Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Về cơ sở lý luận, tác giả trình bày một số khái niệm liên quan đến phổ cập giáo dục bậc tiểu học như phổ cập, phổ cập giáo dục, phổ cập giáo dục bậc tiểu học và một 19 số khái niệm liên quan đến phổ cập giáo dục bậc tiểu học thời kỳ Minh Trị như giáo dục tiểu học, giáo dục bắt buộc, Học chế, Sắc lệnh giáo dục và Sắc lệnh trường tiểu học. Về cơ sở thực tiễn, tác giả trình bày bối cảnh lịch sử, xã hội Nhật Bản vào cuối thời Edo và giới thiệu về tổng quan tình hình giáo dục ở Nhật Bản cuối thời Edo, cụ thể là hệ thống trường học ở Nhật Bản cuối thời Edo và vai trò của nó đối với việc phát triển hệ thống trường học đầu thời kỳ Minh Trị. Chương 2: Phổ cập giáo dục bậc tiểu học thời kỳ Minh Trị Trong chương này, tác giả phân tích bối cảnh lịch sử, xã hội Nhật Bản trong thời kỳ Minh Trị. Tiếp đến là quá trình ban hành Học chế và triển khai phổ cập giáo dục bậc tiểu học.
Tiếp theo là quá trình ban hành Sắc lệnh giáo dục, thúc đẩy phổ cập giáo dục bậc tiểu học. Cuối cùng là quá trình ban hành Sắc lệnh trường tiểu học, hoàn thiện phổ cập giáo dục bậc tiểu học. Chương 3: Nhận xét về phổ cập giáo dục bậc tiểu học thời kỳ Minh Trị Trong chương này, tác giả phân tích những thành quả và hạn chế khi triển khai phổ cập giáo dục bậc tiểu học thời Minh Trị. Phần Kết luận tác giả đề cập đến vai trò của phổ cập giáo dục bậc tiểu học đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhật Bản thời Minh Trị.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm liên quan đến phổ cập giáo dục bậc tiểu học Phổ cập Theo Từ điển tiếng Việt (2006), phổ cập có nghĩa là làm cho trở thành rộng khắp, đến với quần chúng rộng rãi. Theo Đại từ điển quốc ngữ Nhật Bản, phổ cập2 (fukyu – 普及) có nghĩa là việc phổ biến rộng rãi đến công chúng. Phổ cập giáo dục Theo Nguyễn Ngọc Dung (1978), phổ cập giáo dục là làm cho toàn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, đạt được một trình độ giáo dục nhất định, bao gồm những kiến thức văn hóa cơ bản, phổ thông, làm cơ sở cho việc đào tạo chuyên môn và cho việc học tập thường xuyên trong suốt cuộc đời.
Phạm Minh Hạc (1996) đã phát biểu rằng: Phổ cập giáo dục là hoạt động giáo dục có tổ chức của toàn xã hội nhằm làm cho mọi người trong độ tuổi quy định đều đạt được một trình độ giáo dục cơ bản tối thiểu về giáo dục theo số năm học hoặc trình độ chuyên môn nhất định theo kế hoạch đào tạo, nhờ đó mọi người đều có cơ hội tham gia đóng góp vào sự phát triển xã hội, cộng đồng và phát triển cá nhân. Theo Từ điển Giáo dục học (2013), phổ cập giáo dục được quy định như sau: 1. Nhà nước quyết định kế hoạch và trình độ giáo dục phổ cập, có chính sách bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước. Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.jp/word/普及-617004, truy cập ngày 2.
Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên trong độ tuổi quy định của gia đình được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Phổ cập giáo dục được quy định tại khoản 8 Điều 5 Luật Giáo dục năm 2019, thì “Phổ cập giáo dục là quá trình tổ chức hoạt động giáo dục để mọi công dân trong độ tuổi đều được học tập và đạt đến trình độ học vấn nhất định theo quy định của pháp luật”. Phổ cập giáo dục tiểu học Phổ cập giáo dục tiểu học được quy định tại Mục 2: Phổ cập giáo dục tiểu học thuộc Nghị định 20/2014/NĐ-CP do Chính Phủ ban hành ngày 24/03/2014 nêu rằng: Đối tượng phổ cập giáo dục tiểu học là trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi chưa hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học. Chương trình giáo dục thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học là chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.
Tóm lại, dựa trên các khái niệm nêu trên có thể rút ra điểm chính về Phổ cập giáo dục bậc tiểu học như sau: Phổ cập giáo dục bậc tiểu học là quá trình tổ chức hoạt động phổ cập giáo dục của Nhà nước để mọi công dân trong độ tuổi quy định đều có cơ hội tham gia học tập ở bậc tiểu học và đạt đến trình độ học vấn nhất định theo kế hoạch đào tạo. Bên cạnh đó, cần có sự quan tâm của gia đình để tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình được học tập. Nhờ vào đó mọi công dân có thể phát triển được năng lực cá nhân và đóng góp vào sự phát triển của xã hội, cộng đồng. Một số khái niệm liên quan đến phổ cập giáo dục bậc tiểu học thời Minh Trị Giáo dục tiểu học (shoto kyoiku – 初等教育) Theo Từ điển quốc ngữ Nhật Bản, giáo dục tiểu học3 có nghĩa là giáo dục phổ thông cơ bản và nhập môn.
Ở Nhật Bản, giáo dục tiểu học đề cập đến việc giáo dục ở các trường tiểu học. Giáo dục tiểu học cung cấp cho trẻ em những kiến thức, kỹ năng cơ bản, cần thiết cho đời sống xã hội.jp/word/初等教育/#jn-111791, truy cập ngày 2.2022 22 Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Nhật Bản, giáo dục tiểu học4 hay còn gọi là cấp giáo dục sơ đẳng, kết hợp cùng với cấp giáo dục trung đẳng và giáo dục cao đẳng tạo thành 3 giai đoạn của giáo dục trong trường học. Giáo dục tiểu học là cấp giáo dục chung mang tính nền tảng dành cho trẻ em từ khoảng 6 tuổi đến 14 tuổi, triển khai giảng dạy các nội dung cần thiết cho đời sống hằng ngày như Đọc, Viết, Tính toán. Vào các giai đoạn sau đó, cùng với sự phát triển của chính sách giáo dục quốc gia và tình hình kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, tỉ lệ trẻ em đến trường tăng lên, dần dần nội dung giảng dạy ở các trường tiểu học cũng được mở rộng hơn.
Cụ thể là chương trình học giảng dạy những môn học khích lệ tinh thần yêu nước của học sinh như Lịch sử, Địa lý Nhật Bản, thêm vào đó là đưa vào giảng dạy những môn Khoa học tự nhiên. Sau đó, chương trình giảng dạy ngày càng được hoàn thiện hơn với những môn học thực dụng với đời sống thường ngày như Âm nhạc, Vẽ, Thể dục, Khâu vá. Giáo dục bắt buộc (gimu kyoiku – 義務教育) Theo Từ điển Bách khoa toàn thư quốc tế, giáo dục bắt buộc5 nghĩa là Nhà nước áp đặt nghĩa vụ đi học đối với công dân và bắt buộc họ phải đi học. Giáo dục bắt buộc là một đặc điểm của các quốc gia hiện đại và được triển khai bằng cách thiết lập các hệ thống nhất định ở các quốc gia trên thế giới.
Ở Nhật Bản từ sau khi ban hành “Học chế” vào năm 1872 (Minh Trị 5), phương sách bắt buộc đến trường ở bậc tiểu học đã được quy định, tuy nhiên cho đến khi ban hành “Sắc lệnh trường tiểu học” vào năm 1886 (Minh Trị 19) thì thời gian giáo dục bắt buộc mới được quy định một cách rõ ràng, cụ thể thời gian giáo dục bắt buộc được quy định trong vòng 4 năm học tiểu học thường. Sau đó, đến năm 1907, quy định thời gian giáo dục bắt buộc được kéo dài thêm 2 năm, trở thành 6 năm.jp/word/初等教育-80526, truy cập ngày 3.jp/word/義務教育-51617, truy cập ngày 3.2022 23 Sắc lệnh (chokurei – 勅令) Theo Hiến pháp Đại Đế quốc Nhật Bản (1889), sắc lệnh là một trong những hình thức pháp lý theo Hiến pháp Minh Trị, là các mệnh lệnh do Thiên Hoàng ban hành liên quan đến các công việc chung của Quốc gia. Học chế (gakusei - 学制) Học chế là pháp lệnh quy định về hệ thống giáo dục công lập hiện đại đầu tiên của Nhật Bản. Pháp lệnh này được nghiên cứu và soạn thảo bởi 12 nhà nghiên cứu về Tây học.
Học chế được Chính phủ Minh Trị ban hành vào ngày 5 tháng 9 năm 1872 (Minh Trị thứ 5). Học chế được soạn thảo dựa trên việc khảo sát và chọn lọc từ hệ thống giáo dục của các quốc gia. Mặc dù sau khi ban hành, Học chế đã trải qua hơn 40 lần sửa đổi, xóa và thêm điều mục, tuy nhiên Học chế được xem là “một trong những thành tựu vĩ đại của thế kỷ” (Hirooka Yoshiyuki, Tsuda Toru, 2019, trang 66). Theo Bùi Minh Hiền (2016), Học chế là Bộ luật đầu tiên có tính tổng hợp của nền giáo dục Nhật Bản hiện đại, với tư tưởng chủ đạo là: + Bình đẳng về cơ hội giáo dục + Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học + Thực hiện chế độ học khu (mỗi khu vực thành lập một trường đại học và một số trường trung học và nhiều trường tiểu học).
+ Thực hiện chế độ tập quyền trung ương trong giáo dục. Dựa trên quy định của Học chế, hệ thống trường học trên cả nước chia thành 3 cấp: tiểu học, trung học, đại học và được xây dựng dựa theo hình mẫu hệ thống giáo dục của các nước tiên tiến phương Tây, mà chủ yếu là của Pháp mang tính thống nhất và tính pháp lệnh cao độ. Nội dung chính của Học chế được thể hiện qua các điểm chính sau: - Học vấn là điều cần thiết cho lợi ích cá nhân. Học để lập thân, để mang lại sự sung túc cho bản thân, có nghĩa là học để bản thân độc lập tự chủ.
24 - Học vấn thực học6 mang lại lợi ích thực tế cho mỗi người. - Thực học hướng đến việc trau dồi kiến thức cho toàn dân. Học chế là một chính sách mang tính bước ngoặt trong việc thiết lập và định hình hệ thống giáo dục hiện đại của Nhật Bản đầu thời kỳ Minh Trị. Nhờ vào Học chế, Chính phủ đã bước đầu xây dựng kế hoạch phổ cập và phát triển giáo dục trường học với mục tiêu hướng đến giáo dục toàn dân.
Sắc lệnh giáo dục (kyoiku rei - 教育令) Sắc lệnh giáo dục được ban hành năm 1879 (Minh Trị thứ 12). Sắc lệnh giáo dục bao gồm 47 điều, áp dụng hệ thống giáo dục mang tính phân quyền địa phương, khác với hệ thống giáo dục mang tính trung ương tập quyền được ban hành trong Học chế trước đây.