Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học của nghiên cứu sinh Nguyễn Phan Thị Thùy Dung với đề tài "Tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần và bài học lịch sử của nó đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Doãn Chính. Luận án thuộc chuyên ngành Triết học (mã số 62.01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo lập luận của tác giả, giáo dục giữ vai trò nhân tố hàng đầu trong việc nâng cao năng lực, hoàn thiện nhân cách con người, đồng thời là động lực then chốt thúc đẩy lực lượng sản xuất và phát triển khoa học - công nghệ. Trong lịch sử tư tưởng chính trị - triết học của nhân loại và Việt Nam, vai trò của giáo dục luôn được khẳng định sâu sắc, từ các quan điểm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin đến tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng đầu" trong các văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam (như Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết 29 Trung ương 8 khóa XI, Văn kiện Đại hội XII).
Trong tiến trình lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, thời kỳ Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV) là giai đoạn củng cố nhà nước Đại Việt độc lập, thống nhất và đánh thắng các cuộc xâm lược của ngoại bang. Sự kiện xây dựng Văn Miếu (1070) và thành lập Quốc Tử Giám (1076) đã mở đầu cho hệ thống giáo dục - khoa cử có tổ chức của quốc gia. Tuy nhiên, bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nhiều tồn tại (nặng lý thuyết, nhẹ thực hành; quản lý, thi cử còn bất cập; chưa gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu và lao động sản xuất). Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần nhằm kế thừa những giá trị truyền thống, xác định hạn chế và rút ra bài học lịch sử cho sự nghiệp giáo dục hiện nay là một yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây phần lớn nghiên cứu lịch sử thời Lý - Trần dưới góc độ sử học thuần túy, lịch sử Phật giáo, lịch sử văn học hoặc mô tả quy chế khoa cử, trường ốc mà chưa phân tích một cách chỉnh thể tư tưởng giáo dục trên bình diện triết học (từ cơ sở hình thành, mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp, tổ chức đến các đặc điểm, giá trị và hạn chế lịch sử).
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là: làm rõ nội dung và đặc điểm của tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần; từ đó đánh giá các giá trị, hạn chế và rút ra bài học lịch sử đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nhiệm vụ 1: Trình bày, phân tích và làm rõ những đặc điểm, yêu cầu của xã hội Việt Nam thời kỳ Lý - Trần đối với việc hình thành tư tưởng giáo dục; làm rõ sự ảnh hưởng của Tam giáo trên cơ sở tiếp thu, kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam.
- Nhiệm vụ 2: Trình bày, phân tích, làm rõ nội dung giáo dục thời kỳ Lý - Trần qua các khía cạnh: nội dung giáo dục, tổ chức và phương pháp giáo dục; phân tích những đặc điểm chủ yếu của tư tưởng giáo dục thời kỳ này.
- Nhiệm vụ 3: Đánh giá những giá trị và hạn chế của tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần; từ đó rút ra bài học lịch sử đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần (luận án không nghiên cứu toàn bộ tư tưởng triết học thời kỳ Lý - Trần nói chung mà tập trung chuyên biệt vào tư tưởng giáo dục).
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu tư tưởng giáo dục trong không gian lịch sử Đại Việt từ năm 1010 (khi nhà Lý thành lập và định đô Thăng Long) đến năm 1400 (kết thúc triều Trần) thông qua các nguồn tư liệu văn bản có liên quan.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả hệ thống hóa tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thành 3 nhóm chủ đề chính:
| Nhóm chủ đề |
Các công trình, tác giả tiêu biểu |
Nội dung đã đạt được |
Giới hạn mà luận án bổ khuyết |
| Nhóm 1: Nghiên cứu điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng thời Lý - Trần |
Đại Việt sử ký toàn thư (1998); Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú, 2007); Đại cương lịch sử Việt Nam (Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, 2002/2014); Việt sử cương mục tiết yếu (Đặng Xuân Bảng, 2000); Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Viện Sử học, 2007); Tiến trình lịch sử Việt Nam (Nguyễn Quang Ngọc, 2003); Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII (Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, 1975); Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời kỳ Lý - Trần (Viện Sử học, 1980); các bài báo của Nguyễn Hoàng Xanh (2007), Nguyễn Thị Phương Chi (2008, 2012), Đinh Viết Lực (2011), Trần Trọng Dương (2015), Phạm Văn Triệu (2010), Nguyễn Thị Thanh Hảo (2012)... |
Khái quát bối cảnh lịch sử, thiết chế chính trị, sở hữu ruộng đất, công tác trị thủy, thủ công nghiệp, thương nghiệp, diễn biến ba lần kháng chiến chống Nguyên - Mông và văn hóa thời Lý - Trần. |
Các công trình chủ yếu tiếp cận theo góc độ sử học và khảo cổ, phản ánh gián tiếp đời sống kinh tế - xã hội hoặc ghi chép sự kiện mà chưa phân tích các tiền đề này như những nhân tố tác động trực tiếp đến sự ra đời của tư tưởng giáo dục. |
| Nhóm 2: Khái quát nội dung và đặc điểm tư tưởng triết học, tôn giáo, giáo dục thời Lý - Trần |
Thơ văn Lý - Trần (Viện Văn học, 1989); Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang, 1992/2000); Tư tưởng Việt Nam thời kỳ Lý - Trần (Trương Văn Chung, Doãn Chính, 2008); Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX (Doãn Chính, 2013); Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến (Nguyễn Tiến Cường, 1998); Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Nguyễn Tài Thu, 1993); Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII (Trần Văn Giáp, 1968); Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam (Lê Mạnh Thát, 2002); Thiền học Việt Nam (Nguyễn Đăng Thục, 1966); Tư tưởng Phật giáo Việt Nam (Nguyễn Duy Hinh, 1999); các bài nghiên cứu của Nguyễn Hoài Văn (2009), Nguyễn Thạc Dũng (2012), Đỗ Hương Giang (2011), Nguyễn Hiền Lương (2015), Nguyễn Tài Đông (2013), Đặng Ánh Tuyết (2015), Trịnh Khắc Mạnh (2015)... |
Phân tích thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng Thiền tông Trúc Lâm, hiện tượng Tam giáo đồng nguyên, văn bản thơ văn thời Lý - Trần và hệ thống trường thi Nho học. |
Các tác phẩm chủ yếu nghiên cứu tư tưởng triết học, tôn giáo tổng quát hoặc dừng lại ở việc miêu tả quy chế thi cử, trường ốc Nho giáo; chưa phân tích chỉnh thể tư tưởng về mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp và đặc điểm của giáo dục thời kỳ này. |
| Nhóm 3: Đánh giá giá trị, ý nghĩa lịch sử của nền giáo dục phong kiến và thời Lý - Trần |
Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước 1945 (Vũ Ngọc Khánh, 1985); Lịch sử Giáo dục Việt Nam trước cách mạng tháng 8 - 1945 (Nguyễn Đăng Tiến, 1996); Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám (Trần Văn Giàu, 1996); Lược khảo về khoa cử Việt Nam (Huyền Quang, 1960); Xây dựng và phát triển Văn hóa giáo dục (Nguyễn Khắc Hoạch, 1970); Khoa cử và giáo dục Việt Nam (Nguyễn Quyết Thắng, 1998); Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam (Lê Văn Giạng, 2003); Võ cử và các tiến sĩ ở nước ta (Nguyễn Thúy Nga, 2003); Lịch sử giáo dục Việt Nam (Bùi Minh Hiển, 2008); các bài viết của Phan Văn Các (1985), Nguyễn Danh Phiệt (1990), Hồ Thị Hồng (1995), Phan Trọng Luận (2001), Lê Thị Lan Anh (2015), Bùi Thị Thoa (2013), Bùi Xuân Đính (2011)... |
Đánh giá vai trò của giáo dục thời phong kiến trong việc đào tạo quan lại, củng cố ý thức dân tộc, chỉ ra một số mặt hạn chế như tính chất đẳng cấp, giáo điều, coi nhẹ kiến thức khoa học kỹ thuật. |
Đa phần đánh giá mang tính khái lược, chưa phân tích toàn diện hai mặt giá trị và hạn chế dưới góc độ triết học; chưa lý giải nguyên nhân kinh tế - xã hội của các hạn chế; chưa rút ra hệ thống bài học lịch sử cho thực tiễn giáo dục Việt Nam đương đại. |
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Kế thừa thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, luận án định vị mình là công trình chuyên khảo dưới góc độ lịch sử tư tưởng triết học, tập trung làm rõ:
- Cơ sở hình thành tư tưởng giáo dục thời Lý - Trần từ thực tiễn kinh tế - xã hội, nhiệm vụ bảo vệ độc lập và nhu cầu phát triển văn hóa.
- Nội hàm tư tưởng giáo dục (mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp, tổ chức).
- Các đặc điểm cơ bản (sự gắn kết đạo đức với chính trị, tính kế thừa dung hợp Tam giáo và tính nhân văn).
- Đánh giá khách quan giá trị, hạn chế và đúc kết các bài học lịch sử đối với sự nghiệp giáo dục Việt Nam hiện nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
Luận án được thực hiện dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử:
- Vận dụng nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội (dẫn luận quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen trong việc xem xét các hình thái ý thức xã hội bắt nguồn từ phương thức sản xuất vật chất và giao tiếp vật chất).
- Xem xét tư tưởng giáo dục như một hình thái ý thức xã hội phản ánh các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và quân sự của Đại Việt thế kỷ XI - XIV, đồng thời nhận diện sự tác động trở lại của giáo dục đối với sự ổn định chính trị và phát triển văn hóa của triều đại.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành triết học và khoa học xã hội:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các bộ phận cấu thành tư tưởng giáo dục (nội dung, phương pháp, tổ chức, đặc điểm) và tổng hợp thành hệ thống quan điểm lý luận.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Quy nạp từ các sự kiện lịch sử, văn bản pháp quy, chiếu chỉ, thi cử để khái quát các luận điểm tư tưởng giáo dục; diễn dịch các nguyên lý triết học Mác - Lênin vào việc lý giải các hiện tượng giáo dục cụ thể.
- Phương pháp lôgích và lịch sử: Kết hợp việc dựng lại tiến trình lịch sử thực tế của giáo dục thời Lý - Trần (từ 1010 đến 1400) với việc rút ra bản chất lôgích, quy luật vận động và các đặc trưng cốt lõi của tư tưởng giáo dục.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Tư liệu văn bản lịch sử - triết học cổ: Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt sử lược, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Thơ văn Lý - Trần, Thiền uyển tập anh, Tam tổ thực lục, Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái, các tác phẩm của Trần Thái Tông (Văn răn ngũ giới), Tuệ Trung Thượng sĩ (Phóng cuồng ca), Trần Quốc Tuấn (Hịch tướng sĩ), Trương Hán Siêu (Phú sông Bạch Đằng), Trần Nhân Tông (Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca)...
- Tư liệu kinh điển và văn kiện chính trị: Các tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh; các nghị quyết, văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo.
- Tài liệu nghiên cứu hiện đại: Sách chuyên khảo, luận án, bài báo khoa học về lịch sử, triết học, văn hóa và giáo dục Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án gồm phần Mở đầu, 3 chương (chia thành 6 tiết, 13 tiểu tiết), phần Kết luận chung, Danh mục tài liệu tham khảo và Danh mục công trình đã công bố của tác giả.
Chương 1: Cơ sở xã hội và tiền đề lý luận hình thành tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần
Chương 1 làm rõ các điều kiện thực tiễn và nền tảng tư tưởng dẫn đến sự ra đời và phát triển của tư tưởng giáo dục thời Lý - Trần:
-
Cơ sở kinh tế - xã hội:
- Nông nghiệp và trị thủy: Sự phát triển của chế độ sở hữu ruộng đất nhà nước kết hợp sở hữu tư nhân; các chính sách bảo vệ sức kéo nông nghiệp và "ngụ binh ư nông". Năm 1103, nhà Lý ban chiếu đắp đê kinh thành. Năm 1248, vua Trần Thái Tông hạ lệnh các lộ đắp đê quai vạc từ đầu nguồn đến bờ biển và lập chức "hà đê chánh phó sứ". Năm 1254, triều đình cho phép bán ruộng công làm ruộng tư (5 quan tiền/diện). Năm 1266, ban chiếu cho vương hầu, công chúa chiêu tập dân phiêu tán lập điền trang. Sự phát triển nông nghiệp và công tác trị thủy tạo mối liên kết cộng đồng bền chặt và bảo đảm điều kiện vật chất cho văn hóa, giáo dục.
- Thủ công nghiệp và thương nghiệp: Phân hóa thành bộ phận nhà nước (đúc tiền, đúc chuông, đóng thuyền, chế tạo binh khí, kiến trúc cung điện) và dân gian (gốm, dệt, rèn, làm giấy, in bản khắc gỗ). Mạng lưới nội thương hình thành qua hệ thống chợ sông Hồng, phố Luy Lâu; ngoại thương phát triển tại quân cảng/thương cảng Vân Đồn; trung tâm chính trị - kinh tế Thăng Long được mở rộng.
- Chính trị và quân sự: Thiết chế quân chủ tập quyền từng bước hoàn thiện; nhu cầu đào tạo đội ngũ quan lại, trí thức quản lý đất nước và xây dựng lực lượng quân sự vững mạnh.
- Kháng chiến chống Nguyên - Mông: Ba cuộc kháng chiến thắng lợi (lần 1 năm 1258 với chiến thắng Đông Bộ Đầu; lần 2 năm 1285 với các trận A Lỗ, Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương, Vạn Kiếp; lần 3 năm 1287-1288 với chiến thắng Vân Đồn của Trần Khánh Dư và chiến thắng Bạch Đằng của Trần Quốc Tuấn) đã đặt ra yêu cầu giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc và tư tưởng quân sự bảo vệ chủ quyền.
-
Nhu cầu phát triển nền văn hóa Đại Việt:
- Chữ viết: Sự hình thành và khẳng định của chữ Nôm (từ cuối thế kỷ X, hoàn thiện vào thế kỷ XIII; Hàn Thuyên đặt ra Hàn luật; Hồ Quý Ly dùng chữ Nôm dịch Kinh Thư).
- Văn học, sử học, nghệ thuật: Sự phát triển của văn học chữ Hán và chữ Nôm; việc thành lập Quốc Sử viện và sự ra đời của bộ Đại Việt sử ký (30 quyển) do Lê Văn Hưu biên soạn năm 1272; các thành tựu kiến trúc - điêu khắc Phật giáo (An Nam tứ đại khí: tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng phật Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh; các tháp Phổ Minh, Bình Sơn).
-
Tiền đề lý luận:
- Truyền thống văn hóa dân tộc: Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết cộng đồng, đạo lý làm người và lòng nhân nghĩa.
- Tư tưởng Tam giáo (Nho - Phật - Đạo): Tiếp thu các giá trị đạo đức, nhân bản của Phật giáo; cấu trúc luân lý, chuẩn mực quản lý xã hội của Nho giáo; quan niệm sống hòa hợp tự nhiên của Đạo giáo, tạo nên bức tranh dung hợp tư tưởng đặc thù.
Chương 2: Nội dung và đặc điểm của tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần
Chương 2 phân tích cấu trúc nội dung và các thuộc tính bản chất của tư tưởng giáo dục thời kỳ này:
-
Nội dung tư tưởng giáo dục:
- Tư tưởng về nội dung giáo dục: Tập trung vào giáo dục đạo đức, luân lý làm người (trung, hiếu, tiết, nghĩa theo Nho giáo; từ bi, ngũ giới, thập thiện theo Phật giáo); giáo dục tri thức chính trị - xã hội, văn hóa, văn học và nghệ thuật quân sự để phụng sự nhà nước và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục thời kỳ này chú trọng đào tạo "kẻ sĩ", "hiền tài" có nhân cách và năng lực hành đạo.
- Tư tưởng về tổ chức và phương pháp giáo dục: Thiết lập hệ thống trường học chính quy từ trung ương (Quốc Tử Giám) đến địa phương, kết hợp trường tư thục; xây dựng chế độ khoa cử tuyển chọn nhân tài (khoa thi Tam giáo, các khoa thi Thái học sinh/Tiến sĩ); áp dụng phương pháp nêu gương, kết hợp học với hành, giáo hóa thông qua luật pháp, lễ nhạc và sinh hoạt tôn giáo, văn hóa dân gian.
-
Đặc điểm của tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần:
- Sự thống nhất giữa luân lý, đạo đức và chính trị - xã hội: Giáo dục không tách rời đời sống chính trị; việc rèn luyện đạo đức cá nhân là nền tảng để thực hiện trách nhiệm đối với quốc gia và cộng đồng.
- Tính kế thừa, dung hợp, phát triển tư tưởng Tam giáo và văn hóa truyền thống: Hiện tượng "Tam giáo đồng nguyên" thể hiện rõ trong giáo dục; tư tưởng Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo được bản địa hóa, hòa quyện với lòng yêu nước và ý thức tự chủ dân tộc Đại Việt.
- Tính nhân văn: Coi trọng con người, hướng thiện, khoan dung, đề cao phẩm giá con người và tinh thần hòa hợp xã hội.
Chương 3: Giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 tổng kết giá trị, phê phán hạn chế và đề xuất các bài học thực tiễn:
-
Giá trị và hạn chế của tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần:
- Giá trị: Đặt nền tảng cho hệ thống giáo dục quốc gia độc lập; đào tạo tầng lớp hiền tài, quan lại có đức có tài cho bộ máy nhà nước; khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc và ý thức tự chủ văn hóa; kết hợp hài hòa các hệ tư tưởng phục vụ sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
- Hạn chế: Chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến; nội dung giáo dục thiên về kinh điển, đạo đức và chính sự, thiếu tri thức khoa học tự nhiên, kỹ thuật và kỹ năng lao động sản xuất thực tiễn; đối tượng thụ hưởng giáo dục còn mang tính giới hạn đẳng cấp và giới tính.
-
Bài học lịch sử đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện nay:
- Bài học về quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu: Kế thừa tinh thần trọng dụng "hiền tài là nguyên khí quốc gia", đầu tư đúng mức cho sự nghiệp phát triển con người.
- Bài học về giáo dục đạo đức, nhân cách gắn liền với lòng yêu nước và trách nhiệm xã hội: Đặt giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh làm nền tảng trong quá trình hình thành nhân cách người học.
- Bài học về xây dựng nền giáo dục mở, kế thừa truyền thống và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại: Giữ vững bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế, dung hợp hài hòa các giá trị tiến bộ.
- Bài học về đổi mới phương pháp giảng dạy, thi cử và quản lý giáo dục: Chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức thụ động sang phát triển phẩm chất và năng lực thực hành của người học; bảo đảm tính thực chất, công bằng trong đánh giá và tuyển chọn nhân tài.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các kết quả nghiên cứu và đóng góp khoa học mới như sau:
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Hệ thống hóa một cách toàn diện và cơ bản nội dung tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần trên các phương diện: mục đích, đối tượng, nội dung, tổ chức và phương pháp giáo dục dưới góc nhìn lịch sử tư tưởng triết học.
- Phân tích và chỉ rõ ba đặc điểm cốt lõi của tư tưởng giáo dục thời Lý - Trần: sự thống nhất giữa luân lý, đạo đức với chính trị - xã hội; tính kế thừa, dung hợp Tam giáo gắn với văn hóa truyền thống; và tính nhân văn sâu sắc.
- Đánh giá khách quan, biện chứng các giá trị tích cực và hạn chế lịch sử của tư tưởng giáo dục thời kỳ này dựa trên cơ sở kinh tế - xã hội phong kiến Đại Việt thế kỷ XI - XIV.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp
- Đúc kết các bài học lịch sử có giá trị tham khảo cho công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong việc:
- Xác định đúng đắn triết lý giáo dục phát triển con người toàn diện;
- Kết hợp giữa giáo dục tri thức khoa học với giáo dục đạo đức, truyền thống yêu nước;
- Cải tiến phương pháp tổ chức thi cử, đánh giá và trọng dụng nhân tài;
- Xây dựng môi trường giáo dục mang tính khai phóng và giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát tư tưởng giáo dục trong khung thời gian từ năm 1010 đến năm 1400 dựa trên các nguồn sử liệu thành văn và tác phẩm văn học, tôn giáo hiện còn lưu giữ. Do nguồn sử liệu thành văn thời kỳ Lý - Trần bị thất lạc nhiều qua các biến cố lịch sử (đặc biệt sau giai đoạn xâm lược của nhà Minh), một số khía cạnh về giáo dục dân gian, phương pháp dạy học cụ thể ở các làng xã chưa được phản ánh thật đầy đủ và chi tiết.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh tư tưởng giáo dục thời Lý - Trần với các thời kỳ phong kiến tiếp sau (thời Lê sơ, Lê Trung Hưng, Nguyễn) hoặc nghiên cứu sâu hơn về tư tưởng giáo dục quân sự, giáo dục Phật giáo chuyên biệt trong từng thiền phái thời Lý - Trần.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Triết học, Lịch sử triết học Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Giáo dục học, Văn hóa học khi tìm hiểu về lịch sử tư tưởng và lịch sử giáo dục Đại Việt thời trung đại.
- Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy các học phần: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Lịch sử giáo dục Việt Nam, Cơ sở văn hóa Việt Nam.
- Các nhà nghiên cứu chính sách giáo dục và quản lý văn hóa tham khảo các bài học lịch sử về trọng dụng nhân tài, xây dựng môi trường học thuật và kết hợp giáo dục truyền thống với hiện đại.
Câu hỏi thường gặp
1. Thời điểm nào đánh dấu sự hình thành hệ thống giáo dục - khoa cử chính quy của nhà nước phong kiến Đại Việt theo phân tích của luận án?
Luận án xác định mốc lịch sử quan trọng là việc vương triều Lý cho xây dựng Văn Miếu vào năm 1070 (thời vua Lý Thánh Tông) và thành lập Quốc Tử Giám vào năm 1076 (thời vua Lý Nhân Tông). Sự kiện này đặt viên đá tảng cho nền giáo dục chính quy, mở đầu cho việc đào tạo và tuyển chọn tầng lớp kẻ sĩ, quan lại có hệ thống.
2. Yếu tố "Tam giáo đồng nguyên" ảnh hưởng như thế nào đến tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần?
Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) cùng tồn tại song hành và dung hợp với nhau trên nền tảng văn hóa dân tộc. Giáo dục thời kỳ này không độc tôn Nho giáo mà tiếp thu giá trị đạo đức từ bi, bình đẳng của Phật giáo, phép dưỡng sinh, hòa hợp tự nhiên của Đạo giáo cùng chuẩn mực luân lý, kỷ cương xã hội của Nho giáo, thể hiện qua việc tổ chức các khoa thi Tam giáo để tuyển chọn nhân tài.
3. Những sự kiện kinh tế - xã hội tiêu biểu nào thời Lý - Trần được luận án phân tích như là tiền đề vật chất cho giáo dục?
Luận án phân tích các sự kiện: việc nhà Lý ra chiếu đắp đê năm 1103; nhà Trần quy hoạch đắp đê quai vạc trên toàn quốc và đặt chức "hà đê chánh phó sứ" năm 1248; quy định bán ruộng công thành ruộng tư với giá 5 quan/diện năm 1254; ban chiếu lập điền trang năm 1266; cùng sự phát triển của thủ công nghiệp nhà nước, thương cảng Vân Đồn và mạng lưới chợ sông Hồng.
4. Đâu là hạn chế lớn nhất của tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần được luận án chỉ ra?
Hạn chế lớn nhất là nội dung giáo dục chủ yếu tập trung vào luân lý đạo đức, chính sự và văn chương kinh điển, hầu như không chú trọng đến việc giáo dục tri thức khoa học tự nhiên, kỹ thuật và kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động trong nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp; đồng thời giáo dục còn mang tính đẳng cấp phong kiến.
5. Bài học lịch sử trọng tâm mà luận án rút ra cho nền giáo dục Việt Nam hiện nay là gì?
Bài học cốt lõi là: coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; kết hợp chặt chẽ giữa học với hành, lý luận với thực tiễn; đổi mới phương pháp giảng dạy và thi cử theo hướng thực chất; kế thừa truyền thống yêu nước, tự tôn dân tộc đi đôi với tiếp thu tinh hoa tri thức của thời đại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Phan Thị Thùy Dung đã khảo cứu có hệ thống tư tưởng giáo dục thời kỳ Lý - Trần từ góc độ lịch sử tư tưởng triết học. Tác phẩm đã phân tích rõ các cơ sở kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự cùng các tiền đề lý luận hình thành nên tư tưởng giáo dục, chỉ ra nội dung và các đặc điểm bản chất của nền giáo dục Đại Việt thế kỷ XI - XIV. Trên cơ sở đánh giá khách quan giá trị và hạn chế lịch sử, luận án đã khái quát các bài học kinh nghiệm có ý nghĩa tham khảo thiết thực cho công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.