chương 1.---2-2¿2©+++2EE+++2EEE+ESEEEEEtEEEEEESEEELertrrkrrrrrrkrcee 63 Chương 2: NỘI DUNG VÀ ĐẶC DIEM CUA TƯ TƯỞNG GIAO DỤC THỜI KỲ LÝ - TRAN. NOI DUNG CUA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC THỜI KỲ LÝ - TRÀN. Tư tưởng về nội dung giáo dục thời kỳ Lý - Trần. Tư tưởng về tô chức và phương pháp giáo dục thời kỳ Lý - Trần.
ĐẶC DIEM CUA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC THỜI KỲ LÝ - TRẢN. Sự thống nhất giữa luân lý, đạo đức và chính trị - xã hội trong tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần.----2+222EV2+++tt2EEESE+rtttEEEErrrrrrrrrrrrrree 104 2. Tính kế thừa, dung hợp, phát triển tư tưởng của Tam giáo và tư tưởng, văn hóa Việt Nam truyền thống của tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần. Tính nhân văn trong tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần.
114 Kết luận chương 2. ce 120 Chương 3: GIÁ TRI, HAN CHE VA BÀI HỌC LICH SỬ CUA TU TƯỞNG GIAO DUC THỜI KY LY - TRAN VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DUC 0A14¡%00/. GIA TRI VA HAN CHE CUA TƯ TƯỞNG GIÁO DUC THOT KỲ LÝ - TRAN. Giá trị của tư tưởng giáo duc thời kỳ Lý - Trần.
Hạn chế của tư tưởng giáo duc thời kỳ Lý - Trần. BÀI HOC LICH SỬ CUA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC THỜI KỲ LÝ - TRAN VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIEN NAY. Thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay. Bai học lich sử của tư tưởng giáo dục thời kỳ Ly - Trần với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện nay .-- 6 cành ri, 165 Kết luận chương 3.
re 181 KET LUẬN CHUNG. eccee 183 DANH MỤC TÀI LIEU THAM KHẢO.2--©222¿+222222cccczee 189 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BÓ LIÊN QUAN DEN ĐÈ TÀI CUA LUẬN ÁN.-22222-S222EESccrrrrrrrecree 200 PHÀN MỞ ĐÀU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sự phát triển của lịch sử nhân loại nói chung, cũng như của lịch sử - xã hội Việt Nam nói riêng, đã khang định một xã hội muốn phát triển bền vững, thì xã hội đó không chỉ chú ý đến sự phát triển đồng bộ, hài hòa giữa các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà còn phải đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục. Bởi lẽ, giáo dục không chỉ là nhân tố hàng đầu góp phan nâng cao năng lực và hoàn thiện nhân cách con người nói chung; phát triển tri thức, trình độ chuyên môn kỹ thuật và thái độ của người lao động nói riêng; mà còn là nhân tố quyết định thúc day sự phát triển khoa học và công nghệ; trên cơ sở đó phat triển lực lượng sản xuất, tao động lực tăng năng suất lao động, góp phần vào sự phát triển xã hội.
Ngày nay, trên thế giới nền kinh tế tri thức đang tỏ rõ sức vượt trội và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Hàm lượng tri thức kết tỉnh trong mỗi sản phẩm quyết định và thể hiện chất lượng nguồn nhân lực, hay nói cách khác trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu của quyền lực và sức mạnh của một nước. Nó không chỉ là phúc lợi xã hội, mà còn là đòn bẩy quan trọng đề phát triển kinh tế, xã hội. Các nước chậm tiến muốn phát triển nhanh và bền vững phải hết sức quan tâm đến giáo dục và đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho sự phát triển.
Chỉ có một chiến lược phát triển con người đúng đắn mới giúp các nước đang phát triển thoát khỏi sự phụ thuộc về kinh tế và công nghệ. Vì lẽ đó, việc phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao tri thức nhằm tiếp cận, hòa nhập với thé giới về moi mặt ở mỗi quốc gia đang trở thành van đề cần thiết. Đây là vấn dé không chỉ mang tính thời sự cấp bách mà còn mang tính chiến lược lâu dài. Với vai trò và ý nghĩa to lớn như thế nên giáo dục đã được các nhà tư tưởng, trong đó có các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin nghiên cứu một cách khoa học.Mác đã cho rằng: “Nền giáo dục tương lai, nó sẽ kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thê dục đối với tất cả những trẻ em trên một lứa tuổi nào đấy, coi đó không chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nên sản xuất xã hội mà còn là một phương pháp duy nhất đề sản xuất ra những con người phát triển toàn diện nữa” (C.
Anghen khang định: “Nền công nghiệp do toàn xã hội thực hiện một cách tập thể và có kế hoạch lại càng cần có những con người có năng lực phát triển toàn điện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất” (C. Trong Đại hội toàn Nga về công tác giáo dục lần thứ nhất diễn ra vào ngày 28/8/1918, V.Lênin cũng đã khang định vai trò to lớn của công tác giáo dục, coi đó là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.LLénin cho rằng: “Sự nghiệp của nhà trường chúng ta cũng là đầu tranh đánh đồ giai cấp tư sản; chúng ta tuyên bố công khai rằng: nói nhà trường đứng ngoài cuộc sống, ngoài chính trị, là nói đối và lừa bịp” (V. Do nhận thấy được vai trò của giáo dục trong việc phát triển nhân tài, ôn định và chắn hưng dat nước, phát triển kinh tế - xã hội, chống giặc ngoại xâm, vì Vậy trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước dân tộc Việt Nam sớm có truyền thống hiếu học và quan tâm đến vấn đề giáo dục. Truyền thống đó được đúc kết và thể hiện trong câu nói nổi tiếng của Thân Nhân Trung (1419 - 1499): “Hiền tài là nguyên khí quốc gia.
Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì nước yếu mà xuống thấp” (Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, 2013, tr. Đặc biệt trong thời đại Hồ Chí Minh, Người luôn thể hiện sự quan tâm đến vai trò của giáo đục trong việc phát huy nhân tố con người, coi con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định mọi thành công. Theo Hồ Chí Minh con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.
Nhận thấy vai trò to lớn của giáo duc đối với sự thành bại của vận nước, giáo dục cần một sự đầu tư thỏa đáng, bởi, Hồ Chí Minh (2011a) cho rằng: “Một dan tộc dét là một dân tộc yếu” (tr. Trong “Thư gửi cho học sinh”, ngày 5 - 9 - 1945, Bác khích lệ học sinh chăm chỉ học tập đề làm rạng rỡ cho nước nhà: “Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã dé lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đải vinh quang dé sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (Hồ Chí Minh, 201 1a, tr.
Trong lời ghi ở trang đầu Quyển số vàng của trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, Hồ Chí Minh (2011b) đã viết: “Học dé làm việc, làm người, làm cán bộ. Học đề phụng sự đoàn thẻ, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” (tr. Qua đó, cho chúng ta thấy dù ở mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, giáo dục vẫn luôn là vấn đề cốt lõi ở mỗi quốc gia. Thắm nhuan và tiếp thu truyền thống giáo duc của dan tộc, trong suốt quá trình lãnh dao cách mạng Việt Nam nói chung cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế nói riêng, Đảng ta luôn chú trọng đến vai trò của giáo dục và đảo tạo, vai trò của trí thức nhằm phát triển bền vững đất nước.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Dang khoá VIII Vẻ định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đã nêu vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục - đào tạo, Hội nghị đã khẳng định: “Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tu phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1997a, tr. Tiếp tục tư tưởng đó, Nghị quyết số 29 Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI cũng đã đề cập đến vấn đề giáo dục với nội dung: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013a, tr. Đồng thời, Đảng cũng đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tao là quốc sách hang đầu, một nhân tố quyết định dé thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn đân; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013a, tr.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước, cùng với sự quan tâm đến giáo dục của toàn Đảng, toàn dân ta, sự nghiệp giáo dục Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kẻ: “Quy mô, mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng. Hệ thống giáo dục và đào tạo các cấp từ cơ sơ đến đại học, dạy nghề được tổ chức lại một bước. Quan tâm đầu tư cho giáo dục, đào tạo. Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ.
Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Xã hội hóa giáo dục được đây mạnh. Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyền biến. Chủ trương đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho con người đã được các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo thực hiện và nhận được sự ủng hộ của toàn xã hội.
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr. Song, nền giáo dục Việt Nam hiện nay vẫn còn những yếu kém, tồn tại như: “Giáo dục và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển. Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.