CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN optimize. Các kết quả mô phỏng sẽ được phân tích, nhận xét. Từ đó, đánh giá về hiệu năng của mô hình hệ thống đã xây dựng.
Chương 5 sẽ tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đồng thời đề ra hướng phát triển trong tương lai của luận văn. 4 HVTH: Nguyễn Hữu Sự CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT TỔNG QUAN 2.1 Kỹ thuật đa truy cập không trực giao (NOMA) 2.1 Giới thiệu Trong lịch sử của truyền thông không dây, từ thế hệ đầu tiên (1G) đến thế hệ thứ 4 (4G), các mô hình đa truy cập được coi là chìa khóa công nghệ để phân biệt các hệ thống không dây khác nhau. Các mô hình đa truy cập được biết đến như là đa truy cập phân chia theo tần số (FDMA) cho 1G, đa truy cập phân chia theo thời gian (TDMA) hầu hết cho thế hệ thứ 2 (2G), đa truy cập phân chia theo mã (CDMA) cho thế hệ thứ 3 (3G), và đa truy cập chia theo tần số trực giao (OFDM) cho thế hệ (4G). Trong các mô hình đa truy cập trực giao thông thường này, các người dùng khác nhau được phân bổ các nguồn tài nguyên trực giao nhau trong miền thời gian, tần số hoặc mã theo bậc để tránh hoặc làm giảm bớt khả năng gây nhiễu giữa các người dùng với nhau.
Trong trường hợp này, độ lợi ghép kênh có thể đạt được với khả năng kết hợp một cách hợp lý. Tuy nhiên sự phát triển nhanh của các mạng di động có thể tăng lên 1000 lần lưu lượng vào năm 2021 cho mạng thông tin di động thế hệ thứ 5 (5G). Do đó hiệu suất phổ tần trở thành một vấn đề thách thức khi mà lưu lượng dữ liệu ngày càng tăng. Hơn nữa, do sự phát triển nhanh chóng của IoT (Internet of Things), nên cần phải cải tiến công nghệ truy cập nhằm hỗ trợ kết nối tối đa của người dùng hoặc các thiết bị để đáp ứng được yêu cầu cho độ trễ thấp, chi phí thiết bị thấp, và tương thích với các kiểu dịch vụ khác nhau.
Để đáp ứng được những yêu cầu này, nâng cao công nghệ là điều cần thiết. Một vài ứng viên tiềm năng cho mạng thế hệ thứ 5 (5G), chẳng hạn như kỹ thuật massive MIMO [17], truyền thông sóng millimeter [18], và kỹ thuật đa truy nhập không trực giao (NOMA). Trong luận văn này, học viên chú trọng đến kỹ thuật đa truy nhập không trực giao (NOMA), kỹ thuật này được chọn là đặc trưng cho mạng 5G và được mong chờ giúp cho thông lượng của hệ thống tăng lên cao hơn và kết nối được nhiều người dùng hơn. NOMA cho phép nhiều người dùng chia sẻ nguồn tài nguyên như là thời gian và tần số trong cùng lớp không gian giống nhau thông qua miền ghép kênh mới, đó là miền công suất.2 Mô tả hoạt động Để làm rõ hơn cách thức hoạt động của mô hình đa truy nhập không trực giao (NOMA), trong khuôn khổ của đề tài luận văn, học viên mô tả một kỹ thuật cơ bản đó là kỹ thuật NOMA đường xuống.
Như trong Hình 2.1, mô hình NOMA đường xuống bao gồm một trạm gốc (S), và hai thiết bị người dùng lần lượt là người dùng thứ nhất (D1 ) và người dùng thứ 2 (D2 ). Để đơn giản, ta chỉ xem xét các nút hoạt động chỉ có một ăng-ten. Tổng băng thông chuẩn hóa trong hệ thống được giả sử bằng 1 Hz, S truyền tín hiệu đi là x, trong đó x = x1 +x2 với x1 và x2 lần lượt là tín hiệu của hai người dùng là D1 và D2 với E{|x1 |2 } = P1 và E{|x2 |2 }=P2. Tổng công suất phát của trạm gốc (S) là PT = P1 +P2.
LÝ THUYẾT TỔNG QUAN Hình 2.1: Mô hình NOMA đường xuống Tín hiệu nhận được tại hai người dùng như sau: yi = hi x + ni (2.1) trong đó i = {1,2}, hi là hệ số kênh truyền giữa S và Di , ni là nhiễu cộng hay nhiễu Gauss của hệ thống. Mật độ phổ công suất nhiễu của ni là N0,i. Trong kỹ thuật NOMA đường xuống, tín hiệu được phát đi tại S truyền tới hai người dùng đều là x. Do đó sự phân tách tín hiệu tại phía các người dùng (Di ), với i={1,2} cần được thực hiện để mỗi người dùng Di có thể nhận biết được tín hiệu của chính nó.
Để thực hiện được điều này thì tại mỗi Di cần phải sử dụng kỹ thuật khử can nhiễu tuần tự (SIC). Trong kỹ thuật này, dựa vào thông tin hệ số kênh truyền trước đó mà S sẽ phân bổ các mức công suất khác nhau, nếu ở gần sẽ phân bổ mức công suất ít hơn và ở xa thì ngược lại. Tiếp theo, người dùng sẽ tiến hành giải mã tín hiệu nào có hệ số kênh truyền yếu nhất, quá trình này cứ tiếp tục cho đến khi giải mã được tín hiệu của chính nó. Trong mô hình này, giả sử rằng |h1 |2 |h2 |2 h1 và h2 lần lượt là hệ số kênh truyền của D1 và D2 , và >.
Vì vậy, tại D1 sử dụng phương thức khử N0,1 N0,2 can nhiễu tuần tự (SIC) như sau, D2 không thực hiện việc hủy can nhiễu trước vì tín hiệu từ S truyền tới D1 trước, tại D1 tiến hành giải mã tín hiệu x2 của D2 trước và xem tín hiệu của D1 như là can nhiễu. Vì vậy, tỷ số tín hiệu trên nhiễu cộng can nhiễu (SINR) γ12 của x2 tại D1 là P2 |h1 |2 γ12 = (2.2), P2 là công suất được phân bổ cho D2 , P1 là công suất được phân bổ cho D1 , |h1 |2 là độ lợi kênh truyền giữa S và D1 và N0,1 được định nghĩa là phương sai của nhiễu cộng tại D1. 6 HVTH: Nguyễn Hữu Sự CHƯƠNG 2. LÝ THUYẾT TỔNG QUAN Sau khi giải mã xong tín hiệu của D2 rồi, D1 tiến hành trừ tín hiệu x2 của D2 ra và tiếp tục giải mã tín hiệu x1 của chính D1.
Giả sử rằng việc khử can nhiễu tuần tự là hoàn hảo, ta có tỉ số tín hiệu trên nhiễu (γ1 ) của x1 tại D1 là P1 |h1 |2 γ1 = (2.3) N0,1 Giả sử quá trình giải mã các tín hiệu x1 và x2 tại D1 thành công, và trong quá trình truyền không xảy ra lỗi. Dựa vào tính chất quảng bá của kênh truyền vô tuyến, D1 sẽ gửi một mã xác nhận để truyền tới các thiết bị khác để các thiết bị khác nhận được. Tại D2 (không sử dụng SIC), sau khi đã nhận tín hiệu x từ S, cùng với mã xác nhận của D1 gửi tới nên tỉ số tín hiệu trên nhiễu (γ2 ) nhận được tại D2 là P2 |h2 |2 γ2 = (2.4), |h2 |2 là độ lợi kênh truyền giữa S và D2 , N0,2 được định nghĩa là phương sai của nhiễu Gauss tại D2. Từ hai phương trình (2.4) ở trên, có thể thấy rằng việc phân bổ công suất khác nhau cho mỗi Di sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu suất của các người dùng và cũng do các mô hình điều chế và mã hóa được dùng trong hệ thống để truyền dữ liệu của mỗi Di.
Sau khi D1 giải mã được tín hiệu của chính nó thì sẽ quảng bá tới D2 để D2 biết được. Và tại D2 sau khi đã nhận được thông tin từ D1 thì xem tín hiệu của D1 là can nhiễu thì tiến hành loại ra và giải mã tín hiệu của chính nó.3 Khử can nhiễu tuần tự (SIC) Đầu tiên, T. Cover đã đề xuất kỹ thuật SIC để giải mã thông tin chồng lên nhau ở mỗi máy thu [19]. SIC có thể được hiểu là cách khai thác các thông số kỹ thuật về sự khác biệt về cường độ tín hiệu giữa các tín hiệu đáng quan tâm.
Ý tưởng cơ bản của SIC là tín hiệu người dùng được giải mã tuần tự. Sau khi một tín hiệu người dùng được giải mã, nó sẽ bị trừ khỏi tín hiệu kết hợp trước khi tín hiệu người dùng tiếp theo được giải mã. Khi SIC được áp dụng, một trong các tín hiệu người dùng được giải mã, coi tín hiệu của người dùng khác là can nhiễu, những tín hiệu sau đó được giải mã với lợi ích của tín hiệu trước đã bị loại bỏ. Tuy nhiên, quá trình tiền xử lý để có thể áp dụng SIC là người dùng được đánh chỉ số theo tham số cường độ tín hiệu, với mục đích người nhận có thể giải mã tín hiệu mạnh hơn tín hiệu của mình trước: trừ tín hiệu kết hợp và tách tín hiệu yếu hơn khỏi dư lượng.
Lưu ý rằng, mỗi người dùng được giải mã và coi tín hiệu của người dùng khác là can nhiễu trong việc thu tín hiệu. Tóm lại, quá trình cụ thể liên quan đến giải mã các thông điệp chồng lấn có thể được biểu diễn bằng toán học [20] (với giả sử số người dùng là hai và người dùng thứ hai gần BS hơn người dùng thứ nhất) như sau: • Tại người dùng thứ nhất, dùng bộ giải mã một người dùng giải mã tin của người dùng thứ nhất S1 (n) bằng cách xử lý tin của người dùng thứ hai S2 (n) như can nhiễu. • Tại người dùng thứ hai, thực hiện các bước sau để khôi phục tuần tự tin của mình từ tín hiệu nhận được Y2 (n): − Giải mã tin của người dùng thứ nhất S1 (n) bằng cách sử dụng bộ giải mã một người dùng. 7 HVTH: Nguyễn Hữu Sự CHƯƠNG 2.
LÝ THUYẾT TỔNG QUAN √ − Trừ cho P α1 h2 S1 (n) từ tín hiệu nhận được Y2 (n): P1 |h1 |2 γ1 = (2.5) N0,1 với P là công suất máy phát, α1 là hệ số phân bổ năng lượng cho người dùng thứ i, hi là hệ số kênh truyền giữa BS và người dùng thứ i. − Giải mã tin của người dùng thứ hai S2 (n) bằng cách áp dụng bộ giải mã một người dùng còn lại 0 (n) trên Y2. Bài toán tổng quát đa người dùng được phân tích và trình bày trong [21] có thể được phát biểu như sau: Giả sử tất cả người dùng đều được trang bị kỹ thuật SIC, hm là hệ số kênh từ BS đến người dùng thứ m. Để không mất tính tổng quát, tác giả đã giả sử |h21 | ≤.
Rõ ràng, hm tỉ lệ nghịch với khoảng cách do hm = √ gm α. Có nghĩa là, người dùng thứ m nằm gần BS hơn người dùng thứ i với i < m. Có thể vẽ lại mô 1+dm hình như Hình 2.2, sắp xếp các người dùng nằm trên cùng đường thẳng để dễ xét: Hình 2.2: Mô hình NOMA đường xuống nhiều người dùng Kỹ thuật SIC được thực hiện trên tất cả người dùng.