Chương 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC HẠT CƠ BẢN VÀ SỰ CẤU TẠO NÊN VẬT CHẤT 1. Các hạt cơ bản có trong vật chất Các hạt cơ bản là những thực thể vi mô tồn tại như những hạt nguyên vẹn, đơn nhất có kích thước vô cùng nhỏ và không thể tách ra thành các thành phần nhỏ hơn. Chúng ta đã biết hạt nhân nguyên tử gồm các hạt proton p và các hạt neutron n; lớp vỏ nguyên tử gồm các hạt electron e.
Trong phân rã β ta còn thấy các hạt neutrino đi kèm với electron. Các hạt proton p, neutron n, electron e, neutrino là những hạt cơ bản, các hạt này là thành phần cơ bản của vật chất tạo nên các thiên thể trong vũ trụ. Ngoài ra lượng tử ánh sáng cũng là các hạt cơ bản. Tất cả các hạt cơ bản nói trên sống rất bền so với tuổi thiên hà (thời gian sống của electron e 1022 năm, thời gian sống của proton p 1022 năm, so với tuổi của thiên hà 1012 năm) 1.
Riêng neutron ở trạng thái tự do có thời gian sống n 103 năm. Tuy nhiên trong hạt nhân, neutron bền không kém proton. Proton và neutrino là những hạt bền không tự phân rã. Ngoài các hạt trên đến nay, người ta đã phát hiện được và trăm hạt khác không bền có thời gian sống vào cỡ 1024 106 s.
Đa số các hạt này ngắn hơn 1020 s là các hạt cộng hưởng, chúng là các hạt bền. Các hạt cơ bản có một đặc điểm chung là những hạt cùng loại hoàn toàn giống nhau không thể phân biệt được, chúng giữ nguyên các đặc điểm của mình từ lúc sinh ra cho đến lúc tự phân rã hay biến đi trong quá trình tương tác với các hạt khác. Trong quá trình tương tác khi có đủ điều kiện các hạt mới được sinh ra đó cũng là những hạt cơ bản chứ không phải là thành phần của các hạt ban đầu. Họ các hạt cơ bản Dựa vào khối lượng nghỉ và spin người ta phân các hạt cơ bản thành các họ hạt - Hạt photon (và phản hạt ) là hạt có khối lượng nghỉ bằng 0 và spin bằng 1.
3 - Họ các hạt lepton gồm electron e, muon , tau , ba hạt neutrino tương ứng và sáu phản hạt của chúng. Spin của các lepton đều bằng 1/2 , chúng là những hạt fecmion. Khối lượng điển hình là khối lượng của các electron me. - Họ các hạt meson có khối lượng cỡ hàng trăm lần khối lượng electron gồm meson , meson K, meson , hạt 0 và phản hạt của chúng.
Spin của các meson bằng không chúng là những hạt boson. Khối lượng của các hạt này lớn gấp trăm lần khối lượng electron. - Họ các hạt barion gồm các hạt nucleon và các hạt hyperon (và các phản hạt của chúng). Spin của các hạt barion bằng 1/2 hoặc 3/2.
Khối lượng của các này vào cỡ hàng nghìn lần khối lượng của electron. Kí Điện Khối lượng Thời gian sống Họ Tên các hạt hiệu tích(e) MeV c 2 (s) Lepton Electron e -1 0,511 Bền Muon -1 106 0, 2 106 Tau -1 1777 3 1013 Neutrino electron e 0 0 Bền Neutrino muon 0 0 Bền Hạt Photon 0 0 truyền Gluon Ga 0 0 tương W W +1 80000 tác W W -1 80000 Z Z 0 91000 Barion Proton p +1 938 Bền Neutron n 0 940 887 Xích–ma dương +1 1189 8 1011 Xích – ma trung 0 -1 1193 7 1020 hòa Lamda trung hòa 0 1116 3 1010 Meson Pion dương +1 140 2. Hạt Higgs Hạt Higgs hay boson Higgs là một hạt cơ bản trong mô hình chuẩn của ngành vật lý hạt và là một trong những loại hạt boson. Ngày 4 tháng 7 năm 2012, các nhà vật lý học tại Tổ chức Nghiên cứu Nguyên tử Châu Âu (CERN) đã nhận ra sự tồn tại của một hạt có những đặc tính "thích hợp với boson Higgs".
Tuy nhiên, các nhà khoa học hạt cần phải xác nhận rằng sự quan sát này do boson Higgs thay vì một boson chưa được khám phá. Trong vài thập kỷ qua, ngành vật lý hạt đã xây dựng được một lý thuyết mô hình chuẩn, tạo nên khuôn khổ về sự hiểu biết các hạt và tương tác cơ bản trong tự nhiên. Một trong những thành phần cơ bản của mô hình này là trường lượng tử giả thiết phổ biến, chịu trách nhiệm cung cấp khối lượng cho các hạt. Trường này có tên gọi là trường Higgs.
Nó là hệ quả của lưỡng tính sóng - hạt trong cơ học lượng tử, và tất cả các trường lượng tử đều có một hạt cơ bản đi kèm. Hạt đi kèm với trường Higgs được gọi là hạt Higgs, hay boson Higgs, theo tên của nhà vật lý Peter Higgs. Hạt Higgs còn được gọi là hạt mắc dịch, hạt bị nguyền rủa (Goddamn particle), vì tầm quan trọng của nó trong vụ nổ Big Bang cách đây 13,7 tỷ năm và vì suốt một thời gian dài các nhà khoa học vật lộn với các thí nghiệm nhưng vẫn không tìm ra nó. Trường Higgs chịu trách nhiệm về khối lượng, việc các hạt cơ bản có khối lượng được nhiều nhà vật lý coi như một dấu hiệu cho thấy sự tồn tại của trường Higgs.
Ngày 4 tháng 7 năm 2012, Fabiola Gianotti và Joseph Incandela, phát ngôn viên cho hai đội thí nghiệm độc lập ATLAS và CMS trình bày kết quả thực nghiệm của họ về boson Higgs tại máy gia tốc hạt lớn 5 (LHC). Họ xác nhận mức tin cậy "năm sigma" của bằng chứng về một hạt có đặc tính "tương đồng với boson Higgs", và họ thừa nhận rằng công việc tiếp theo là cần thiết để kết luận rằng nó có mọi đặc tính mà lý thuyết đã tiên đoán về boson Higgs. Các tương tác cơ bản Ta đã coi các hạt cơ bản là những thành phần nhỏ nhất của vật chất tạo nên vũ trụ. Một câu hỏi đặt ra là các hạt đó tương tác với nhau như thế nào để tạo nên cấu trúc vật chất, tạo nên vũ trụ.
Ta đã biết rằng trong tự nhiên có bốn loại tương tác và đó là những tương tác cơ bản đối với các hạt cơ bản. Đó là tương tác hấp dẫn, tương tác điện từ, tương tác yếu và tương tác mạnh. Dựa vào đặc điểm tham gia tương tác của các hạt và phân các hạt thành hai nhóm cơ bản 4. - Các hạt lepton chỉ tham gia tương tác yếu.
- Các hạt hadron (gồm các hạt meson và barion) có thể tham gia tương tác yếu và tương tác mạnh. Tương tác hấp dẫn Tương tác hấp dẫn được mô tả bằng định luật vạn vật hấp dẫn của Newton. Như vậy tương tác hấp dẫn được chung cho tất cả các hạt cơ bản, hằng số hấp dẫn là GN. Để so sánh với các tương tác khác người ta đưa vào đại lượng không thứ nguyên GN M 2 / c 0,53.1038 , so với các tương tác khác thì tương tác hấp dẫn là rất nhỏ có thể bỏ qua được.
Tuy nhiên, hiệu ứng lượng tử của nó thể hiện khi thế năng hấp dẫn của hệ so sánh được với năng lượng toàn phần của hệ. Trong vật lí các hạt cơ bản, người ta quan tâm đến năng lượng của hạt khi xuất hiện hiệu ứng này. Năng lượng này vào cỡ Mc 2 1019 MeV tức là ứng với khối lượng của một hạt lớn gấp 105 lần khối lượng của hạt vi mô nặng nhất theo lý thuyết tính toán. Vì thế trong vật lí các hạt cơ bản người ta thường bỏ qua hiệu ứng hấp dẫn.
Cơ chế tương tác hấp dẫn là sự trao đổi hạt truyền tương tác graviton (còn gọi là lượng tử của trường hấp dẫn) giữa các hạt. Vì bán kính tác dụng tương tác hấp dẫn của các hạt là vô tận nên khối lượng của hạt truyền tương tác graviton 6 bằng không. Mặc dù thực nghiệm chua phát hiện được hạt graviton nhưng lý thuyết người công nhận sự tồn tại của hạt này. Tương tác hấp dẫn tuy có cường độ vô cùng nhỏ nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong thế giới siêu vĩ mô.
Chính nhờ lực hấp dẫn tương tác giữa các thiên thể mà vũ trụ chúng ta được sắp xếp như hiện nay. Tương tác điện từ Tương tác điện từ là tương tác giữa các hạt mang điện. Các hạt cơ bản mang điện có điện tích bằng điện tích của electron –e hoặc bằng điện tích của positron +e. Các hạt mang điện cùng dấu đẩy nhau, trái dấu hút nhau.
Cơ chế tương tác điện từ là sự trao đổi hạt truyền photon giữa các hạt mang điện giống như tương tác hấp dẫn, tương tác điện từ có bán kính tác dụng vô hạn nên hạt truyền photon có khối lượng nghỉ bằng không. Cường độ tương tác giữa hạt mang điện và photon đặc trưng bởi hằng số tương tác điện từ không thứ nguyên e2 1 1. c 1370360 Tương tác điện từ có bán kính tác dụng vô hạn như tương tác hấp dẫn nhưng tương tác điện từ lại có vai trò chủ yếu trong đời sống hằng ngày của chúng ta, các lực thường gặp đều có bản chất là tương tác điện từ chẳng hạn sức căng, lực ma sát,… 1. Tương tác yếu Tương tác yếu được phát hiện từ những năm cuối thế kỉ XIX trong hiện tượng phân rã .
Đó là quá trình phân rã của các hạt nucleon n p e e (1.1) cho thấy tại một thời điểm, hạt neutron tự phân rã và có ba hạt mới xuất hiện là proton, electron e và phản neutrino e. Theo lí thuyết Fecmi thì quá trình trên là quá trình tương tác giữa hai dòng mang điện là dòng neutron – electron (n e ) mang điện âm và dòng proton – neutron (p e ) mang điện dương. Lí thuyết này là lý thuyết dòng – dòng là phổ biến cho mọi quá trình tương tác yếu. Tương tác yếu được đặc trưng bằng hằng số tương tác Fecmi 7 GF 1, 03.
Để so sánh với các tương tác khác, người ta dùng hằng số không 2 M2 thứ nguyên Mc / . 2 Các quá trình tương tác yếu được phân ra thành ba quá trình. - Thuần lepton chỉ có các hạt lepton tham gia e e (1.4) - Lepton – hadron có cả hạt lepton và hạt hadron cùng tham gia n p (1.6) trong đó p, n là các hadron - Thuần hadron chỉ có các hạt hadron tham gia K 0 , , 0 0 (1.