Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học “Tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam” do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Việt Hương thực hiện tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đinh Ngọc Vượng và TS. Thái Vĩnh Thắng, bảo vệ năm 2001, thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp luật (mã số 5.01.01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 1999 được tác giả dẫn chứng, Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp với 76% dân cư là nông dân sinh sống tại nông thôn theo đơn vị tụ cư cơ bản là làng xã. Làng xã cổ truyền lưu giữ các lệ tục và nếp sống bền vững qua nhiều biến cố lịch sử; ngay cả các tầng lớp công nhân hay trí thức phần lớn cũng xuất thân gần từ nông dân và mang dấu ấn nếp sống làng quê.
Trong lịch sử, đời sống chính trị - pháp lý Việt Nam tồn tại đặc thù: trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, dù cách thức tổ chức quyền lực trung ương mang tính độc đoán dựa trên trật tự chỉ huy và phục tùng nghiêm ngặt, làng xã vẫn duy trì vị thế độc lập tương đối với chính quyền nhà nước cấp trên. Giữa nhà nước trung ương và làng xã luôn tồn tại một "độ vênh" giữa "cái chính thống" và "cái phi chính thống". Nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp áp đặt của nhà nước trung ương không vào được làng xã, hoặc khi vào đến làng xã đều phải chịu sự "khúc xạ" hay "thẩm thấu".
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Trước đây, các học giả thường xem thượng tầng chính trị và tư tưởng chính trị - pháp lý thời kỳ phong kiến - thực dân là yếu tố thuần túy cần xóa bỏ, hoặc chỉ nghiên cứu lồng ghép tản mạn trong lịch sử tư tưởng chung và các nhân vật cá biệt. Hoàn toàn chưa có một công trình chuyên khảo nào trực tiếp, có hệ thống lấy tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền làm đối tượng nghiên cứu trung tâm để giải mã hành vi chính trị - pháp lý của người nông dân và cấu trúc quyền lực xã hội truyền thống.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản:
- Tìm hiểu bối cảnh lịch sử, cơ sở kinh tế - xã hội hay là những tác nhân trực tiếp của tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền Việt Nam.
- Dựng lại đặc điểm, các bộ phận cấu thành, nội dung và những biểu hiện cụ thể của tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền, chỉ ra những tác động, ảnh hưởng của nó đối với làng xã, với người nông dân và với đời sống chính trị - pháp lý của đất nước.
- Đưa ra một số ý kiến về việc kế thừa và phát huy những giá trị tích cực, hạn chế và khắc phục những tàn dư tiêu cực của tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền đáp ứng những đòi hỏi của quá trình thống nhất nhận thức, phát huy dân chủ, lành mạnh hóa các quan hệ chính trị - pháp lý, nâng cao vai trò của Nhà nước và pháp luật, góp phần xây dựng nông thôn mới trong điều kiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa hiện nay.
- Từ kết quả của những mục đích trên, luận án góp thêm cơ sở cho việc nghiên cứu tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền; đồng thời, xây dựng hướng tiếp cận cho lĩnh vực nghiên cứu này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những quan niệm ở làng xã về quyền lực, quyền lực nhà nước và pháp luật (tập trung vào cách thức tổ chức, thực hiện quyền lực; vai trò, giá trị và phạm vi điều chỉnh của pháp luật trong tương quan với các công cụ điều chỉnh xã hội khác như hương ước, lệ tục, dư luận cộng đồng).
- Phạm vi không gian: Tập trung vào các làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ – cái nôi phát tích và là nơi thể hiện đậm đặc, điển hình nhất những đặc trưng cấu trúc kinh tế - xã hội, văn hóa của làng Việt cổ truyền.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát làng xã người Việt từ cội nguồn lịch sử trước khi hình thành Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời điểm làng xã còn bảo lưu cấu trúc tế bào xã hội truyền thống phương Đông trước khi các chính sách cải cách dân chủ nhân dân làm biến đổi toàn diện.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đi trước thành ba nhóm tư liệu chính:
Nhóm 1: Nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam
Điểm lại các công trình tiêu biểu như: Sự phát triển của hệ tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám (Tập I - 1973, Tập II - 1975) của Trần Văn Giàu; Lịch sử tư tưởng Việt Nam (Tập I - 1993) và Nho giáo tại Việt Nam (1994) của Viện Triết học; Nho giáo xưa và nay (1995) của Vũ Khiêu; chuyên đề Lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam trong giáo trình Chính trị học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1998); Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam do Phan Đại Doãn chủ biên (1999); bài viết Hệ tư tưởng Nguyễn của Nguyễn Duy Hinh (1989); Tìm hiểu tư tưởng dân chủ nông dân thông qua phong trào đấu tranh của nông dân Việt Nam thời trung đại của Võ Xuân Đàn (1998); Sự tiếp nhận các giá trị pháp lý phương Đông và phương Tây đối với sự phát triển của các tư tưởng pháp lý Việt Nam của Đào Trí Úc và Lê Minh Thông (1999); luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Hòa Hới về tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh (1996); luận văn thạc sĩ của Đặng Thanh Xuân về tư tưởng lập hiến trước Hiến pháp 1946 (1996).
Nhóm 2: Nghiên cứu về làng xã và văn hóa nông thôn
Gồm các công trình: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (Tập I - 1977, Tập II - 1978) và Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại (Tập I - 1990, Tập II - 1991) của Viện Sử học; Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ của Trần Từ (1984); Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (1990); Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế - xã hội của Phan Đại Doãn (1992); Tâm lý cộng đồng làng và di sản của Đỗ Long và Trịnh Thiệp (1995); Lệ làng phép nước (1985), Hương ước và quản lý làng xã (1998), bài viết về "lão quyền" (1983) của Bùi Xuân Đính; Về hương ước lệ làng của Lê Đức Tiết (1998); Tập quán quản lý và phân phối ruộng đất của làng xã và các chính sách ruộng đất trong lịch sử Việt Nam của Vũ Minh Giang (1993); “Dân chủ” làng xã - những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu của Nguyễn Đăng Dung (1998).
Nhóm 3: Nghiên cứu về lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Gồm đề tài cấp Nhà nước KX.05-03 về Lịch sử và hiện trạng hệ thống chính trị ở Việt Nam; công trình Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XV - XVIII của Insun Yu (1994); Nghiên cứu về hệ thống pháp luật Việt Nam thế kỷ 15 - thế kỷ 18 của Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hòa (1994); Mấy vấn đề về quản lý Nhà nước và củng cố pháp quyền trong lịch sử của nhóm tác giả Nguyễn Phan Quang, Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa... (1995); Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh của Nguyễn Minh Tường (1996); Văn hóa chính trị Việt Nam - truyền thống và hiện đại của Nguyễn Hồng Phong (1997); các bài nghiên cứu trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử và Tạp chí Nhà nước và Pháp luật của Văn Tạo (1991), Nguyễn Tài Thư (1993), Phạm Điềm (1993), Vũ Minh Giang (1993), Nguyễn Danh Phiệt (1993).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả nhận định: Các công trình nêu trên đã đặt nền móng tư liệu nhưng tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền chưa được xem là đối tượng độc lập. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở lịch sử thiết chế, dân tộc học hoặc hệ tư tưởng Nho giáo của tầng lớp thống trị. Luận án chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách dựng lại toàn diện diện mạo, kết cấu nội sinh - ngoại sinh và tác động hai mặt của tư tưởng chính trị - pháp lý cấp cơ sở làng xã.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm trung tâm
- Cơ sở lý luận nền tảng: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật.
- Khái niệm "Tư tưởng chính trị - pháp lý": Luận án định nghĩa đây là tổng thể những quan niệm của con người về quyền lực, quyền lực nhà nước và pháp luật, thể hiện cách thức giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng; hình thành do nhận thức về môi trường xã hội và thể hiện qua học thuyết, các thiết chế thực tế hoặc các khuôn mẫu ứng xử thực tiễn.
- Phân định bộ phận tư tưởng: Luận án chia tư tưởng chính trị - pháp lý thành hai bộ phận:
- Chính thống: Hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền (tiêu biểu là Nho giáo), mang tính hệ thống, lý luận, được nhà nước truyền bá và bảo vệ bằng thiết chế công quyền.
- Phi chính thống: Tư tưởng của quần chúng lao động làng xã, nảy sinh từ đời sống cộng cư, ít mang tính lý luận trừu tượng nhưng thể hiện sống động qua tục lệ, hương ước, ca dao, tập quán ứng xử.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận chung: Nguyên tắc lịch sử - cụ thể, phương pháp tiếp cận hệ thống và phân tích biện chứng mối liên hệ giữa cơ sở hạ tầng kinh tế làng xã và kiến trúc thượng tầng chính trị - pháp lý.
- Phương pháp chuyên ngành và liên ngành: Phương pháp phân tích - tổng hợp văn bản quy phạm và tư liệu lịch sử, quy nạp - diễn dịch, luật học so sánh (so sánh cổ luật Việt Nam như bộ luật Hồng Đức, bộ luật Gia Long, Quốc triều Khám tụng điều lệ với cổ luật Trung Hoa), cùng các phương pháp xã hội học lịch sử, dân tộc học và khảo sát điền dã.
Nguồn tư liệu và dữ liệu thực tế
- Khảo sát 3.646 bản hương ước cải lương vùng đồng bằng Bắc Bộ lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội.
- Tư liệu thần tích, thần phả, địa bạ, văn bia đình làng.
- Khảo sát thực tế cơ cấu làng xã tại 7 huyện thuộc châu thổ Bắc Bộ: Hoài Đức, Đan Phượng, Quốc Oai, Thạch Thất (tỉnh Hà Tây cũ); Thanh Trì, Gia Lâm (Hà Nội); Tiên Sơn (Bắc Ninh).
- Dữ liệu địa lý hành chính 11 huyện xứ Kinh Bắc từ công trình của nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huyên.
- Các văn bản pháp luật cổ: Bộ luật Hồng Đức (thế kỷ XV), Bộ luật Gia Long (thế kỷ XIX), Quốc triều Khám tụng điều lệ (thời Lê).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền: nhận diện từ khía cạnh lịch sử
Chương 1 làm rõ các tiền đề lịch sử, kinh tế, xã hội quy định sự hình thành tư tưởng chính trị - pháp lý làng xã:
- Khái niệm và cấu trúc tư tưởng: Luận giải sự khác biệt giữa tâm lý xã hội (tự phát, cảm tính) và tư tưởng (khái quát hóa nhận thức). Ở làng xã cổ truyền không tồn tại một "hệ tư tưởng" lý luận thành văn độc lập mà tồn tại các quan niệm chính trị - pháp lý gắn liền với thực tiễn trị an và tự quản.
- Quy luật kết hợp nội sinh - ngoại sinh: Lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý Việt Nam tiếp nhận các học thuyết ngoại sinh (Nho giáo, pháp luật phong kiến Trung Hoa, tư tưởng tư sản phương Tây, chủ nghĩa Mác - Lênin). Khi thâm nhập vào Việt Nam, các yếu tố này đều trải qua quá trình "khúc xạ", "Việt Nam hóa" và đặc biệt là "làng xã hóa" để dung hợp với nền tảng nội sinh (tính cộng đồng, truyền thống tự quản, khoan dân, nhân nghĩa). Minh chứng rõ nét là cổ luật Việt Nam (bộ luật Hồng Đức) vừa tiếp thu mô hình Trung Hoa (Ngũ hình, Thập ác, Bát nghị) vừa bảo lưu tính đặc thù bản địa: bảo vệ quyền lợi kinh tế của phụ nữ, phân định luật nội dung và luật thủ tục, và ban hành riêng bộ luật tố tụng Quốc triều Khám tụng điều lệ.
- Đặc điểm kinh tế - xã hội làng xã cổ truyền:
- Kết cấu hành chính "nhất xã nhất thôn": Tác giả chứng minh phần lớn làng ở đồng bằng Bắc Bộ đồng thời là một xã hành chính, tạo nên sự đồng nhất giữa đơn vị tụ cư tự nhiên và đơn vị hành chính cơ sở.
| Quy mô kết cấu xã tại 11 huyện Kinh Bắc |
Tỷ lệ phần trăm (%) |
| Nhất xã nhất thôn (xã gồm 1 làng) |
74,18% |
| Nhất xã nhị thôn (xã gồm 2 làng) |
14,00% |
| Nhất xã tam thôn (xã gồm 3 làng) |
8,10% |
| Xã từ 4 thôn/làng trở lên |
5,72% |
- Tính chất công xã nông thôn và kinh tế tiểu nông: Lãnh thổ cư trú ổn định; kinh tế mang nặng tính tự cấp tự túc ("tự đủ tự sinh"). Chế độ sở hữu đất đai mang tính nhị nguyên: đan xen giữa sở hữu tối cao của nhà nước/sở hữu chung của làng xã và sở hữu tư nhân tiểu nông phân tán. Ruộng đất công chiếm khoảng 25% diện tích canh tác đồng bằng Bắc Bộ trước Cải cách ruộng đất (1955 - 1957), phục vụ chủ yếu cho việc công dịch hành chính và tế tự thần làng.
- Phân hóa giai cấp không triệt để: Ranh giới giữa 5 thành phần (Địa chủ - Bần nông, Phú nông - Cố nông, Trung nông) không sâu sắc, có sự nương tựa lẫn nhau trong sinh hoạt cộng đồng.
- Quá trình hành chính hóa và phong kiến hóa làng xã qua các thời kỳ lịch sử:
| Thời kỳ / Triều đại |
Quy định hành chính và chức danh quản lý làng xã |
| Thời thuộc Đường (Năm 621) |
An Nam đại tổng quản Khâu Hoa đặt Hương và Xã: Tiểu hương (70-150 hộ), Đại hương (160-540 hộ); Tiểu xã (10 đến dưới 40 hộ), Đại xã (40-60 hộ). |
| Đầu thế kỷ X (Họ Khúc) |
Đặt Chánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởng quản lý xã theo chủ trương bình quân thuế ruộng, bãi bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu. |
| Thời Lý (1009 - 1225) |
Lập cấp Thôn theo mô hình Tống; quy định 3 nhà lập thành 1 bảo để tương trợ và kiểm soát an ninh. |
| Thời Trần |
Cử quan lại quản lý xã: Đại tư xã (quan từ ngũ phẩm trở lên), Tiểu tư xã (lục phẩm trở xuống) cùng Xã chính, Xã sử, Xã giám quản lý hộ tịch, thuế khóa. |
| Thời Lê Thái Tổ (Năm 1428) |
Phân cấp xã theo số đinh: Xã nhỏ (10-49 đinh) cử 1 xã quan; Xã vừa (80-99 đinh) cử 2 xã quan; Xã lớn (từ 100 đinh trở lên) cử 3 xã quan. |
| Thời Lê Thánh Tông (Năm 1466, 1483, 1488, 1496) |
Năm 1466: Đổi Xã quan thành Xã trưởng do dân làng trực tiếp bầu. Năm 1483: Quy định tiêu chuẩn (lương gia đệ tử từ 30 tuổi, biết chữ, có hạnh kiểm) và định mức (xã >500 hộ đặt 5 xã trưởng; 300-500 hộ đặt 4; 100-300 hộ đặt 2; <100 hộ đặt 1). Năm 1488, 1496: Cấm anh em ruột, chú bác, cô cậu, thông gia cùng làm xã trưởng trong một xã. |
Chương 2: Nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền
Chương này phân tích các trụ cột tư tưởng cốt lõi chi phối đời sống làng xã:
- Tư tưởng tự quản, tự trị làng xã: Xuất phát từ nhu cầu liên kết chống thiên tai, trị thủy và tự vệ, làng xã hình thành cơ chế tự quản hoàn chỉnh. Bộ máy quản lý gồm hai nhánh: Hội đồng kỳ mục (đại diện cho lệ làng, duy trì tục lệ và trật tự nội bộ) và bộ máy chức dịch đứng đầu là Lý trưởng (đại diện cho nhà nước thực hiện nghĩa vụ thuế, lao dịch, binh dịch). Tinh thần tự trị thể hiện qua hệ thống hương ước (khoán ước), bảo vệ quyền lợi cục bộ của dân làng trước sự can thiệp từ bên ngoài.
- Tư tưởng "Phép vua thua lệ làng": Luận án giải thích đây không phải sự phủ định quyền lực nhà nước hay thái độ phản loạn vô chính phủ, mà là biểu hiện của ranh giới quyền lực: nhà nước quản lý làng xã về mặt tổng thể (thuế đinh, thuế điền, lính tráng), còn các quan hệ nội bộ cụ thể (phân chia ruộng công, trật tự ngôi thứ, cưới xin, ma chay, phạt vạ) do lệ làng chi phối. Lệ làng là sự cụ thể hóa, bổ sung hoặc "khúc xạ" pháp luật của triều đình cho phù hợp với tập quán địa phương.
- Tư tưởng coi trọng đạo đức, thuần phong mỹ tục, lão quyền và tộc quyền: Làng xã quản lý bằng dư luận xã hội, đạo lý và danh dự nhiều hơn bằng sự cưỡng chế thuần túy. "Lão quyền" (tôn trọng người cao tuổi, bậc cao niên trong hội đồng kỳ mục) và "tộc quyền" (quyền lực của trưởng họ, gia tộc) giữ vai trò then chốt trong việc hòa giải tranh chấp và duy trì luân thường đạo lý, hòa quyện với các chuẩn mực Nho giáo được bình dân hóa.
Chương 3: Các chiều tác động của tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền đối với xã hội Việt Nam
Chương 3 luận giải các tác động lịch sử và kiến nghị giải pháp cho thời kỳ đổi mới:
- Tác động trong xã hội truyền thống:
- Mặt tích cực: Cố kết cộng đồng vững chắc, tạo sức mạnh đề kháng chống lại các âm mưu đồng hóa văn hóa của phong kiến ngoại bang; duy trì trật tự trị an cơ sở mà không đòi hỏi bộ máy nhà nước trung ương quá cồng kềnh; phát huy tinh thần tương thân tương ái, tương trợ sản xuất.
- Mặt tiêu cực: Tạo tâm lý cục bộ, tư tưởng bè phái ("trống làng nào làng nấy đánh, thánh làng nào làng nấy thờ"), bảo thủ, trì trệ, kìm hãm tự do cá nhân; tạo nên sức cản đối với việc thực thi pháp luật thống nhất của quốc gia.
- Thực trạng tác động trong xã hội đương đại:
- Tàn dư tâm lý làng xã dẫn đến thói quen nể nang, coi trọng "tình" hơn "lý", tùy tiện vi phạm pháp luật, óc cục bộ địa phương, hiện tượng dòng họ chi phối chính quyền cơ sở, cản trở việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Mặt tích cực như tinh thần đoàn kết thôn xóm, ý thức tự quản trong việc giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư vẫn là nguồn lực xã hội quan trọng.
- Phương hướng và giải pháp:
- Thống nhất nhận thức lý luận: Xác định rõ mối quan hệ tương tác giữa pháp luật nhà nước và hương ước/quy ước làng xã; bảo đảm nguyên tắc tối thượng của Hiến pháp và pháp luật nhưng không triệt tiêu tính tự quản lành mạnh của cộng đồng.
- Xây dựng và hoàn thiện hương ước, quy ước thôn văn hóa mới: Tiến hành rà soát, chuẩn hóa các bản quy ước làng xã; kiên quyết loại bỏ các hủ tục, lệ tục trái pháp luật; chỉ đưa vào hương ước mới các quy phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và biện pháp tự quản văn minh.
- Tăng cường pháp chế và phát huy dân chủ cơ sở: Đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; nâng cao năng lực của cán bộ hành chính cấp xã/thôn; tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật phù hợp với tâm lý tiếp nhận của cư dân nông thôn; đổi mới quản lý kinh tế - xã hội nông thôn gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp khoa học mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Hệ thống hóa nguồn tài liệu: Tổng hợp và xử lý khối lượng tư liệu lịch sử, pháp lý, hương ước và số liệu khảo sát thực địa phong phú liên quan đến tư tưởng chính trị - pháp lý làng xã cổ truyền của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ.
- Khẳng định sự tồn tại và dựng lại diện mạo tư tưởng: Luận giải một cách khoa học về sự hiện diện khách quan của tư tưởng chính trị - pháp lý phi chính thống ở làng xã, làm rõ cấu trúc nội dung (tự quản, phép vua thua lệ làng, lão quyền, tộc quyền) và cơ chế vận hành của nó trong mối tương tác với quyền lực nhà nước trung ương.
- Làm rõ tính hai mặt của di sản tư tưởng: Phân tích toàn diện cả giá trị tích cực (cố kết cộng đồng, bảo vệ bản sắc văn hóa) lẫn mặt tiêu cực (cục bộ, địa phương chủ nghĩa, bảo thủ, xem nhẹ pháp luật).
- Cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách: Đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp thực tiễn nhằm kết hợp hài hòa giữa quản lý bằng pháp luật với phát huy vai trò tự quản của hương ước mới, phục vụ công cuộc xây dựng nông thôn mới và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn địa bàn khảo sát trọng tâm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, chưa mở rộng so sánh sâu rộng với cấu trúc làng xã Trung Bộ, Nam Bộ (nơi có điều kiện lịch sử khai phá và tính chất sở hữu ruộng đất khác biệt) hoặc các buôn, bản, plơi của đồng bào các dân tộc thiểu số; phạm vi thời gian cổ truyền tập trung trước năm 1945.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng về văn hóa chính trị - pháp lý nông thôn (Bắc Bộ - Trung Bộ - Nam Bộ); theo dõi và đánh giá sâu hơn sự chuyển hóa của các quy ước thôn/làng trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng và xây dựng nông thôn mới hiện nay.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu chuyên khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, Lịch sử Việt Nam, Xã hội học pháp luật, Dân tộc học và Văn hóa học.
- Đối với cán bộ quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ lịch sử - pháp lý thực tiễn cho các cơ quan làm công tác tư pháp, nội vụ, quản lý văn hóa cơ sở trong việc chỉ đạo soạn thảo, thẩm định hương ước, quy ước thôn làng, thực hiện Quy chế dân chủ ở xã/phường/thị trấn và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "Tư tưởng chính trị - pháp lý" trong luận án được hiểu như thế nào?
Theo luận án, tư tưởng chính trị - pháp lý là hệ thống những quan niệm của con người về quyền lực, quyền lực nhà nước và pháp luật, thể hiện cách thức giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, nhóm xã hội và dân tộc; được hình thành từ nhận thức thực tiễn và tồn tại dưới dạng học thuyết lý luận chính thống hoặc các quan niệm, khuôn mẫu ứng xử thực tế phi chính thống ở cộng đồng cư dân.
2. Số liệu khảo sát trong luận án chứng minh điều gì về kết cấu "nhất xã nhất thôn" ở đồng bằng Bắc Bộ?
Luận án dẫn chứng khảo sát 3.646 bản hương ước cải lương (trên 70% có dấu của Hội đồng kỳ mục và Lý trưởng cùng một tên làng/xã), số liệu của Pierre Gourou (7.039 làng và 7.000 xã), và thống kê của Nguyễn Văn Huyên tại 11 huyện Kinh Bắc (loại hình xã gồm 1 làng chiếm 74,18%). Các dữ liệu này khẳng định tại đồng bằng Bắc Bộ, đại đa số mỗi làng cư trú tự nhiên đồng thời là một xã hành chính cơ sở.
3. Tại sao luận án khẳng định sở hữu ruộng đất làng xã cổ truyền mang tính "nhị nguyên"?
Bởi vì trong làng xã cổ truyền tồn tại song song hai chế độ sở hữu: chế độ sở hữu tối cao của nhà nước/sở hữu chung của làng xã (ruộng đất công, chiếm khoảng 25% diện tích canh tác đồng bằng Bắc Bộ trước Cải cách ruộng đất) định kỳ chia cho dân đinh cày cấy để nộp tô thuế, và chế độ tư hữu ruộng đất tiểu nông phân tán, manh mún của từng hộ gia đình.
4. Triều vua Lê Thánh Tông đã ban hành những chính sách hành chính cụ thể nào để quản lý làng xã?
Năm 1466, Lê Thánh Tông đổi chức Xã quan (do nhà nước bổ nhiệm) thành Xã trưởng do dân làng trực tiếp bầu. Năm 1483, ban hành sắc dụ quy định tiêu chuẩn xã trưởng (lương gia đệ tử từ 30 tuổi trở lên, biết chữ, có hạnh kiểm) và số lượng xã trưởng theo quy mô hộ (>500 hộ đặt 5 người, 300-500 hộ đặt 4 người, 100-300 hộ đặt 2 người, <100 hộ đặt 1 người). Năm 1488 và 1496, ban hành luật cấm người có quan hệ thân tộc, thông gia cùng làm xã trưởng trong một xã.
5. Luận án lý giải câu tục ngữ "Phép vua thua lệ làng" dưới góc độ pháp lý như thế nào?
Luận án khẳng định câu tục ngữ này không phản ánh tư tưởng đối kháng chống lại quyền lực nhà nước, mà phản ánh sự phân định và giới hạn phạm vi điều chỉnh: pháp luật của nhà nước quản lý các nghĩa vụ công cộng vĩ mô (thuế khóa, quân dịch, lao dịch), còn lệ làng và hương ước quản lý chi tiết các quan hệ nội bộ mang tính đặc thù của cộng đồng cư dân.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Việt Hương là công trình khoa học chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ. Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở kinh tế - xã hội, cấu trúc nội dung tự quản, lệ tục và quy luật kết hợp giữa yếu tố nội sinh với ngoại sinh trong lịch sử tư tưởng dân tộc. Các phân tích về tác động hai mặt của di sản làng xã cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện pháp chế, xây dựng quy ước văn hóa thôn làng và quản lý nông thôn mới trong thời kỳ đổi mới.