Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ" do nghiên cứu sinh Vũ Phú Dưỡng thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Nguyên Việt, hoàn thành và bảo vệ năm 2018 (Chuyên ngành Triết học, Mã số: 9.01).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) là ba hệ tư tưởng ngoại sinh du nhập vào Việt Nam từ đầu Công nguyên, trải qua quá trình giao lưu, tiếp biến lâu dài với các yếu tố văn hóa bản địa. Bước sang thế kỷ XVI, sự suy thoái của nhà Lê Sơ dẫn đến cục diện chiến tranh và cát cứ kéo dài giữa các tập đoàn phong kiến (Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn). Hệ tư tưởng Nho giáo Khổng - Mạnh vốn giữ vai trò độc tôn dưới thời Lê Sơ bộc lộ những giới hạn trong việc giải thích biến động xã hội và duy trì trật tự chính trị. Trước thực trạng khủng hoảng đó, giới nho sĩ trí thức đã tìm kiếm sự bổ sung từ Phật giáo và Đạo giáo, hình thành nên xu hướng dung thông tam giáo nhằm giải quyết các yêu cầu tư tưởng và tinh thần của thời đại. Ba đại biểu tiêu biểu cho khuynh hướng này là Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng hai học trò Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: trong khi các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận mối quan hệ tam giáo dưới các góc độ "đồng nguyên", "thống nhất" hoặc chỉ tập trung riêng lẻ vào Nguyễn Bỉnh Khiêm, thì sự dung thông tam giáo được kế thừa và phát triển có hệ thống trong mối quan hệ thầy - trò giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ dưới góc độ triết học vẫn chưa được khảo cứu đầy đủ.
  • Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Mục đích nghiên cứu: Phân tích một cách có hệ thống các quan điểm về dung thông Nho, Phật, Đạo trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ; làm rõ những giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của ba tác gia.
    • Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể được đánh số theo văn bản:
      1. Thứ nhất, tổng quan các công trình nghiên cứu về Nho, Phật, Đạo và các công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ.
      2. Thứ hai, trình bày khái quát về quá trình du nhập và phát triển của Nho, Phật, Đạo và sự dung thông Nho, Phật, Đạo trong các giai đoạn trước thế kỷ XVI.
      3. Thứ ba, luận án làm rõ những quan điểm về dung thông tam giáo của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ; làm rõ một số đặc điểm chủ yếu của dung thông Nho, Phật, Đạo trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ.
      4. Thứ tư, luận án bước đầu nêu những giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử về quan điểm dung thông Nho, Phật, Đạo trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm dung thông Nho, Phật, Đạo trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ.
    • Phạm vi nghiên cứu:
      • Không gian: Không gian văn hóa - tư tưởng Đại Việt.
      • Thời gian: Thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII (thời kỳ Lê - Mạc và những biến động xã hội phong kiến đương thời).
      • Nội dung: Khảo sát các di sản trước tác còn lại của ba tác gia gồm thơ văn chữ Hán, thơ văn chữ Nôm, văn bia, truyền kỳ mạn lục dưới các bình diện thế giới quan, nhân sinh quan, đạo đức và triết lý ứng xử.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan có hệ thống khối lượng lớn các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tam giáo và ba tác gia, được phân loại theo các nhóm chính:

Nhóm công trình nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu được khảo cứu Nội dung chính và góc độ tiếp cận
Nghiên cứu về từng tôn giáo riêng lẻ (Nho, Phật, Đạo) - Nho giáo: Nguyễn Thanh Bình, Quang Đạm (Nho giáo xưa và nay), Trần Đình Hượu (Nho giáo và kinh tế), Trần Trọng Kim (Nho giáo), Trần Quốc Vượng (Nho giáo và văn hóa Việt Nam), Vũ Khiêu (Nho giáo và phát triển ở Việt Nam), Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Đăng Duy, Phan Đại Doãn, Nguyễn Tài Thư (Nho học và Nho học ở Việt Nam), Minh Anh, Ngọc Anh, Nguyễn Đức Sự, Phạm Thị Loan, Lê Quốc Tuấn, Nguyễn Hoài Văn.
- Phật giáo: Trần Văn Giáp (Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XVIII, Tuệ Sỹ dịch), Thích Mật Thể (Việt Nam Phật giáo sử lược), Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo sử luận), Nguyễn Hùng Hậu (Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam), Lê Mạnh Thát (Lịch sử Phật giáo Việt Nam), Nguyễn Tất Đạt, Mai Xuân Hội, Tạ Chí Hồng, Nguyễn Minh Nhựt, Phạm Văn Sinh, Lê Hữu Tuấn, Nguyễn Đăng Thục.
Đánh giá vai trò, ảnh hưởng, giá trị và hạn chế của Nho giáo trong đường lối trị nước; khảo sát tiến trình lịch sử, sự bản địa hóa và tác động đạo đức, văn hóa tinh thần của Phật giáo đối với con người Việt Nam.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa Nho, Phật, Đạo Văn Tân, Nguyễn Duy Hinh, Trần Đình Hượu (Về xu hướng Tam giáo đồng nguyên trong Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh), Nguyễn Tài Thư (Tam giáo đồng nguyên - hiện tượng tư tưởng chung của các nước Đông Á, 1999; Thử tìm hiểu vị trí của ba đạo: Nho, Phật, Lão..., 1982), Nguyễn Công Lý (2002), Doãn Chính và Nguyễn Sinh Kế (2004), Lê Văn Quán (2004), Trần Nguyên Việt (2005, 2011), Hà Thúc Minh (2007), Lê Thị Tuyết (2009), Bùi Thanh Phương (2009), Lê Thị Lan (2006, 2010), Trần Nghĩa (2005, 2010), Hoàng Ngọc Hiến (2010), Nguyễn Tài Đông (2013), Phạm Tấn Thiên (2013), Thích Đồng Niệm (2015), Nguyễn Kim Sơn (Xu hướng hội nhập tam giáo trong tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVIII, 2004; Cơ chế kết hợp tư tưởng Tam giáo của Trịnh Tuệ..., 2016). Bàn luận về các hình thức quan hệ tam giáo: Tam giáo đồng nguyên, Tam giáo nhất thể, Tam giáo nhất trí, Tam giáo đỉnh lập, Tam giáo quy nhất, Tam giáo hòa đồng, Tam giáo hội nhập; chỉ ra quá trình tiếp biến văn hóa và sự kết hợp tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm và tư tưởng tam giáo - Thư tịch cổ: Vũ Khâm Lân (Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký, 1744), Đinh Thì Trung, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí).
- Nghiên cứu hiện đại: Dương Quảng Hàm (1943), Chu Thiên (Tuyết Giang phu tử, 1945), Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà (Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý, 1957), Đinh Gia Khánh (1983, 1997), Nguyễn Đổng Chi, Văn Tân, Nguyễn Tài Thư (1993), Bùi Văn Nguyên (Văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm, 2011), Lê Nguyễn Lưu (1999), Nguyễn Huệ Chi (1991), Nguyễn Quân (1974), Nguyễn Khuê, Phạm Đan Quế, Lương Cao Rính, Trần Thị Băng Thanh và Vũ Thanh (2001), Mai Quốc Liên (1991), Trần Đình Hượu (1986), Trần Nguyên Việt (Vấn đề tam giáo trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm), Vũ Tuấn Sán và Đinh Khắc Thuân (1990), Cao Thu Hằng, Lê Văn Tấn, Nguyễn Bá Cường, Lê Thị Hương; Kỷ yếu hội thảo khoa học các năm 1985, 1991, 2015.
Khai thác thân thế, sự nghiệp, thế giới quan lý học, nhân sinh quan, chữ "nhàn", tư duy thế sự, chữ "trung tân", bài minh bia tượng tam giáo chùa Cao Dương và sự kết hợp giữa Nho, Phật, Lão trong thơ văn chữ Hán, chữ Nôm của Bạch Vân cư sĩ.
Nghiên cứu về Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ - Về Phùng Khắc Khoan: Phạm Đình Hổ (Vũ trung tùy bút), các ghi chép lịch sử và khảo luận về tài năng ngoại giao, văn thơ thế sự, sự nghiệp kinh bang tế thế gắn liền với lý học.
- Về Nguyễn Dữ: Bùi Kỷ, Trúc Khê, Ngô Văn Triện, Trần Thị Băng Thanh (2001), Bùi Duy Tân (1999), Nguyễn Đăng Na, Vũ Thanh (1994), Nguyễn Hữu Sơn và Trần Đình Sử (1998), Thạnh Trung Giả (Hệ thống tam giáo trong Truyền kỳ mạn lục), Nguyễn Đăng Thục (Tam giáo trong Truyền kỳ mạn lục và Lâm tuyền kỳ ngộ), Lê Văn Tấn (2006, 2008), Trần Nguyên Việt (Vấn đề tam giáo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ), M. Tkachov, Nguyễn Nam, Nguyễn Phạm Hùng, Đoàn Lê Giang, Đinh Thị Khang, Phạm Tú Châu.
Phân tích giá trị tự sự, phê phán hiện thực và thế giới quan trong Truyền kỳ mạn lục; bước đầu chỉ ra các yếu tố Nho giáo (10 truyện), Phật giáo (3 truyện), Đạo giáo (3 truyện) cùng tính chất dung hợp tư tưởng phản ánh tâm thức thời đại.
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
    • Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào một tác gia riêng lẻ (chủ yếu là Nguyễn Bỉnh Khiêm), trong khi Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ chưa được khảo cứu tương xứng về phương diện triết học.
    • Các công trình thường sử dụng khái niệm "Tam giáo đồng nguyên" hoặc "Tam giáo hội nhập" mà chưa làm rõ bản chất của mối quan hệ "dung thông tam giáo" – một hình thức tiếp biến có sự chấp nhận khác biệt và bổ sung cho nhau giữa ba học thuyết.
    • Chưa có công trình nào phân tích có hệ thống sự truyền thừa, kế thừa và phát triển tư tưởng dung thông tam giáo trong mối quan hệ giữa người thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm và các học trò Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ tại thế kỷ XVI.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích:
    • Cơ sở phương pháp luận: Dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng các quan điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin về lịch sử triết học và lịch sử triết học phương Đông.
    • Khái niệm "Tam giáo": Dùng để chỉ ba học thuyết Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, đại diện cho các giá trị về mặt luận thuyết, thế giới quan và chuẩn mực đạo đức.
    • Khái niệm "Dung thông tam giáo": Luận án xác định "dung" là dung hợp, "thông" là thông hiểu, thông suốt và chấp nhận nhau để trở thành phương tiện hoạt động của đời sống xã hội. Khác với "đồng nguyên" (vốn coi ba giáo cùng một gốc xuất phát), dung thông là sự chấp nhận nhau thành một thể thống nhất dựa trên sự tương đồng về đạo đức, tín ngưỡng, phương châm sống (như tinh thần "diệt chủng" của Phật giáo và "quả dục" của Đạo giáo; đạo lý nhân nghĩa Nho gia kết hợp với sự thanh tịnh, vô vi). Dung thông vừa là phương pháp, vừa là mục đích ứng xử tư tưởng trước biến động lịch sử.
    • Khung phân tích triết học: Triển khai nghiên cứu sự dung thông tam giáo trên hai bình diện nền tảng: Thế giới quan (quan niệm về đạo trời, đạo người) và Nhân sinh quan (nguyên tắc ứng xử, đạo làm người, triết lý nhàn dật).
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án thuộc thể loại nghiên cứu định tính trong lĩnh vực lịch sử triết học, sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử để tái hiện tiến trình phát triển và diện mạo tư tưởng thế kỷ XVI.
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản tư liệu Hán Nôm.
    • Phương pháp so sánh, đối chiếu quan điểm giữa các tác gia để làm rõ tính kế thừa và nét riêng biệt của từng đại biểu.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu:
    • Nguồn tư liệu gốc từ các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Bạch Vân am thi tập (chữ Hán), Bạch Vân quốc ngữ thi tập (chữ Nôm), bài văn bia quán Trung Tân (Trung Tân quán bi ký, 1542), bài minh bia tạc tượng tam giáo chùa Cao Dương (huyện Thụy Anh, Thái Bình).
    • Trước tác, thơ văn, thư từ ngoại giao và ghi chép hành trạng của Phùng Khắc Khoan.
    • Tác phẩm văn xuôi tự sự chữ Hán Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (gồm 20 truyện, 4 quyển).
    • Các bộ cổ thư, chính sử và tuyển tập: Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Kiến văn tiểu lục, Toàn Việt thi lục (Lê Quý Đôn), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký (Vũ Khâm Lân).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Chương 1 thực hiện việc phân loại, tổng thuật và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu về tam giáo và ba tác gia Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ:

  • Điểm lại các công trình nghiên cứu về từng tôn giáo riêng biệt và mối quan hệ tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thời Bắc thuộc, Lý - Trần, Lê Sơ đến thế kỷ XVIII.
  • Khảo cứu các công trình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp và di sản tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ; ghi nhận những đánh giá lịch sử từ thời trung đại (Lê Quý Đôn, Vũ Khâm Lân, Phan Huy Chú, Phạm Đình Hổ) đến các nghiên cứu hiện đại.
  • Khái quát thành tựu và hạn chế của các công trình đi trước, từ đó xác lập tính cấp thiết của việc nghiên cứu tư tưởng dung thông tam giáo ở ba tác gia như một chỉnh thể kế thừa tri thức thầy trò thế kỷ XVI.

Chương 2: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG TAM GIÁO CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM, PHÙNG KHẮC KHOAN VÀ NGUYỄN DỮ

Chương 2 luận giải các tiền đề lý luận và thực tiễn dẫn đến sự hình thành tư tưởng dung thông tam giáo:

  • Làm rõ khái niệm "tam giáo" và "dung thông tam giáo", phân tích bản chất của dung thông là sự chấp nhận khác biệt ("cầu đồng tồn dị"), hướng đến sự bổ sung lẫn nhau giữa Nho, Phật, Đạo trên các phương diện đạo đức, tín ngưỡng và nhân sinh.
  • Phân tích bối cảnh lịch sử Đại Việt thế kỷ XVI: Sự khủng hoảng của mô hình quân chủ Nho giáo thời Lê Sơ, chiến tranh cát cứ Lê - Mạc, Nam - Bắc triều làm xáo trộn đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, khiến vị thế độc tôn của Nho giáo bị rạn nứt, mở đường cho Phật giáo và Đạo giáo phục hồi trong đời sống xã hội.
  • Phân tích tiền đề tư tưởng: Quá trình du nhập của tam giáo vào Việt Nam từ đầu Công nguyên và truyền thống dung hợp tam giáo qua các thời kỳ Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ; chỉ ra rằng môi trường địa lý - nhân văn mềm mại, cởi mở của người Việt là mảnh đất thuận lợi cho sự tiếp biến và dung thông tam giáo.

Chương 3: NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG TAM GIÁO CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM, PHÙNG KHẮC KHOAN VÀ NGUYỄN DỮ

Chương 3 là chương trọng tâm của luận án, tập trung trình bày thân thế, sự nghiệp cùng các nội dung và đặc điểm triết học của tư tưởng dung thông tam giáo ở ba tác gia:

  • Thân thế và sự nghiệp: Khái quát cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585, Trạng nguyên triều Mạc, nhà giáo dục đào tạo nhiều nhân tài tại am Bạch Vân), Phùng Khắc Khoan (1528-1613, danh sĩ, nhà ngoại giao thời Lê Trung Hưng) và Nguyễn Dữ (danh sĩ thời Lê - Mạc, tác giả Truyền kỳ mạn lục).
  • Thế giới quan dung thông tam giáo:
    • Quan niệm về "đạo trời": Giải thích quy luật tự nhiên và tạo hóa dựa trên cơ sở Lý học Nho gia kết hợp với khái niệm hư vô, tự nhiên của Đạo gia và luật nhân quả của Phật giáo.
    • Quan niệm về "đạo người": Nhìn nhận con người trong tính toàn vẹn, kết hợp nghĩa vụ rèn luyện đức hạnh, trung hiếu, nhân nghĩa của Nho giáo với lòng từ bi, hướng thiện của Phật giáo và lối sống thuận theo tự nhiên của Đạo giáo.
  • Nhân sinh quan dung thông tam giáo:
    • Nguyên tắc ứng xử của đạo làm người: Đề cao các phạm trù "nhân", "nhẫn", "tâm", "trung tân" (trong văn bia Quán Trung Tân), khuyến khích con người giữ tâm thiện, sống thanh cao, kiên định phẩm giá giữa hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương.
    • Triết lý nhàn dật: Xem chữ "nhàn" không phải là sự buông xuôi, tiêu cực hay trốn tránh trách nhiệm, mà là trạng thái tự do nội tâm, hòa mình vào thiên nhiên thôn dã ("vô sự", gần gũi nhân dân) nhưng vẫn nặng lòng lo cho nước, thương cho dân ("ưu thời mẫn thế").
  • Một số đặc điểm chủ yếu:
    • Tư tưởng dung thông tam giáo là sự phản ánh nhu cầu lịch sử nhằm giải tỏa khủng hoảng tinh thần xã hội thế kỷ XVI.
    • Tư tưởng của Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ thể hiện rõ nét sự kế thừa và phát triển từ Nguyễn Bỉnh Khiêm: Phùng Khắc Khoan vận dụng linh hoạt vào thực tiễn kinh bang tế thế và hoạt động bang giao; Nguyễn Dữ phản ánh qua hình tượng văn học kỳ ảo mang tính thế sự sâu sắc trong Truyền kỳ mạn lục.

Chương 4: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CHỦ YẾU TRONG TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG TAM GIÁO CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM, PHÙNG KHẮC KHOAN, NGUYỄN DỮ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

Chương 4 đánh giá toàn diện về mặt lịch sử và lý luận:

  • Giá trị chủ yếu: Cung cấp chỗ dựa tinh thần cho tầng lớp trí thức và nhân dân khi ý thức hệ phong kiến độc tôn suy yếu; đề cao chủ nghĩa nhân văn, tinh thần khoan dung tôn giáo; củng cố các chuẩn mực đạo đức xã hội và góp phần duy trì bản sắc văn hóa dân tộc.
  • Hạn chế chủ yếu: Mang tính chất chiết trung tư tưởng, chưa xây dựng được một hệ thống triết học hoàn chỉnh; phản ánh sự dao động, bế tắc và thái độ bất lực của tầng lớp nho sĩ trước các quy luật vận động của lịch sử phong kiến.
  • Ý nghĩa lịch sử: Đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong tiến trình tư tưởng Việt Nam thời trung đại, mở đường cho các xu hướng hội nhập, tổng hợp tam giáo sâu rộng hơn ở thế kỷ XVII và XVIII (như tư tưởng của Trịnh Tuệ, Ngô Thì Nhậm).

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về mặt khoa học theo tự nêu của luận án:
    • Luận án đã phân tích các mối quan hệ tam giáo (Nho, Phật, Đạo) trước thế kỷ XVI, trên cơ sở đó đưa ra nhận định về những đặc điểm của các mối quan hệ tam giáo mang tính dung thông trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ. Quan điểm về dung thông của tam giáo được thể hiện trong tư tưởng của họ bị quy định bởi các yếu tố thời đại và ảnh hưởng của sự phát triển tư tưởng triết học, chính trị - xã hội phương Đông đương thời.
    • Luận án bước đầu làm rõ được những giá trị cũng như hạn chế và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng dung thông tam giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ; xây dựng sơ bộ bức tranh tư tưởng và giúp người đọc có cách nhìn toàn diện hơn về tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ nói riêng và lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVI nói chung.
  • Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
    • Đề xuất vận dụng kết quả nghiên cứu vào công tác giảng dạy, học tập chuyên ngành Lịch sử triết học Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Việt Nam và Tôn giáo học.
    • Khuyến nghị khai thác tinh thần khoan dung, hòa hợp tư tưởng của truyền thống tam giáo dung thông để xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần và chính sách tôn giáo đoàn kết trong giai đoạn hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do nguồn tư liệu văn bản Hán Nôm thời kỳ thế kỷ XVI còn tản mát và chịu sự thất lạc qua thời gian, luận án chủ yếu tập trung phân tích tư tưởng dung thông tam giáo qua các tác phẩm văn bản học còn lại của ba tác gia đại biểu (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ), chưa thể bao quát hết toàn bộ các tác gia và dòng tư tưởng khác cùng thời kỳ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh mối quan hệ dung thông tam giáo thế kỷ XVI với các trào lưu tư tưởng tam giáo ở các thế kỷ tiếp theo (thế kỷ XVII - XVIII), đồng thời khảo sát sâu hơn biểu hiện của tư tưởng dung thông tam giáo trong tín ngưỡng dân gian và đời sống xã hội làng xã Việt Nam thời trung đại.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Triết học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tôn giáo học, Văn học trung đại và Hán Nôm học.
  • Nội dung giá trị tham khảo:
    • Hệ thống hóa tư liệu và làm rõ nội hàm khái niệm "dung thông tam giáo" trong lịch sử tư tưởng dân tộc.
    • Cung cấp các phân tích văn bản học chi tiết về thế giới quan, nhân sinh quan, quan niệm "đạo trời - đạo người" và triết lý nhàn dật trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "dung thông tam giáo" trong luận án được định nghĩa như thế nào và có gì khác với "tam giáo đồng nguyên"?

  • Trả lời: Theo tác giả luận án, "dung" là dung hợp, "thông" là thông hiểu nhau, thông suốt với nhau và chấp nhận nhau để trở thành phương tiện hoạt động của đời sống xã hội. "Tam giáo đồng nguyên" vốn nhấn mạnh ba giáo cùng một gốc xuất phát (thường khó lý giải vì ba học thuyết có nguồn gốc và chức năng khác nhau). Ngược lại, "dung thông" thể hiện sự chấp nhận những nét khác biệt ("cầu đồng tồn dị"), hướng đến việc bổ sung cho nhau trên các bình diện đạo đức, tín ngưỡng và nhân sinh (như tinh thần "diệt chủng" của Phật giáo kết hợp với "quả dục" của Đạo giáo và đạo lý "nhân nghĩa" của Nho giáo).

2. Bối cảnh lịch sử Đại Việt thế kỷ XVI đã tác động như thế nào đến sự xuất hiện của tư tưởng dung thông tam giáo?

  • Trả lời: Thế kỷ XVI chứng kiến sự suy yếu của triều đình nhà Lê Sơ, dẫn đến các cuộc nội chiến, tranh chấp quyền lực và tình trạng cát cứ giữa các tập đoàn phong kiến Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn. Hệ tư tưởng Nho giáo Khổng - Mạnh độc tôn thời Lê Sơ bộc lộ khủng hoảng, không còn đủ sức duy trì trật tự và giải tỏa bế tắc tinh thần xã hội. Hoàn cảnh đó thúc đẩy các nhà nho tìm đến Phật giáo và Đạo giáo để bổ sung cho thế giới quan và nhân sinh quan, tạo nên xu hướng dung thông tam giáo.

3. Tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện như thế nào qua văn bia chùa Cao Dương và Quán Trung Tân?

  • Trả lời: Trong Bài minh về tượng tam giáo ở chùa Cao Dương, Nguyễn Bỉnh Khiêm khẳng định: Đạo Phật gốc ở chỗ làm sáng sắc tướng và tâm, biện biệt nhân quả; Đạo Lão gốc ở chuyên khí đạt đến cùng của nhu, giữ bản chân; Đạo Nho gốc ở nhân nghĩa, đạo đức, đức hạnh, trung tín – cả ba đều là đạo noi theo tính để tu đạo. Trong văn bia Quán Trung Tân (Trung Tân quán bi ký, 1542), ông trình bày quan điểm "Trung Tân" như một tuyên ngôn khuyến thiện, lấy chữ "Trung" và chữ "Tân" để định hướng con người giữ lòng ngay thẳng, hướng thiện và hòa hợp các giá trị đạo đức tam giáo.

4. Tác phẩm "Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ phản ánh sự dung thông Nho, Phật, Đạo ra sao?

  • Trả lời: Qua khảo cứu của luận án, trong 20 truyện ngắn của Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đã kết hợp các yếu tố của ba tôn giáo: có 10 truyện nổi bật tinh thần Nho giáo (tiêu biểu như Truyện tướng Dạ Xoa ca ngợi tiết nghĩa, chính danh); 3 truyện mang đậm dấu ấn triết lý Phật giáo (nhân quả, nghiệp báo); 3 truyện thấm nhuần tư tưởng Lão - Trang (thoát tục, tiên giới); cùng các truyện dung hòa đạo lý thế sự. Tác phẩm thể hiện sự dao động của tư tưởng nhà nho trước hiện thực xã hội và khuynh hướng thâu hóa Phật, Đạo để làm sáng tỏ đạo lý nhân sinh.

5. Mối quan hệ truyền thừa tư tưởng giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm với Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ có đặc điểm gì?

  • Trả lời: Mối quan hệ giữa ba tác gia là quan hệ thầy - trò trực tiếp bên bờ Tuyết Giang. Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ đã kế thừa cốt lõi tư tưởng dung thông tam giáo từ Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế giới quan Lý học kết hợp lẽ biến dịch, nhân sinh quan coi trọng chữ "nhân", chữ "tâm" và sự ứng xử linh hoạt). Sự phát triển riêng thể hiện ở chỗ: Phùng Khắc Khoan vận dụng tư tưởng dung thông vào đường lối chính trị thực tiễn, ngoại giao và trị quốc; trong khi Nguyễn Dữ phát triển tư tưởng đó sang lĩnh vực sáng tác văn xuôi tự sự kỳ ảo nhằm phê phán hiện thực và khẳng định phẩm giá con người.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Phú Dưỡng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt triết học đối với tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của ba đại biểu tiêu biểu thế kỷ XVI: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ. Tác giả đã xác lập cơ sở lý luận cho khái niệm "dung thông tam giáo", phân tích toàn diện thế giới quan và nhân sinh quan của ba tác gia trong bối cảnh khủng hoảng ý thức hệ thời Lê - Mạc. Công trình đã làm rõ tính truyền thừa tư tưởng thầy trò, chỉ ra những giá trị nhân văn, hạn chế lịch sử cùng ý nghĩa của khuynh hướng dung thông tam giáo trong tiến trình phát triển tư tưởng Việt Nam thời trung đại.