mở đầu cho chuỗi những suy tư đầy nghịch lý của Kierkegaard đến người đọc. Bên cạnh đó, không ít lần Kierkegaard đề cập đến các chi tiết được lấy ra từ các câu chuyện trong Kinh Thánh, đặc biệt là sách Sáng Thế, nhất là khi ông đề cập đến gia đình Abraham, chẳng hạn như chi tiết: “ông nghĩ về Hagar”5, là người tì nữ đã có thai với Abraham và tỏ thái độ khinh bỉ với bà chủ là Sarah. Về sau, theo lời Thiên Chúa, Hagar đành quay lại nhà Abraham chịu lụy sinh con và sau khi có Isaac, cả hai mẹ con Hagar và Ishmael bị đuổi ra khỏi nhà. Hay trong đoạn phân tích về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí, ông viết: “Tôi đoan chắc rằng Thiên Chúa là tình yêu, ý nghĩ này với tôi có một giá trị trữ tình nguyên thủy” [46, tr.
111], trong Kinh Thánh, sách Giăng 4:8, nguyên văn cụ thể của câu này là “Ai không yêu thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa chính là tình yêu”. Bên cạnh đó, trong đoạn phân tích về anh hùng bi kịch và những hệ lụy mà những người anh hùng ấy có thể sẽ phải hứng chịu, Kierkegaard đã dùng hình ảnh của người anh hùng bi kịch so sánh với Abraham – đại diện cho hiệp sĩ đức tin, nếu người anh hùng bi kịch vẫn luôn bị xét lại bằng các giá trị luân lý, thì Abraham vốn dĩ không phải chịu sự xem xét về mặt luân lý, bởi trong sâu thẳm tinh thần của mình, Abraham vốn dĩ thuộc về Thượng đế, và Thượng đế thấy biết nỗi thống khổ mà chẳng quên điều gì trong sự kín nhiệm [46, tr. Đoạn này được gợi hứng đối với 4 Kinh Thánh, sách Sáng Thế, chương 22. 5 Hagar là con đòi người Ai Cập của Sarah, người đã sinh một đứa con cho Abraham tên là Ishmael.
20 Kierkegaard trong Kinh Thánh, sách Ma-thi-ơ 6:6 “Song khi ngươi cầu nguyện, hãy vào phòng riêng, đóng cửa lại, rồi cầu nguyện Cha ngươi, ở nơi kín nhiệm đó; và cha ngươi, là Đấng thấy trong chỗ kín nhiệm, sẽ thưởng cho ngươi”. Như vậy, đối với Kierkegaard, đức tin là niềm say mê cao cả nhất đối với một con người, và đức tin chân chính chỉ có thể đạt được thông qua Kinh Thánh. Tất nhiên, Kinh Thánh là sự biểu lộ, sự mặc khải của Thiên Chúa dành cho loài người, và chỉ trong mối quan hệ với Thiên Chúa, con người mới tìm ra được chân lý dành cho mình. Trên nền tảng ấy, Kinh Thánh như nguồn sáng dẫn lối những tâm hồn lầm lỗi trở về đúng hướng, mọi buồn đau, sầu não đều có thể được khắc phục.
Triết học Kitô giáo Gia đình Kierkegaard có truyền thống theo Kitô giáo, đây cũng là một trong những nhân tố gây ảnh hưởng tới sự hình thành tư tưởng hiện sinh Kitô của Kierkegaard. Ông được sinh ra trong một gia đình mộ đạo, hay đi nhà thờ, nên bên cạnh nguồn gốc Kinh Thánh, ông còn chịu ảnh hưởng lớn từ triết học Kitô giáo. Đối với Kierkegaard, Thượng đế chẳng khác gì sự nghịch lý, tuy con người vẫn có thể tìm thấy Ngài trong sự bất lực nơi trần thế, trong mối quan hệ tuyệt đối với cái tuyệt đối. Trong Kính sợ và run rẩy, ông viết: “Giờ đây chúng ta đối mặt với cái nghịch lý.
Hoặc là cái cá thể, với tư cách là cái cá biệt […] hoặc là Abraham là kẻ bị hư mất” [46, tr. 286], Abraham là nhân vật được Kierkegaard lấy cảm hứng để nêu lên tư tưởng hiện sinh của mình trong giai đoạn thứ ba, tức giai đoạn tôn giáo, toàn bộ những cốt yếu trong đời sống tôn giáo của ông đều được thông qua quá trình Abraham hiến tế con trai của mình là Isaac cho Thượng đế. Thực chất, Kierkegaard đang muốn mang đến cho độc giả những cái nhìn khác nhau về trường hợp của Abraham khi 21 phải bị xét đoán dưới nhiều khía cạnh khác nhau như mỹ học, đạo đức. Nhưng, trong trường hợp của hiện sinh tôn giáo, Abraham hoàn toàn nằm ngoài lề các giá trị phổ quát ấy, ông chỉ được xét trong mối quan hệ giữa cá cá thể với cái tuyệt đối – tức Thượng đế.
Tư tưởng hiện sinh của Kierkegaard về sau này được các nhà hiện sinh kể cả hữu thần lẫn vô thần kế thừa một cách triệt để. Nếu Kierkegaard mang con người đặt trong mối quan hệ với Thượng đế thì Heidegger lại đặt nó trong mối quan hệ với tình huống giới hạn – tức cái chết, hoặc J. Sartre kết án con người là tự do, bản thân con người từ khi sinh ra đã bị kết án phải được tự do. Triết học Kitô đã trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử.
Ở mỗi thời kì đều có những đại diện tiêu biểu khác nhau như: Augustino, Thomas Aquinas, Martin Luther, Herder, v.v… Trong các đại diện ấy, tư tưởng hiện sinh Kitô của Kierkegaard chủ yếu chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi Augustino và Martin Luther. Thánh Augustino (Saint Augustine, 354 – 430), là hiện thân của minh triết trong thời kì Giáo phụ. Như Grabmann đã khẳng định: “Ảnh hưởng của các giáo phụ lên triết học Trung đại đồng nghĩa với sự hiện hữu và ảnh hưởng không ngừng của Thánh Augustine đến thời Trung đại” [32, tr. Hay theo Gilson: “Với Thánh Augustine ta đạt đến đỉnh cao của triết học thời kì Giáo phụ, và có lẽ là toàn bộ triết học Kitô giáo” [32, tr.
384], những tư tưởng chính của ông chủ yếu được trình bày trong tác phẩm Tự thuật. Augustine quan niệm rằng Chúa Kitô cũng là một nhân cách – là cái thiện tuyệt đối và nó được cụ thể hóa thông qua hình tượng của Đấng Jesus Christ. Theo Augustine: “Con sẽ không được hiện hữu, tuyệt đối sẽ không được hiện hữu nếu không có Chúa ở trong con. Hay, đúng hơn, nếu con không ở trong Chúa” [45, tr.
Trong mối quan hệ ràng buộc giữa con người và Thượng đế, ông 22 cho rằng Thượng đế đã ban tặng cho con người sự tự do tinh thần một cách tuyệt đối nhưng nó phải nằm trong mối quan hệ với cái tuyệt đối – tức là sự giới hạn của Thượng đế. Con người hoàn toàn chiếm vị thế độc tôn không thể bị thay thế bởi một giống loài nào khác, vì lẽ đó nên con người ngoài phần thể xác xét với tư cách tự nhiên, còn là một thực thể tinh thần hoàn toàn tách biệt khỏi thế gian nằm trong mối quan hệ với Thượng đế, vì lẽ đó mà con người cũng được tự do hành động theo ý muốn và lời răn của Chúa. Thế nhưng tại sao vẫn có cái ác xuất hiện, liệu đó có phải là ý muốn của Thiên Chúa hay không? Augustine cho rằng, con người được ban tặng cho khả năng tự do ý chí, những cái ác xuất hiện là khi con người khước từ sự tuân phục ý chí Thượng Đế, và đó là mọi nguyên nhân dẫn tới sai lầm, tội lỗi nơi con người. Về bản chất của chân lý, Augustine cho rằng chân lý là một thuộc tính của các phán đoán của con người và cần phải thừa nhận bản chất của nó trong sự phù hợp của các mệnh đề của ta với những sự kiện khách quan của từng trường hợp hay các hoàn cảnh khách quan của các sự vật, hiện tượng, tức là tính lôgíc của chân lý.
Nhưng, chân lý còn nằm trong sự tương hợp của sự vật với ý chí của Thượng đế mà cấu thành nên bản chất thật sự của nó. Cho nên, có thể nói rằng, bản chất của chân lý chính là Thượng đế, vì lẽ muốn nhận thức được chân lý chắc chắn không được bỏ qua sự hiện hữu của Thượng đế trong mối quan hệ này. Trong mối quan hệ ấy, Augustine cho rằng, con người xét với tư cách hữu thể có thể nằm trong tính không gian và thời gian như các sự vật, hiện tượng bao gồm tất cả các đặc điểm cấu thành nên các quan năng nhận thức. Điều này có thể gây ra sự không đồng bộ trong nhận thức của mỗi cá nhân, nhưng vẫn còn đó một khía cạnh khác giúp con người đạt đến chân lý hằng 23 cửu, siêu việt.
Trong sự bất toàn, ta đạt được sự hoàn hảo, trong cái tương đối, là cái tuyệt đối, trong cái trần tục, là cái siêu việt. Vì lý do đó, ông nhấn mạnh rằng cái bản tính bất biến, bản chất đầu tiên vượt lên trên toàn bộ nỗ lực của lý tính chính là Thượng đế, đồng thời, bản chất ấy cũng như sự sống đầu tiên có ở nơi mà sự minh triết đầu tiên có mặt. Vì lẽ con người không thể vượt qua được những giới hạn của Thượng đế trong việc truy tìm chân lý, và con người cũng chẳng thể nhận thức được bản thân Thượng đế. Cho nên, Augustine đã giải thích rằng dù không thể nắm bắt được Thượng đế trong tất cả về sự đầy đủ, phong phú vốn có của Ngài, nhưng con người lại nắm bắt được Ngài trong một phương cách xác thực và chủ động, hơn thế nữa, con người cũng luôn đối diện với Ngài trong mỗi chân lý xét như cái toàn mỹ nhất, và chân lý toàn mỹ sẽ biểu lộ cái chân lý cá nhân.
Kierkegaard đã kế thừa tư tưởng chân lý cho tôi của Augustine, ông không chấp nhận những phương cách sống nhún nhường, sống cho kẻ khác. Thay vào đó, chân lý là những gì hiển hiện cụ thể và có ích cho mỗi cá nhân con người. Cực đoan hơn Augustine, Kierkegaard cho rằng, chân lý chỉ hiển hiện khi con người bước vào đời sống tôn giáo. Kế thừa tư tưởng về “chân lý cá nhân” của Augustine, Kierkegaard đã xây dựng nên quan điểm mỗi cá nhân con người đối diện một mình trước Thượng đế, trong hoàn cảnh này, mọi sự che đây đều bị vỡ vụn và con người không thể tránh né hoặc giấu giếm bất kì điều gì.
Hay nói cách khác, đó là sự phơi bày trước ánh sáng của cái vĩnh cửu, là nhìn chính mình từ giác độ vĩnh hằng. Tượng tự trong Kinh Thánh, Thượng Đế giống như nguồn sáng soi dẫn cho mọi con người bước vào thế giới, luận điểm mà Augustine đã kế thừa và phát triển như sau: chân lý xét như chân lý cá biệt đứng đằng sau những hiểu biết của con người thực chất cũng chỉ là một phần của cái chân lý phổ quát, vĩnh cửu - tức Thượng đế. Như thế, mọi hệ giá trị mang tính chất luân lý cũng chẳng phải là cái chân 24 lý tuyệt đối nếu nó không phải đến từ nơi Thượng đế hơn là lý tính của con người. Do đó, trong tác phẩm Kính sợ và run rẩy, Kierkegaard bằng nghệ thuật phúng dụ hình ảnh của Abraham đã đưa ra một định đề nan giải rằng: “Liệu có tồn tại một sự đình bỏ có tính mục đích luận đối với luân lý hay không?” [46, tr.