CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm về tuyển dụng nhân lực 1. Khái niệm nhân lực và tuyển dụng nhân lực * Khái niệm nhân lực “ Nhân lực là nguồn lực trong mỗi con người nó bao gồm cả thể lực và trí lực. Nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc.
Nó bao gồm cả sức khỏe, trí lực, tâm lý, lòng đam mê”.[1;1] Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc bên trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. “ Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể , nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực của con người phụ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính…”[1;8] Trí lực chỉ sức suy nghĩ, hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu, cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách,… của từng con người. * Khái niệm tuyển dụng nhân lực Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tuyển dụng nhân lực.
Nguyễn Thanh Hội (2010), Quản trị nhân lực, Nxb Thống kê, Hà Nội, nhận định: Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm và lựa chọn đúng người để thỏa mãn các nhu cầu lao động và bổ sung cho lực lượng lao động hiện có. Theo Bùi Văn Danh, Nguyễn Văn Dung, Lê Quang Khôi (2011), Quản trị nhân lực, Nxb Phương Đông, Cà Mau, nhận định: Tuyển dụng là quá trình lựa chọn các cá nhân có đủ điều kiện cần thiết để đảm nhận các công việc trong tổ chức. Theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2007), Giáo trình Quản trị nhân lực, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, nhận định: Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và tuyển chọn từ những nguồn khác nhau những nhân viên 5 Luan van đủ khả năng đảm nhiệm những vị trí mà doanh nghiệp cần tuyển. “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tuyển mộ và tuyển chọn nhân lực nhằm tìm được những ứng viên phù hợp cho những vị trí trống mà tổ chức đang cần tuyển”.[2;12] Qua khái niệm trên cho thấy, tuyển dụng là một quá trình gồm hai hoạt động cơ bản là tìm kiếm, thu hút và tuyển chọn nhân lực hay gọi cách khác là tuyển mộ và tuyển chọn nhân lực.
Để thực hiên các hoạt động này cần thiết phải xác định mục tiêu tuyển dụng, các biện pháp thực hiện mục tiêu (xây dựng kế hoạch tuyển dụng) và đánh giá kết quả tuyển dụng nhân lực. Quá trình tuyển dụng nhân lực được thực hiện nhằm thảo mãn nhu cầu sử dụng và bổ sung lực lượng lao động cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của tổ chức. Vì vậy, công tác tuyển dụng nhân lực cần được thực hiện định kỳ theo kế hoạch hoặc đột xuất khi nhân lực của tổ chức có biến động. Khái niệm tuyển mộ “ Tuyển mộ nhân lực là quá trình tìm kiếm và thu hút ứng viên nhằm có một lực lượng ứng viên phù hợp với nhu cầu tuyển dụng nộp đơn ứng tuyển để doanh nghiệp lựa chọn.” [2;103] “ Tuyển mộ nhân lực là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức”.[3;93] Quá trình tuyển mộ nhân lực giúp tổ chức có đủ số lượng và chất lượng ứng viên phù hợp vào thời điểm cần có để tạo thuận lợi cho công tác tuyển chọn.
Thực tế cho thấy, sẽ có những người lao động có trình độ cao, có năng lực phẩm chất nghề nghiệp tốt nhưng không được tuyển chọn vì họ không biết các thông tin tuyển mộ. Tuyển mộ không chỉ ảnh hưởng đến tuyển chọn mà còn ảnh hưởng đến các công tác khác của quản trị nhân lực như: đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đánh giá thực hiện công việc, thù lao lao động, các mối quan hệ lao động,. Bên cạnh đó, tuyển mộ cũng bao hàm cả những mục tiêu khác như quảng bá hình ảnh của tổ chức, giúp ứng viên có thể hình dung ra hình ảnh tổ chức và nội 6 Luan van dung công việc họ sẽ tiến hành. Khái niệm tuyển chọn “Tuyển chọn nhân lực được hiểu là quá trình đánh giá năng lực của các ứng viên nhằm lựa chọn ứng viên phù hợp với nhu cầu cần tuyển của doanh nghiệp.”[2;143] “ Quá trình tuyển chọn nhân lực là quá trình đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm được những người phù hợp với yêu cầu đặt ra trong số những người đã thu hút được trong quá trình tuyển mộ.
Cơ sở của tuyển chọn là các yêu cầu công việc đã được đề ra theo bản mô tả công việc và bản yêu cầu đối với người thực hiện công việc”.[3;105] Quá trình tuyển chọn là khâu quan trọng giúp các nhà quản trị nhân lực đưa ra các quyết định tuyển dụng một cách đúng đắn nhất. Quyết định tuyển chọn có ý nghĩa rất quan trọng đối với chiến lược kinh doanh và đối với các tổ chức bởi vì quá trình tuyển chọn tốt sẽ giúp cho các tổ chức có được những con người có kỹ năng phù hợp với sự phát triển của tổ chức trong tương lai. Tuyển chọn tốt cũng giúp cho các tổ chức tiết kiệm được các chi phí do phải tuyển chọn lại, đào tạo lại cũng như tránh được các thiệt hại rủi ro trong quá trình thực hiện công việc. Để tuyển chọn đạt hiệu quả cao thì cần phải có các bước tuyển chọn phù hợp, các phương pháp thu thập thông tin chính xác và đánh giá các thông tin một cách khoa học.
Vai trò của công tác tuyển dụng nhân lực 1. Đối với tổ chức Thứ nhất, tuyển dụng là một trong các yếu tố đảm bảo đầu vào cho tổ chức. Thứ hai, tuyển dụng nhân lực có hiệu quả sẽ cung cấp cho tổ chức một đội ngũ lao động lành nghề, sáng tạo, bổ sung nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của công việc từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả lao động, tiết kiệm chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tạo ra thế cạnh tranh cho tổ chức. Thứ ba, công tác tuyển dụng nhân lực còn góp phần tạo ra sự ổn định tính kế thừa đội ngũ lao động, giúp tổ chức phát triển ổn định, bền vững.
7 Luan van Thứ tư, tuyển dụng nhân lực còn góp phần xây dựng hình ảnh tổ chức, quảng bá hình ảnh của tổ chức đến với nguồn nhân lực, các ứng viên và xã hội; ảnh hưởng đến mục tiêu, văn hóa và các chính sách của tổ chức. Thứ năm, làm tốt công tác tuyển dụng nhân lực còn giúp giảm gánh nặng chi phí kinh doanh và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác như tài chính, cơ sở vật chất. Thứ sáu, tuyển dụng nhân lực còn ảnh hưởng đến các hoạt động khác của quản trị nhân lực như: bố trí sắp xếp nhân lực, thù lao lao động, quan hệ lao động,… Tóm lại, công tác quản trị nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với tổ chức, quyết định đến sự thành bại của tố chức. Có thể nói, tuyển dụng nhân lực được ví như công cuộc “ đãi cát tìm vàng” của tổ chức.
Đối với xã hội Thứ nhất, tuyển dụng nhân lực góp phần điều tiết cung cầu nguồn nhân lực xã hội, tạo ra sự ổn định về kinh tế xã hội. giúp cân bằng cung - cầu nhân lực. Thứ hai, tuyển dụng nhân lực giúp ổn định cơ cấu lao động, điều tiết nguồn nhân lực trong các ngành nghề khác nhau, các vị trí khác nhau và ở các địa phương khác nhau. Thứ ba, tuyển dụng nhân lực giúp giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân từ đó giảm tệ nạn xã hội.
Thứ tư, làm tốt công tác tuyển dụng nhân lực còn giúp tổ chức có một chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế, từ đó dần dần từng bước làm thay đổi bộ mặt quốc gia. Đối với người lao động Thứ nhất, công tác tuyển dụng nhân lực giúp người lao động có việc làm, có thu nhập ổn định, có cơ hội thăng tiến, nâng cao chất lượng cuộc sống. Thứ hai, nếu quá trình tuyển dụng nhân lực được tiến hành một cách khoa học và khoa học sẽ là cơ hội giúp người lao động chọn được công việc phù hợp với năng lực, trình độ và nguyện vọng của bản thân. Thứ ba, tuyển dụng nhân lực tạo điều kiện cho người lao động hiểu biết sâu sắc hơn về ngành nghề, chuyên môn được đào tạo để từ đó có những định hướng đào tạo phù hợp.
8 Luan van Thứ tư, tuyển dụng nhân lực giúp người lao động có cơ hội đánh giá bản thân, từ đó đưa ra những nhận định về năng lực cá nhân, phát triển năng lực cá nhân. Thứ năm, việc làm này còn giúp cho người lao động trong doanh nghiệp hiểu hơn về triết lý, quan điểm của nhà quản trị, từ đó định hướng họ theo những triết lý, quan điểm đó. Nguồn, nguyên tắc và một số phương pháp tuyển dụng nhân lực 1. Nguồn tuyển dụng nhân lực * Nguồn bên trong tổ chức gồm: cán bộ, công nhân viên đã và đang làm việc trong tổ chức.
Ưu điểm: Thứ nhất, tiết kiệm thời gian tuyển dụng cũng như thời gian hội nhập ứng viên mới. Thứ hai, tiết kiệm thời gian làm quen với công việc của người lao động do vậy quá trình thực hiện công việc diễn ra liên tục, không bị gián đoạn. Thứ ba, tiết kiệm chi phí tuyển dụng cho tổ chức. Thứ tư, tuyển dụng nội bộ sẽ tạo cơ hội thăng tiến cho người trong tổ chức, do vậy tạo động lực cho người lao động phát huy năng lực của mình cũng như tăng khả năng sáng tạo trong công việc.
Từ đó, nâng cao lòng trung thành của người lao động đối với tổ chức. Thứ năm, nhà quản lý đã nắm bắt được năng lực, phẩm chất, trình độ chuyên môn, tay nghề của người lao động nên hạn chế được tuyển chọn không phù hợp. Hạn chế: Thứ nhất, nguồn tuyển này bị hạn chế về số lượng ứng viên cũng như tìm kiếm ứng viên có trình độ cao giảm. Thứ hai, người lao động đã quen với công việc cũ nên thiếu sự sáng tạo.
Thứ ba, đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu tuyển dụng nguồn nội bộ thì sẽ khó thay đổi được chất lượng người lao động. Thứ tư, có thể gây mâu thuẫn nội bộ, phân chia bè phái từ những người không được tuyển dụng.