hệ thống WDM truyền dẫn hai chiều trên một sợi: ở hướng đi, các kênh quang tương ứng với các bước sóng 1 , 2 , 3 ., n thông qua bộ ghép/tách kênh được tổ hợp lại với nhau truyền dẫn trên một sợi [3, 4].
Cũng sợi quang đó, ở hướng về các bước sóng n 1 , n2 ,. 2 n được truyền dẫn theo chiều ngược lại (như hình 1. Nói cách khác, ta dùng các bước sóng tách rời để thông tin hai chiều. Sơ đồ truyền dẫn 2 chiều trên cùng 1 sợi quang [3] 12 Ở phía phát, các thiết bị ghép kênh phải có suy hao nhỏ từ mỗi nguồn quang đến đầu ra của bộ ghép kênh.