Chương 1: Tự tưởng chính trị - phái lý ở lang xã cổ truyền: nhận diện từ khía cạnh lịch xử. Chương 2: Nội dung cơ bản của tt tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã CỔ truyền. Chương 3: Các chiều tác dong của túc tưởng chính wi- pháp lý ở làng xã cổ truyền đối với xd hột Việt Nam, CHƯƠNG | TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ Ở LANG XÃ CỔ TRUYỀN : NHẬN DIEN TỪ KHÍA CANH LICH SỬ Đường như nhiều người đã dé dat, thậm chí hoài nghĩ khi nói về “tu tưởng chính trị - pháp ly” ở những đơn vị xã hội nhỏ Đề và mang tính tượng dot biệt lap như các làng xã cẾ truyền của người Việt. Khi ban về các làng xã trước Cách mang Tháng “Tấm, người ta thường ít nói den dời sống chính trị - pháp ly của nó vì cho rằng nó ít “sôi động” hay biểu hiện không rõ, có chang chỉ là từ dan cư dó xuất hiện các khuynh hướng chính trị của các tầng lớp, dang phát va những biểu hiện rõ hon của khía cạnh “tâm lý chính ui”.
Thật ra, sẽ khó nói đến “tự tưởng chính trị - pháp lý” ở làng xã cổ truyền Việt Nam nếu chúng ta cứng nhắc đồng nhất những yếu tố tự tưởng, những quan niệm chính trị - pháp lý don lẻ với hệ tu tưởng chính trị ; pháp lý. Trong điều kiện của xã hội Việt Nam truyền thống, không thể có mot hệ tự tưởng chính trị- pháp lý ở làng xã cổ truyền, hiểu theo nghĩa là tổng thể những quan niệm thể hiện trình độ tự giác cao về lợi ích và được biểu hiện tập trung thành hệ thống dưới hình thức lý luận. Tuy nhiên, toàn bộ cấu trúc chính trị - phap lý doc đáo của làng xã, mối quan hệ đặc biệt của làng xã với Nhà nước trung ương, cũng như trạng thái tâm lý và tập quán chính ti riêng biệt của cư dân làng xã. đã cho phép nhận dinh về sự tổn tại của những quan niệm chính ti - pháp lý nhất định ở làng xã.
Vấn để đặt ra là phải căn cứ vào những hiểu biết chung về khái niệm “tư tưởng chính trị - pháp lý”, vào đặc điểm lịch sử của môi trường hình thành và tồn tại “tư tưởng chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyén” để khẳng dịnh sự tổn tại thực tế và nhận diện những dac thù của bộ phận tự tưởng đó. NHAN THÚU CHUNG VỀ “TU TUỐNG CHÍNH TRỊ - PHÁP LY” Để nhận diện tu tưởng chính trị - pháp ly ở làng xã cổ Wuyén Việt Nam, trước hết cần có những hiểu biết nhất định về khái niệm “Tư tưởng chính trị - pháp ly". Đây không chỉ là vấn đề giải thích ngữ nghĩa của thuật ngũ - vốn rất cần phải lầm sáng tỏ - mà quan trọng hơn là có giat thích 16 dược nội hàm khai niệm trên mới có thể xác định chính xác dược phạm vi và nội dung của vấn đề dang dé cap. Từ trước đến nay, trong Khoa học pháp lý chưa tồn tại một định nghĩa thống nhất về tự tưởng chính tị - pháp lý.
Tuy nhiên, "ae tưởng chính trị - pháp lý" là một khát niệm phép gdm ba thành tố: tư thông, chính trị, pháp ly và nếu xết riêng từng thành tố thì tuỳ góc dộ nghiên cứu ma phạm vi và nội hầm của chúng cũng đã dược xác dịnh rõ. Vì vậy, để có thể dưa ra một cách hiểu chung về "tư tưởng chính Gi - pháp by" cần lựa chọn một phạm vi thích hợp cho từng thành tố khi dem ghép nó vào nội dung của một khái niệm tổng hop. Trước hết, là “ae tưởng”. Day là một từ [lán - Việt và là từ phép đồng dang.
Tư(_ ) là suy ngữ, ý ngữ; Tưởng (+) là nhớ lại, ghỉ nhớ. Như vậy, theo cách giải nghĩa nay, tu tưởng là suy nghĩ và ghỉ nhớ lại. : Trên thực tế, xuất phát từ những góc độ khác nhau, đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau về “te dng”, những theo cách hiểu phổ biến nhất- căn cứ vào những dặc điểm cơ bản nhất và chung nhất - thì có thể hiểu nội ham khái niệm “ne 06đởng” như sau; - Là những quan niệm hình thành do kết quả nhận thức bằng trí giác của con người về thế giới tự nhiên và xã hội. - Phụ thuộc hay được quy định bởi diều Kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, phan ánh tổn tại xã hội, nhưng có tác dộng trở lại xã hội và Wong nhiều trường hợp còn di trước, định hướng sự phát triển của xã hội.
Trong chừng mực t NÔI ` WA NO PHÒNG L- i b2 ae TRUONG TIA IV nhất định, tự tưởng còn phụ thuộc vào phẩm chat và năng lực nhận thức của chủ thể mang tư tưởng đó. Từ nội ham xác dịnh như trên, có thể thấy nội dung, chủ thể cũng như Hình thức biểu hiện của tự tưởng rất da dang. ‘Tuy thuộc vào lĩnh vực nhận thức, dáp ứng yêu cầu nắm bat thế giới tự nhiên và xã hội của con người thì tự tưởng bao hầm các nội dung: tự tưởng triết học, từ tưởng văn hoá, tư tưởng kinh tế, tu tưởng tôn giáo, tự tưởng chính trị, tư tưởng pháp luật. Tuy thuộc vào kha năng nhận thức và nhủ cầu lợi ích thì chủ thể của tư tưởng có thể là một cá nhân, một nhóm xã hội, một giai cấp, một cộng đồng dân cư, một dâu Lộc hay một quốc gia.
Ngoài ra, tuỳ thuộc vào mức độ khái quát của nhận ae thức -và những hoàn cảnh cụ thé khác, tu tưởng được biểu hiện ra bên ngoài ` dưới những hình thúc rất khác nhau: có thể là một học thuyết chính trị - xã hội, có thể là những chủ trương, chính sách, dường lối, pháp luật, có thể chỉ là >3 “ha nhận định, phát biểu riêng lẻ, thậm chí có thể thể hiện qua mô hình tổ ~, ‹h+ Pa ` j `. a Hanh động cụ the hay thé ứng xử Gong những hoàn cảnh pho biển. = vẽ Để lầm rõ thêm: khái niệm “ae tưởng”, cần di dến sự phan dịnH nó với c.— 5 ae 2 NGA hake es Pps aa hy vE‹ tức» ; &ácghm trù khác có môi liên hệ gan gũi như: Vain lý ad hội và hệ tự tưởng, —— Tư tưởng và (âm lý xã hội có mối liên hệ chặt chế với nhau vì dều có nguồn gốc chung là tốn tại xã hội nhưng chúng là hai phạm: trù có sự khác nhau ở cấp độ của sự nhận thức xã hội. Tam lý xf hội là bộ phan của ý thức xã hội thông thường, bao gồm toàn bộ những tình cảm, tâm trạng, ý thích, xúc cảm, thói quen.
của con người được hình thành một cách tự phát dưới ảnh hưởng trực tiếp của những điều kiện sinh sống hàng ngày. Do vậy, tâm lý xã hội rất nhay cam, da dang, phức tạp và mang tính dé "lây lan". Không phần ánh trực tiếp như tâm lý, tu tưởng là sự tập hợp và khái quát ở mức độ cao hờn những hiểu biết xã hội, nâng nó lên thành quan niệm, quan điểm thong qua từ duy của con người, Vì thế sự hình thành và phát triển.của tự tưởng bao giờ cũng gắn với những diều kiện về lợi ích và về Gi thức nhất dịnh. Tư tưởng cũng không đồng nhất với hệ từ tuông, Theo cách liểu phổ biến, hệ tư tưởng là những quan điểm, tự tưởng, trải qua quá trình hoạt doug lich cực của tự duy con người đã dược hệ thống hóa, Khái quất hoa thành lý luận, thành các học thuyết chính tị - xã hội, phan ánh lợi ích của một giai cấp nhất dinh và được truyền bá nhằm pay ảnh hưởng tới các giai cấp, các nhóih xã hội khác.
Nhu vay, tu tưởng có thể dược xem là bộ phận cấu thành của hệ tư tưởng khi nó nằm trong một tổng thể thống nhất có cấu trúc hệ thống các quan niệm phan ánh những lợi ích chung của mot giai cấp nhất dịnh. Xét từ góc do này, mỗi tư tưởng được xem là những biểu hiện cụ thể của hệ tư tưởng. Sony từ phương diện khác, mỗi tư tưởng cụ thể thường mang dam dấu ấn của chủ thể mang tự tưởng cũng như của hoàn cảnh nảy sinh và nuôi dưỡng từ tưởng đó và có thé dứng dộc lập với hệ tu tưởng. Về khái niệm “chính wi", trong lịch sử đã xuất hiện và tồn tại những cách giải thích ở những phạm vi rộng, hẹp khác nhau, tuỳ theo sự nhấn mạnh dấu hiệu đặc trưng ban chất - giai cấp và quan hệ giải cấp hoặc bd qua nó, tuyệt đối hóa ý nghĩa khách quan, tự nhiên của sự tồn tại của chính trị, hay nghiêng về nhấn mạnh nội dung, giá ti và chức năng xã hội chung của chính tri.
Thực ra, một quan niệm ding đắn về chính trị doi hỏi phải loại bỏ tính biệt phái, loại bỏ sự tuyệt dối hóa những khía cạnh, đặc trưng khác nhan của chính trị. Mọi hiểu biết phổ thông đều cho thấy: trong đời sống xã hội, chính trị là lĩnh vục riêng, phúc tạp, một tổng thể những quan hệ, hiện tượng, sự kiện hết sức phong phú, da dạng về cả nội dung và hình thức, song nằm sâu trong ban chất của tất cả những quan hệ, sự kiện, hiện tượng tưởng chừng rất khác biệt ấy có một đặc trưng chung quy định nên tính chất chính trị của chúng, Đó là sự phan ánh quan hệ giữa các giải cấp, các dan tộc, các nhóm xã hội có những lợi ích khác nhau, trong đó trước hét và cơ bản là lợi ích kinh tế, Nếu chúng ta itu tượng hóa mọi hình thức biểu hiện cụ thể thì có thể thấy, chính tri - đó là L9 quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm: xã hội, các quốc gia, dân tộc. Quan hệ này, với môi xã hội thường dược giải quyết cơ ban thông qua việc sử dụng quyền lực. Vì vậy - một cách đầy di hou - chính ui được hiểu là việc tổ chức và sử dụng quyền lực dé giải quyết các quan hệ lợi ích.
Các vấn dé xã hội sẽ trở thành vấn đề chính trị nếu như việc giải quyết nó trực tiếp hay gián tiếp gan với lợi ích giai cấp, với vấn dé sử dụng quyền lực. Trong thực tế lịch sử, quyền lực chính Gi dược biểu hiện trong pham vi quyển lực Nhà nước và ca ngoài phạm vi quyền lục Nhà nước. Tuy nhiên, khả năng chỉ phối, can thiệp đến các quan hệ lợi ích của quyền lực Nhà nước là rất lớn.