Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA KHỔNG TỬ VỀ NGƯỜI QUÂN TỬ 1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA – XÃ HỘI TRUNG QUỐC THỜI XUÂN THU – CHIẾN QUỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA KHỔNG TỬ VỀ NGƯỜI QUÂN TỬ Có thể khẳng định bất kể tư tưởng, học thuyết nào cũng được hình thành trong hoàn cảnh, điều kiện lịch sử nhất định. Những quan điểm của các nhà triết học đương thời đều chịu ảnh hưởng bởi điều kiện lịch sử cụ thể. Triết học Trung Quốc cổ đại nói chung và tư tưởng triết học của Khổng Tử cũng chịu sự ảnh hưởng đó.
Cụ thể là những tư tưởng của nhà hiền triết mẫu mực Khổng Tử được hình thành và phát triển gắn liền với giai đoạn lịch sử, xã hội thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc. Trước đó, Trung Quốc đã trải qua một quá trình phát triển với những biến động chính trị, xã hội của chế độ chiếm hữu nô lệ từ vương triều nhà Hạ (khoảng từ thiên niên kỷ thứ II TCN) đến triều Thương (thế kỷ XVII TCN) và sau đó là triều đại Tây Chu kéo dài cho đến thời Xuân Thu. Thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc bắt đầu vào khoảng từ năm 770 TCN, Chu Bình Vương dời đô sang Lạc Ấp ở phía đông và thủ đô trở thành Chu, giai đoạn này nhà Chu được gọi là Đông Chu (770-256 TCN). Đến năm 256 TCN, nước Tần mở rộng tới lãnh thổ và thôn tính, tiêu diệt nhà Chu.
Triều đại Đông Chu được phân ra thành hai thời kỳ đó là Xuân Thu và Chiến Quốc. Trong sách Xuân Thu - bộ biên niên sử hoàn chỉnh đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc do Khổng Tử biên soạn phản ảnh lịch sử thời đại này nên có tên gọi là Xuân Thu. Niên đại của sách Xuân 12 Thu có lịch sử 241 năm, từ Lỗ Ẩn Công nguyên niên (năm 722 TCN) đến Lỗ Ai Công năm thứ 14 (năm 481 TCN). Vì vậy, thời kỳ Xuân Thu cũng được tính theo niên đại này.
Còn thời Chiến Quốc tên gọi này cũng xuất phát từ Chiến quốc sách được biên soạn từ đầu thời nhà Hán. Vào năm 403 TCN tức là năm mà nước Tấn bị ba nước Triệu, Ngụy, Hàn được nhà Chu công nhận và kéo dài tới khi Trung Quốc thống nhất dưới thời nhà Tần năm 221 TCN. Tuy nhiên, cũng có ý kiến khác cho rằng thời Xuân Thu bắt đầu từ thời Đông Chu (năm 770 TCN cho đến năm 475 TCN) và tiếp sau giai đoạn Xuân Thu là thời Chiến Quốc (475 – 221 TCN). Trên thực tế, đây là thời kỳ mà nhà Chu chỉ đang tồn tại trên danh nghĩa khi các chư hầu ở địa phương sáp nhập các tiểu quốc nhỏ hơn xung quanh để củng cố quyền lực, tranh giành quyền bá chủ, thống nhất Trung Quốc.
Đây là thời kỳ mở màn cho xã hội phong kiến tại Trung Quốc, từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang hình chế độ phong kiến sơ kỳ. Do sự biến đổi trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa thời kì này đã tạo những tiền đề cho sự hình thành và phát triển của các tư tưởng triết học thời kì bấy giờ. Điều kiện kinh tế Các sử gia cho rằng cuối thời Tây Chu đồ sắt đã xuất hiện ở Trung Quốc và tới giữa thời kỳ Xuân Thu thì đồ sắt đã trở nên phổ biến. Sự ra đời của đồ sắt thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ và dẫn đến những biến đổi lớn nhiều mặt của đời sống xã hội.
Mặc dù ở thời Xuân Thu vẫn chưa loại trừ được những công cụ sản xuất lạc hậu trước kia, nhưng việc sử dụng đồ sắt ngày càng rộng rãi hơn, làm năng suất lao động tăng lên, sản phẩm của xã hội nhiều lên và có chất lượng cao hơn trước, con người có thêm những khả năng mới trong việc cải tạo thiên nhiên, nâng cao đời sống. Năm 513 TCN, nước Tấn đã dùng sắt để đúc đỉnh khắc những điều luật của Phạm Tuyên Tử. Nhiều loại công cụ bằng sắt thuộc thời kì này cũng đã được tìm thấy như lưỡi cày, lưỡi cuốc, xẻng, liềm, búa và một số khuôn đúc sắt. Giai đoạn Chiến Quốc, đồ sắt 13 càng được sử dụng một cách phổ biến, lấn át công cụ bằng đá, bằng xương và đồng đỏ.
Chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt và trở thành vật liệu chính được sử dụng trong chiến tranh. Vấn đề thủy lợi đến thời kì này cũng được coi trọng và khá phát triển để phù hợp với tình hình nông nghiệp lúc bấy giờ. Vào thời trị vì của Ngô vương Phù Sai đã cho đào một hệ thống kênh nối Trường Giang với Sông Hoài và nối Sông Hoài với mấy con sông ở gần lưu vực Hoàng Hà. Hệ thống sông đào này có tác dụng rất lớn không chỉ đối với nông nghiệp mà cả giao lưu giữa các miền.
Ở thời kỳ Chiến Quốc, các công trình thủy lợi lớn được xây dựng ngày một nhiều hơn và xuất hiện có những kênh đào khá dài ở nước Ngụy và nước Tần. Việc đào giếng ra đời và được sử dụng ngày càng phổ biến, ngoài mục đích đào giếng lấy nước để uống, sinh hoạt ra thì họ còn mục đích phục vụ, cung cấp nước trong sản xuất nông nghiệp. Những bước phát triển đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai hoang, thâm canh và tăng vụ. Một chính khách ở nước Ngụy là Lý Khôi đã tính toán với mỗi mẫu ruộng bình quân mỗi năm thu hoạch được 1 thạch 5 đấu và có thể thu được 6 thạch nếu được mùa.
Thời kỳ Xuân Thu ngành thủ công nghiệp cũng phát triển hơn trước. Trong số các nghề thủ công truyền thống, đúc đồng thau là nghề có nhiều bước tiến rõ nét nhất. Sản phẩm bằng đồng thau thời kì này nói chung có hình dáng thanh thoát, trang trí đẹp mắt. Ngoài chuông, đỉnh, đồ uống rượu, dao.
còn xuất hiện thêm các sản phẩm mới như kiếm ngắn, gương đồng. Nhờ sử dụng các công cụ đồ sắt, nghề mộc cũng đã có bước tiến bộ. Ở nước Lỗ có một người thợ mộc rất giỏi là Công Thâu Ban (thường gọi là Lỗ Ban), ông được xem là ông tổ của nghề mộc. Một số thợ ở nước Tống, họ an cư lạc nghiệp, truyền nghề của mình từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Sau đó, ngày càng có nhiều tầng lớp thợ thủ công cá thể xuất hiện. Họ tập trung vào làm nghề nghiệp của mình rồi đem sản phẩm mình làm ra để đổi lấy các loại tư liệu sinh hoạt. Ở thời kỳ này còn xuất hiện một 14 số nghề mới như nghề luyện sắt, nghề sơn. Nghề làm muối cũng rất được coi trọng.
Vì vậy, các nước chư hầu đã đặt chức quan chuyên trách về sắt và muối. Ngoài việc làm rèn sắt, người ta còn biết kỹ thuật đúc, do đó đã luyện được cả gang và thép. Cũng như trước kia, nhà nước vẫn nắm một bộ phận quan trọng trong việc sản xuất thủ công nghiệp. Tùy theo ngành nghề, nhà nước tổ chức thành các xưởng khác nhau như xưởng đồng, xưởng sắt, xưởng dệt, xưởng gốm, xưởng mộc,.
Vì vậy, thủ công nghiệp tư doanh đến thời Xuân Thu - Chiến Quốc cũng phát triển. Những nghề thủ công vốn là nghề phụ gia đình giờ đây cũng không ngừng tách rời khỏi nông nghiệp để trở thành những nghề độc lập. Ngành thương nghiệp đến thời Xuân Thu có các hoạt động khá sôi nổi. Nước Tề là một trong số các nước chư hầu có được nền thương nghiệp phát triển sớm nhất, bởi đất nước này có địa thế gần biển.
Từ xưa, cư dân ở đây đã đem hải sản trao đổi với vùng nội địa. Từ thời nhà Thương, con người đã biết dùng một loại vỏ ốc biển mà ở lưu vực Hoàng Hà không có, gọi là bối để làm vật môi giới trong việc trao đổi. Sau này, nhu cầu trao đổi ngày càng tăng nên bối từ vỏ ốc biển đã không đáp ứng được nên đã chuyển sang đúc bối bằng đồng. Như vậy, bối là loại tiền sớm nhất ở Trung Quốc.
Cuối thời Xuân Thu, nhất là từ thời Chiến Quốc, số lượng tiền bằng đồng được đúc ra ngày càng nhiều, được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: trao đổi hàng hóa, trả tiền thuê nhân công, cho vay lấy lãi, nộp thuế. Tuy nhiên, do tình trạng chia cắt đất nước nên mỗi nước có một loại tiền riêng và hình dáng cũng khác nhau. Các nước Triệu, Nguỵ, Hàn dùng tiền đồng hình lưỡi xẻng, gọi là bố; nước Yên, nước Tề đúc tiền hình con dao gọi là đạo, nước Sở vẫn dùng tiền đồng hình vỏ ốc và vẫn gọi là bối; còn nước Tần thì dùng tiền đồng hình tròn, nước Sở thì vẫn dùng bối bằng đồng. Một số nước có nhiều loại tiền cũng được sử dụng, ví dụ nước Triệu ngoài loại tiền hình lưỡi xẻng (bố) còn dùng tiền hình con dao (đao) và tiền tròn.
Bên cạnh việc sử dụng tiền bằng đồng thì ở thời Chiến Quốc con người 15 cũng đã biết dùng vàng để làm tiền tệ. Các đơn vị tiền vàng gồm có dật, cân, kim. Tiền vàng dùng để mua những thứ có giá trị lớn như thiên lý mã, bảo kiếm, áo lông chồn. Đến giữa thời Xuân Thu, dựa vào địa thế thuận lợi cho việc đi lại, nước Trịnh trở thành trung tâm buôn bán sầm uất nhất Trung Quốc.
Các lái buôn nước này đã đi buôn bán ở khắp nơi: nam thì xuống Sở, bắc thì lên Tấn, đông thì sang Tề. Nhờ hoạt động mua bán tấp nập như vậy, thổ sản các nơi đều được trao đổi với nhau. Xã hội bắt đầu xuất hiện một số lái buôn lớn có số vốn rất lớn, có người nắm đến hàng vạn lạng vàng, chuyên đầu cơ tích trữ và lũng đoạn thị trường. Sự hình thành của thương nghiệp, mua bán tăng cao trở thành nền tảng giúp hệ thống các giai cấp trong xã hội hình thành nên một tầng lớp mới.
Đó là tầng lớp quý tộc mới với thế lực ngày càng được củng cố, luôn tìm mọi cách để giành quyền lực về mình từ tầng lớp quý tộc cũ. Việc sở hữu ruộng đất thời Xuân Thu bắt đầu có sự biến đổi khi tầng lớp quý tộc có thế lực dần chiếm ruộng công làm ruộng tư ngày một nhiều, chế độ “tỉnh điền” dần dần tan rã.