Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Nội dung chương này trình bày một cách tổng quát nhất về nghiên cứu bao gồm: Lí do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, kết cầu của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các học thuyết liên quan Nội dung chương này sẽ trình bày các lý thuyết cơ sở liên quan đến mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam - Trung Quốc. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Nội dung chương 3 trình bày nghiên cứu thực nghiệm về mô hình đo lường mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam bao gồm: Phương pháp nghiên cứu mô hình, đữ liệu nghiên cứu và các kết quả thực nghiệm phản ánh mỗi quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam — Trung Quốc. Chương 4: Kết quả và thảo luận Nội dung chương này trình bày tổng quan về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam — Trung Quốc.
Trình bày quy trình nghiên cứu. Các nội dung về mỗi quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam — Trung Quốc được kiểm định dựa trên các kiểm định mối quan hệ trong dài hạn và trong ngắn hạn với mô hình Granger. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Từ kết quả thực nghiệm, nội dung chương này trình bày những kết quả chính của mô hình, một số kiến nghị gắn liền với chính sách, biện pháp nhằm đưa ra các chính sách phù hợp cùng với những hạn chế của nghiên cứu này. CHUONG 2: CO SO LY LUAN VE TY GIA HOI DOAI VA CAN CAN THUONG MAI 2.1 CO SO LY LUAN VE TY GIA HOI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THUONG MAI 2.1 Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái 2.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái Theo Từ điển Tài chính Farlex (Farlex Financial Dictionary) (2012), tỷ giá được định nghĩa là tương quan sức mua/giá trị giữa hai đông tiên.
Theo Krueger (1983), ty giá hối doai danh nghĩa là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập tới tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng. Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), tỷ giá hối đoái thực (tỷ giá thực) là chỉ tiêu phản ánh sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ, được xác định bằng tỷ giá danh nghĩa đã điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và ở nước ngoài. Trong trao đổi thương mại quốc tế, tỷ giá thực có ý nghĩa như sau: Nếu tỷ giá thực (Er) lớn hơn 1: Nội tệ được xem là định giá thấp va sé tao nên vi thé canh tranh thương mại tốt hơn so với nước bạn hàng, nghĩa là có thể tạo điều kiện thuận lợi để tăng xuất khẩu và giảm nhập khâu và ngược lại. Còn néu Er = 1, tức là ExP* = P có nghĩa là hai đồng tiền được xem là ngang giá sức mua.
Theo Đinh Xuân Trình (2009), Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong nước và nước ngoài. Khi tỷ giá danh nghĩa tăng hay giảm không nhất thiết phải đồng nghĩa với sự gia tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế. Từ các khái niệm trên cho thấy, tỷ giá là mức giá tại một thời điểm đồng tiền của một quốc gia hay khu vực có thể được chuyển đổi sang đồng tiền của quốc gia hay khu vực khác, hay nói cách khác, tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác.2 Phân loại tỷ giá hối đoái Tùy theo các khía cạnh nghiên cứu khác nhau và các căn cứ khác nhau để phân loại tỷ giá hối đoái. Theo Hồ Hải Yến và Nguyễn Tấn Linh (2016), tỷ giá hối đoái gồm: Tỷ giá danh nghĩa song phương (Nominal Bilateral Exchange Rate — NER) 1a giá trị của một đồng tiền khác mà đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng.
Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER) là chỉ số được tính toán để xác định một đồng tiền là lên giá hay giảm giá so với các đồng tiền còn lại n NEER; = »y ej *W; i=1 Với tại thời điểm t =i Quốc gia n có đối tác quan hệ thương mại ej : chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương W¡, W¿, Wa,. Wn là tỷ trọng của tỷ giá song phương, được xác định trên cơ Sở tỷ trọng thương mại (1, 2,.n) Tỷ giá thực song phương (Real Bilateral Exchange Rate — RER) là tỷ giá danh nghĩa song phương được điều chỉnh bởi tỷ giá làm phát giữa trong nước và nước ngoài, phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ 0 g. CPl¿” Crt = et * cpr * 100% t Voi e8, là chỉ số tỷ giá thực song phương tại thời điểm t so với thời điểm 0 e? la chi sé ty gid danh nghĩa song phương tại thời điểm t so với thời điểm 0 CPIỆ là chí số giá tiêu dùng ở trong nước tại thời điểm t so với thời điểm 0 CPIỆ* là chỉ số giá tiêu dùng ở nước ngoài tại thời điểm t so với thời điểm 0 Tỷ giá thực đa phương (Real Effective Exchange Rate - REER) là tỷ giá danh nghĩa đa phương được điêu chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tât cả các nước còn lại: CPI” REERi = NEERi * ——7y CPl] Với ¡ là kỳ tính toán CPI là chỉ số giá tiêu dùng trung bình của các đối tác thương mại CPIƑ* là chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá thực Các yếu tô tác động đến tỷ giá thực trong dài hạn Thứ nhất là tương quan lạm phát giữa hai đồng tiên. Theo Đỗ Đức Bình (2008) về lý thuyết ngang giá sức mua, tỷ giá giữa hai đồng tiền phải biến động để phản ánh tương quan lạm phát giữa chúng theo công thức: _ HTHx _ 1+II+ Trong đóAE là tỷ lệ phần trăm thay đôi tỷ giá sau một năm AE X100% 1ï : Tỷ lệ lạm phát/năm trong nước I¡ *: Tỷ lệ lạm phát/năm nước ngoài Vì và II * là tỷ lệ lạm phát nên ít thay đổi trong ngắn hạn mà chỉ thay đổi từ từ trong dài hạn.
Vì vậy, tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền quyết định xu hướng vận động của tỷ giá trong dài hạn. Từ công thức trên, ta nhận thấy được mi quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát theo tỷ lệ nghịch. Quốc gia nào có mức lạm phát cao hơn thì sức mua của đồng tiền chính quốc gia đó sẽ giảm đi. Ngoại hối đề cập đến việc trao đồi tiền tệ toàn cầu trên một thị trường phi tập trung — còn được gọi là trao đổi tiền tệ bằng giao dịch không qua quầy (OTC).
Thị trường ngoại hồi rất lớn và có tính thanh khoản cao nên có thé coi ngoại hối cũng là một loại hàng hoá đặc biệt. Giá cả của ngoại hối cũng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố làm cho nó biến động như mức độ lạm phát và giảm phát, cung và cầu ngoại hối trên thị trường. Lạm phát là sự gia tăng của mức giá chung trong nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định và là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái, đặc biệt là khi tỷ giá hối đoái được xây dựng trên cơ sở tính toán lạm phát. Do đó, cần phân tích kỹ trạng thái lạm phát của nền kinh tế khi tiến hành xem xét và điều hành công cụ tỷ giá dé tránh gây ra các tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
Thứ hai là giá cả hàng hóa XNK. Giá cả của hàng hóa XNK tăng hay giảm đều có tác động lớn đến cán cân thương mại. Ví dụ như giá cả hàng hóa xuất khẩu tăng khiến cung hàng hóa tăng, cầu ngoại tệ giảm, từ đó sẽ khiến cho tỷ giá giảm và ngược lại. Giá cả của hàng hóa nhập khâu tăng khiến cung hàng hóa giảm, cầu ngoại tệ tăng, từ đó sẽ khiến cho tỷ giá tăng.
Những thay đổi của giá cả hàng hóa XNK dù lớn hay nhỏ, đều sẽ có những tác động tích cực, tiêu cực đến tỷ giá và cán cân thương mại. Thứ ba là thu nhập thực của người cư trú và người không cư trú Nếu thu nhập thực của người cư trú tăng so với người không cư trú, nhập khâu ròng sẽ tăng lên, kéo theo đó là làm tăng cầu ngoại tệ, tỷ giá từ đó cũng sẽ tăng lên. Ngược lại, nếu thu nhập của người cư trú giảm so với người không cư trú, xuất khẩu ròng sẽ tăng lên, kéo theo đó là làm làm tăng cung ngoại tệ, tỷ giá từ đó cũng sẽ giảm xuống. Thứ tư là thuế quan và hạn ngạch trong nước Mức thuế quan và hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu tăng và giảm tương ứng sẽ làm giảm cung ngoại tệ, tăng tỷ giá.
Và cũng ngược lại, mức thuế quan và hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu giảm và tăng tương ứng sẽ làm tăng cung ngoại tệ, giảm tỷ giá. Thứ năm là tâm lý sính ngoại Tâm lý sính ngoại hay còn gọi là tâm lý ưa thích tiêu dùng hàng nước ngoài hơn hàng hóa trong nước thì nước đó sẽ có nhu cầu nhập khẩu cao hơn. Điều này làm cầu ngoại tệ tăng và khiến tỷ giá cũng tăng theo. Thứ sáu là các yếu tổ quyết định đến thu nhập từ người lao động nước ngoài Những yếu tố về mức lương, tỷ lệ tiết kiệm, mức sẵn sàng chỉ tiêu của người lao động, các yếu tố khác về đầu tư nước ngoài, đầu tư trong nước, suất sinh lời cũng có những tác động rất lớn đến cán cân thu nhập và ảnh hưởng đến tỷ giá.
Cán cân thu nhập ròng dương, đồng nghĩa với việc thu lớn hơn chỉ sẽ làm cung ngoại tệ tăng và khiến cho tỷ giá giảm đi. Ngược lại, cán cân thu nhập ròng âm, đồng nghĩa với việc thu nhỏ hơn chỉ sẽ làm cho cầu ngoại tệ tăng và khiến tỷ giá tăng lên. Những nhân tổ trên tác động đến từng cán cân bộ phận của cán cân vãng lai (bao gồm cán cân thương mại, cán cân dịch vụ, cán cân chuyên giao mot chiéu va cán cân thu nhập), qua đó tác động đến xu hướng biến động ty giá trong dài hạn.