Chương 1 TỪ NGỮ NGHỀ NGHIỆP VÀ NGHỀ LÀM BÁNH Ở AN NHƠN, BÌNH ĐỊNH 1. Từ và từ ngữ nghề nghiệp 1. Khái quát chung về từ 1. Định nghĩa từ tiếng Việt Việc nhận diện và định nghĩa về từ nói chung và từ tiếng Việt nói riêng khá khó khăn.
Trong giới Việt ngữ học đã có nhiều định nghĩa về từ. Trong cuốn Từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu đưa ra định nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [14, tr. Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trong Phiến trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt quan niệm: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [18, tr. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp, trong Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, trình bày: “Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ”.
Có thể chấp nhận một định nghĩa chung về từ như sau: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [23, tr. Qua một số định nghĩa nêu trên, ta có thể tìm thấy sự thống nhất: từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, cấu tạo cố định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, có chức năng định danh và tạo câu. Trong quan hệ với từ, hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có chức năng cấu tạo và biến đổi từ. Trong tiếng Việt, hình vị thường có vỏ ngữ âm là một tiếng, viết thành một chữ tách rời.
Hình vị còn được gọi là “tiếng”. 7 Cùng cấp độ từ vựng với từ còn có ngữ cố định gồm thành ngữ (cao chạy xa bay, thắt lưng buộc bụng, .) và quán ngữ (nói bỏ quá, nói tóm lại,. Ngữ cố định được cấu tạo bởi các từ, có cấu tạo và ngữ nghĩa ổn định như từ. Phân loại từ tiếng Việt Có nhiều cách phân loại từ tiếng Việt dựa vào mục đích và tiêu chí khác nhau.
Phân loại từ theo phương thức cấu tạo a1. Từ đơn: là những từ do một hình vị (một tiếng) tạo nên. Ví dụ: xe, nhà, bánh; đi, tráng; ngon, tròn, … a. Từ ghép: là những từ được tạo bởi hai hoặc hơn hai hình vị (tiếng) theo quan hệ nghĩa.
Ví dụ: xe đạp, bánh xèo; xe cộ, bánh trái, … Theo quan hệ nghĩa, từ ghép được chia làm hai loại: - Từ ghép hợp nghĩa: là những từ ghép do các hình vị có nghĩa cùng chỉ một phạm trù ngữ nghĩa, thường kết hợp với nhau theo quan hệ đẳng lập (bánh trái, cơm nước, nấu nướng,.) - Từ ghép phân nghĩa: là những từ do các hình vị có nghĩa, kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ, trong đó có một thành tố mang nghĩa chỉ loại và thành tố còn lại mang nghĩa phân loại (phân nghĩa), như bánh gai, bánh mì, bánh in, bánh tráng,. Theo quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ ghép chia thành hai loại: - Từ ghép đẳng lập: nhà cửa, đi đứng, ngon lành, … - Từ ghép chính phụ: bánh ít, bánh xèo, bánh hỏi, … a. Từ láy: là những từ được tạo ra bằng cách lặp lại toàn bộ hay bộ phận âm thanh của yếu tố cơ sở, trong đó thanh điệu giữ nguyên hoặc biến đổi theo luật hài thanh, như xinh xắn, lành lặn, méo mó, nhạt nhẽo,. - Trong tiếng Việt có một lớp từ được cấu tạo bởi hai tiếng trở lên, trong đó các tiếng tách ra sẽ không có nghĩa; ví dụ: tắc kè, bồ hóng, bồ kết, a 8 xít, ki lô mét, mô tơ,.
Những từ này, các nhà Việt ngữ học có quan niệm khác nhau. Nguyễn Tài Cẩn xem đây là từ ghép ngẫu kết. Đỗ Hữu Châu quan niệm những trường hợp này là từ đơn hình vị đa tiết. Luận văn vận dụng quan niệm của Đỗ Hữu Châu để xử lí ngữ liệu.
Phân loại từ theo nguồn gốc b1. Từ thuần Việt: là từ có nguồn gốc Nam Á, hình thành và tồn tại lâu đời trong lịch sử dân tộc Việt (chân, tay, đi, múc, đổ, ngon, dở, …) b2. Từ vay mượn: là những từ gốc Hán hoặc gốc Ấn Âu, … (mô-tơ, rơ- mi-nơ/ru-mi-nê, (bánh) ga tô, … c. Phân loại theo phạm vi sử dụng c1.
Từ toàn dân: là những từ được sử dụng trên phạm vi dân tộc. Từ địa phương: là những từ được sử dụng ở phạm vi vùng địa lí nhất định. Từ nghề nghiệp: là những từ được sử dụng trong ngành nghề nhất định. Thuật ngữ : là những từ ngữ biểu thị các khái niệm khoa học.
Tiếng lóng: là những từ được sử dụng trong một nhóm người nhất định với mục đích che giấu người ngoài về nội dung thông báo hoặc tạo sự khác biệt trong cách nói với mục đích đùa vui. Quan niệm về ngữ định danh 1. Định nghĩa Trong ngôn ngữ học có những quan niệm khác nhau về cụm từ (từ tổ): cụm từ là một tổ hợp hai từ trở lên theo quan hệ ngữ nghĩa và ngữ pháp nhất định; hoặc cụm từ là một tổ hợp hai thực từ trở lên; cụm từ là tổ hợp các từ có quan hệ chính phụ;. Phần lớn các tài liệu ngữ pháp, giáo trình, sách giáo khoa quan niệm: cụm từ là một kết hợp hai từ trở lên theo một quan hệ ngữ nghĩa và ngữ pháp nhất định, trừ trường hợp quan hệ từ với từ sau nó (vì mẹ, của quốc gia,.
9 Ví dụ: - Tỏi, chanh và ớt đều dùng để pha nước chấm. - Má đang đúc bánh xèo tôm nhảy. - Anh ấy tên là Nam. Phân loại cụm từ Dựa vào quan hệ cú pháp giữa các yếu tố cấu tạo, có thể phân cụm từ thành 3 loại.
- Cụm đẳng lập Ví dụ: Bánh bèo và bánh xèo đều là từ bột tẻ. - Cụm chính phụ Ví dụ: Ba đang tưới bông ngoài sân. - Cụm chủ vị Ví dụ: Bánh tráng mà em vừa gửi chị là đặc sản Tam Quan đấy. Ngữ định danh Trong các loại cụm từ, cụm từ chính phụ thường được gọi là ngữ; gọi tên theo từ loại của từ trung tâm: ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ.
Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học định nghĩa ngữ là “kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan. Đó là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hay nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc. Trong ngữ có một từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là các thành tố phụ. Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tạo nên danh ngữ), động từ (tạo nên động ngữ), tính từ (tạo nên tính ngữ).
Ngữ còn gọi là cụm từ, từ tổ. Ngữ là phương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng, quá trình, phẩm chất” [43, tr. 10 Tên gọi ngữ định danh không thấy xuất hiện trong từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học [23], [43] mà thường thấy trong các công trình về từ nghề nghiệp. Theo tác giả Nguyễn Văn Dũng, “do yêu cầu định danh (gọi tên) sự vật, biểu thị các khái niệm mới, từ không đủ để thực hiện chức năng này, vì vậy, ngữ xuất hiện.
Thậm chí, ngữ còn có thể định danh một cách rõ ràng hơn, chính xác hơn từ. Ngữ định danh thường có hai loại: thành ngữ và ngữ chuyên môn” [19, tr. “Ngữ chuyên môn là đơn vị có chức năng định danh, mang một nghĩa cố định; có nội dung định danh (gọi tên) công cụ, phương tiện, hoạt động, nguyên liệu, sản phẩm, tính chất của nghề” [19, tr. Tác giả Nguyễn Thị Phước Mỹ, trong luận án tiến sĩ về Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ nghề nông Nghệ Tĩnh quan niệm: “Ngữ định danh là loại cụm từ mà các yếu tố kết hợp theo quan hệ chính phụ có chức năng định danh.
Khác ngữ ngữ pháp, ngữ định danh là một loại ngữ danh học với chức năng nổi trội là định danh sự vật nên tính chất cố kết các thành tố trong cụm từ khá chặt chẽ, tương tự như từ ghép. Do mang chức năng nghĩa định danh nên các ngữ định danh cũng có chức năng phân loại – khu biệt các đối tượng trong loại giống như từ ghép phân nghĩa” [30, tr. Vì nhu cầu định danh, trong vốn từ vựng nghề nghiệp cần có ngữ định danh. Trong luận văn, chúng tôi tiếp nhận cách dùng ngữ định danh như một thuật ngữ và khi không cần phân biệt rạch ròi với từ, chúng tôi sẽ gọi chung hai đơn vị từ và ngữ định danh này là từ ngữ nghề nghiệp như trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học [43, tr.
Từ ngữ nghề nghiệp 1. Quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp Từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm đơn vị từ ngữ được sử dụng phổ biến trong phạm vi những người cùng làm một nghề nào đó. 11 Quan niệm về từ nghề nghiệp vẫn chưa thống nhất bởi vẫn chưa có định nghĩa nào thực sự phản ánh đầy đủ đặc trưng của lớp từ này. Theo Đỗ Hữu Châu, “Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí thức (nghề thuốc, ngành văn thư,…).234] Trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị cho công cụ, sản phẩm lao động và quá trình lao động sản xuất của một ngành nghề nào đó trong xã hội.
Những từ ngữ này được những người cùng một ngành nghề nào đó biết và sử dụng. Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết những từ ngữ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng. Do đó, từ ngữ nghề nghiệp cũng là một lớp từ vựng được dùng hạn chế về mặt xã hội”.303] Theo tác giả Nguyễn Văn Khang, “Từ ngữ nghề nghiệp là những từ có tính chuyên môn cao mà chỉ có những người làm nghề đó mới có thể hiểu được.