đặt vấn đề đƣa lý tƣởng về CNXH thành hiện thực, ông đã nêu ra cƣơng lĩnh hành động gồm những biện pháp cụ thể cần thực hiện ngay trong quá trình cách mạng nhƣ: sản xuất và phân phối bánh mỳ cho nhân dân, nắm giữ và chia nhà ở của bọn nhà giầu cho nhân dân… Grắc Babớp cho rằng một xã hội công bằng, bình đẳng tất yếu sẽ ra đời, trong xã hội đó mọi ngƣời đều có trách nhiệm lao động, mọi ngƣời đều có cuộc sống bình đẳng, ấm no, tự do, hạnh phúc. Và ông khẳng định rằng, muốn có xã hội đó thì quần chúng lao động phải vùng lên đấu tranh chống lại bọn bóc lột. Grắc Babớp chủ trƣơng thiết lập “chuyên chính cách mạng của những ngƣời lao động” và coi đó là công cụ cần thiết để tiến hành cải tạo xã hội cũ. Hạn chế của Grắc Babớp là ở chỗ ông quan niệm cách mạng là công việc của một nhóm ngƣời có âm mƣu mà chƣa nhìn thấy hết sức mạnh của quần chúng.
Nhìn chung các tƣ tƣởng thời kỳ này đã thể hiện một cách sâu sắc những giá trị của chủ nghĩa nhân đạo, muốn giải phóng con ngƣời thoát khỏi mọi ràng buộc của các luật lệ của Giáo hội và chế độ phong kiến đƣơng thời. Đồng thời phê phán gay gắt và sâu sắc đối với xã hội tƣ sản, bƣớc đầu xây dựng về mặt lý luận mô hình xã hội tƣơng lai. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mặc dù còn không ít hạn chế, nhƣng những giá trị tích cực trong nội dung các học thuyết của các nhà tƣ tƣởng XHCN thời kỳ này là không nhỏ, nó góp phần đƣa lịch sử các tƣ tƣởng XHCN phát triển lên một bƣớc mới – đó là sự phát triển của CNXH không tƣởng – phê phán ở Pháp và Anh, cũng nhƣ của CNXH khoa học sau này. Chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán đầu thế kỷ XIX Đây là thời kỳ xuất hiện nền đại công nghiệp và giai cấp vô sản hiện đại cùng với sự xung đột giữa giai cấp vô sản và giai cấp tƣ sản.
Cách mạng dân chủ tƣ sản Pháp (1789) là thời kỳ CNTB chiến thắng nhƣng chƣa hoàn toàn thắng lợi về chính trị. Sau thất bại của Napôlêông (1815), giai cấp vô sản hiện đại bắt đầu thức tỉnh về sứ mệnh lịch sử của mình. Trong hoàn cảnh ấy đã xuất hiện nhiều nhà XHCN không tƣởng nhƣ: Hăngri Xanhximông, Sáclơ Phuriê và Rôbớc Ôoen… Cơlôđơ Hăngri đơ Xanhximông (1760-1825). Một trong những nội dung quan trọng trong tƣ tƣởng của Xanhximông là lý luận về giai cấp và xung đột giai cấp và khẳng định rằng giai cấp vô sản có đủ sức mạnh giành lại toàn bộ chính quyền.
Ông nhận thấy cuộc đấu tranh giữa những ngƣời không có tài sản và những ngƣời sở hữu là không tránh khỏi. Xanhximông cho rằng, nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của giai cấp là do chế độ tƣ hữu và ông khẳng định rằng giải phóng giai cấp cần lao là mục đích cuối cùng của ông. Xanhximông phê phán cuộc cách mạng dân chủ tƣ sản năm 1789 và xã hội tƣ sản Pháp. Ông chỉ ra rằng, đó là một cuộc cách mạng còn nhiều hạn chế, nửa vời, thiếu triệt để, cuộc cách mạng ấy chƣa thiết lập đƣợc một chế độ phù hợp với quyền lợi của giai cấp nghèo khổ, và cho rằng cần phải có một cuộc cách mạng có thể làm thay đổi theo hƣớng đảm bảo lợi ích cho số đông và vì số đông giai cấp cần lao.
Xanhximông nêu lên mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp đáp ứng đƣợc các nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi ngƣời, trong xã hội mọi ngƣời đều phải làm việc, đều trở thành ngƣời lao động và mọi công việc phối hợp một cách có lợi nhất trong khối liên hiệp thống nhất. Xã hội tƣơng lai phải cải thiện tình hình của giai cấp nghèo nhất trong xã hội, các thiết chế xã hội phải thúc đẩy việc tăng phúc lợi cho những ngƣời vô sản. Xanhximông cho rằng muốn xây dựng đƣợc xã hội tƣơng lai thì trƣớc hết phải giải quyết vấn đề sở hữu một cách có lợi nhất cho toàn xã hội. Tuy 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiên, hạn chế của Xanhximông là vẫn còn duy trì chế độ tƣ hữu và giải quyết mâu thuẫn xã hội bằng con đƣờng thuần tuý hoà bình.
Ông cho rằng, các biện pháp hòa bình mới là những biệp pháp duy nhất có thể nhằm mục đích xây dựng, sáng tạo, lập nên những thiết chế vững chắc. Phrăngxoa Mari Sáclơ Phuriê (1772 - 1837). Trong các tác phẩm của mình, ông đã phê phán và lên án xã hội tƣ bản một cách sâu sắc và biện chứng. Theo ông, xã hội tƣ sản là một “trạng thái vô chính phủ của công nghiệp” đó là xã hội mà “Sự nghèo khổ sinh ra từ chính bản thân sự thừa thãi”.
Đặc biệt, ông đã chỉ ra mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tƣ sản là mâu thuẫn giữa những kẻ giầu có ăn không ngồi rồi trong cảnh dồi dào thừa thãi với quần chúng lao động đòi có việc làm. Sáclơ Phuriê cũng đấu tranh đòi đem lại quyền cơ bản nhất cho ngƣời lao động là quyền đƣợc lao động. Sáclơ Phuriê cũng phê phán cái gọi là “dân chủ”, “bình đẳng” trong xã hội tƣ sản, và chỉ ra rằng, trong xã hội tƣ sản ngƣời nghèo chỉ bình đẳng trên danh nghĩa, còn thực tế, họ phải chịu đựng mọi bất bình đẳng. Sáclơ Phuriê mong muốn xây dựng một xã hội mới, trải qua giai đoạn “đảm bảo” tiến tới giai đoạn “hài hòa”.
Trong xã hội đó, có sự thống nhất lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội, mỗi cá nhân chỉ tìm thấy lợi ích của mình trong lợi ích chung của toàn xã hội. Sáclơ Phuriê khẳng định khi xã hội mới đã đảm bảo đƣợc điều kiện sinh sống thì sẽ chuyển sang giai đoạn “hài hòa”, lúc đó mọi ngƣời sẽ lao động hoàn toàn tự nguyện, đƣợc thực sự tự do và đời sống sẽ hạnh phúc; mọi năng lực của con ngƣời sẽ đƣợc hoàn thiện, con ngƣời sẽ phát triển tới mức chƣa từng thấy. Cũng giống nhƣ Xanh Ximông, Phuriê không chủ trƣơng đấu tranh xoá bỏ chế độ tƣ hữu, phản đối bạo lực và cho rằng xã hội tƣơng lai sẽ đƣợc thực hiện bằng con đƣờng hòa bình. CNXH của Phuriê nhƣ Ph.
Ăngghen đánh giá: “càng phẫn nộ với kẻ bóc lột giai cấp công nhân không thể tránh khỏi trong phƣơng thức sản xuất ấy, thì nó lại càng không hiểu sự bóc lột ấy là ở chỗ nào và sinh ra nhƣ thế nào”. Tuy nhiên, những tƣ tƣởng lao động hấp dẫn, nguyên tắc mọi ngƣời có quyền đƣợc lao động và quyền có tƣ liệu để sinh sống là những tƣ tƣởng tiến bộ chứng tỏ học thuyết của Phuriê là một bƣớc tiến lớn trong sự phát triển các quan niệm nhân đạo về CNXH thật sự của con ngƣời. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Rôbớt Ôoen (1771 - 1858) lên án và phủ nhận chế độ tƣ hữu một cách sâu sắc và toàn diện. Theo ông, chế độ tƣ hữu đã làm cho ngƣời sở hữu trở nên ngu muội, ích kỷ, nó làm cho con ngƣời xa cách nhau, thù hằn nhau, tàn sát, chém giết lẫn nhau.
Nó là nguyên nhân gây ra tất cả các tiêu cực và sự bất hợp lý trong xã hội. Từ đó, ông kiên quyết bác bỏ chế độ tƣ hữu vì nó là nguyên nhân của mọi tội phạm và thảm hoạ của con ngƣời. Ông nêu bật tính chất hai mặt của nền công nghiệp hoá trong chế độ tƣ hữu TBCN từ đó ông kết luận phải xoá bỏ chế độ tƣ hữu. Ông đã dự đoán một cuộc cách mạng xã hội vĩ đại mà chính nền đại công nghiệp là tiền đề cho cuộc cách mạng xã hội ấy.
Rôbớt Ôoen chỉ ra xã hội mới phải xây dựng bằng chế độ công hữu và cho rằng nếu chế độ công hữu đƣợc tổ chức một cách đúng đắn thì sẽ không còn mâu thuẫn đối kháng về lợi ích, không còn các tệ nạn xã hội; trong xã hội mới các thành viên sẽ sống nhƣ một gia đình và hoạt động trên cơ sở lao động tập thể, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa tất cả các thành viên. Hạn chế của Rôbớt Ôoen là muốn cải tạo xã hội bằng con đƣờng hoà bình và đặt nhiều hy vọng vào nhà cầm quyền của giai cấp tƣ sản. Có thế khẳng định rằng các học thuyết xã hội của các nhà không tƣởng thời kỳ này có giá trị tích cực và cả hạn chế. Thứ nhất, đã phê phán, lên án sâu sắc CNTB ngay từ khi nó mới ra đời, đồng thời phản ánh đời sống khổ cực cũng nhƣ khát vọng của quần chúng lao động về một xã hội tốt đẹp hơn xã hội TBCN.
Thứ hai, nhiều nhà không tƣởng đã nhận thấy rằng một xã hội xây dựng trên cơ sở chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất thì không thể có tự do, bình đẳng, hạnh phúc thực sự. Họ đã khẳng định phải xoá bỏ chế độ tƣ hữu và xây dựng chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất. Các nhà không tƣởng đã thức tỉnh đối với đa số quần chúng nhân dân lao động vùng lên đấu tranh chống lại chế độ tƣ hữu, áp bức, bóc lột, bất công.cho dù đó chỉ là cuộc đấu tranh tự phát và thƣờng kết thúc bằng sự đàn áp và thất bại. Thứ ba, là giá trị phác thảo mô hình chung về xã hội mới mang tính chất của một cộng đồng xã hội và CSCN.
Đó là một xã hội mà chính quyền nhà nƣớc là do nhân dân bầu ra một cách dân chủ, là xã hội đƣợc xây dựng trên chế độ công hữu về tƣ liệu sản 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xuất; là xã hội không có giai cấp, mọi ngƣời sống trong xã hội đều đƣợc chung hƣởng quyền bình đẳng, ấm no, hạnh phúc. Thứ tư, các nhà không tƣởng đã nêu nhiều luận điểm có giá trị, nhiều tiên đoán, dự đoán tài tình về quy luật phát triển xã hội, đó là những tiền đề tƣ tƣởng trực tiếp để C.Ăngghen xây dựng hệ thống lý luận về xã hội mới, xã hội XHCN và CSCN Bên cạnh những giá trị tích cực, CNXH không tƣởng phê phán còn bộc lộ một số hạn chế, nhƣ: Các nhà không tƣởng không giải thích đƣợc bản chất của chế độ nô lệ làm thuê trong xã hội TBCN, không phát hiện học thuyết về giá trị thặng dƣ trong nền sản xuất TBCN.