Tư Duy Hướng Biển Của Các Nhà Cải Cách Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ XIX

Chuyên khảo phân tích Tư duy hướng biển của các nhà cải cách việt nam nửa cuối thế kỷ xix, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận

2013

112
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TƯ DUY BIỂN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN CỦA TRIỀU NGUYỄN TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC

1.1. Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ XIX

1.2. Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ X

1.3. Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XV

1.4. Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX

1.5. Chính sách biển của triều Nguyễn

1.5.1. Chính sách đóng cửa với phương Tây

1.5.2. Chính sách phòng ngự bờ biển

1.5.3. Tuần tra trên biển

1.5.4. Xây lực lượng thủy quân và các pháo đài ven biển

1.5.5. Chính sách tiễu trừ hải phỉ

2. CHƯƠNG 2: TƯ DUY HƯỚNG BIỂN CỦA CÁC NHÀ CẢI CÁCH VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

2.1. Sự cần thiết phải khai phóng đất nước

2.2. Tư duy quân sự biển

2.3. Mở thương cảng biển

2.4. Phát triển kinh tế biển

2.5. Lập các hội buôn

2.6. Khuyến khích hoạt động thương mại trên biển

2.7. Khai thác tài nguyên biển

2.8. Mở lớp học dạy về biển

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC ẢNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tư Duy Hướng Biển Việt Nam Lịch Sử Bối Cảnh

Việt Nam, với bờ biển dài hơn 3.000 km, từ lâu đã có mối liên hệ mật thiết với biển. Tuy nhiên, tư duy hướng biển của người Việt trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Từ thời kỳ sơ khai, khi cuộc sống gắn liền với nông nghiệp lúa nước, đến giai đoạn các vương triều phong kiến bắt đầu chú trọng đến việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, biển luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, quốc phòng. Dù vậy, tư duy đất liền vẫn chiếm ưu thế, khiến việc khai thác tiềm năng kinh tế biển chưa được chú trọng đúng mức. Theo nghiên cứu của Lương Thụy Lan Hương, "trong toàn bộ những tư tưởng canh tân thì tư duy về biển đã được các nhà cải cách đặc biệt quan tâm".

1.1. Tư Duy Biển Sơ Khai Ảnh Hưởng Từ Nông Nghiệp Lúa Nước

Trong giai đoạn đầu lịch sử, nông nghiệp lúa nước là nền tảng kinh tế chủ yếu của người Việt. Điều này dẫn đến tư duy trọng nông, ít chú trọng đến việc khai thác biển. Các truyền thuyết như Lạc Long Quân - Âu Cơ, Sơn Tinh - Thủy Tinh thể hiện mối liên hệ giữa người Việt với sông nước, nhưng cũng phản ánh sự e ngại trước biển cả mênh mông. "Cái không gian sinh tồn cụ thể và độc đáo này đã đào luyện nên tính cách hạ bạn, tâm lý hoá thân vào đồng đất và mở rộng bờ cõi với hướng chảy dọc theo các đồng bằng ven biển".

1.2. Chính Sách Biển Thời Phong Kiến Phòng Thủ Là Ưu Tiên

Các triều đình phong kiến Việt Nam sớm có ý thức bảo vệ chủ quyền trên biển đảo và xây dựng lực lượng thủy quân. Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là phòng thủ, bảo vệ đất liền khỏi các cuộc xâm lược từ phương Bắc. Việc khai thác kinh tế biển chưa được chú trọng, và tư duy hướng nội chi phối các chính sách liên quan đến biển. Các vương triều phong kiến đầu tiên Ngô – Đinh – Tiền Lê đã chú trọng đến việc xây dựng các căn cứ, chốt thủy quân ở vùng Đông Bắc mà trọng tâm là cửa sông Bạch Đằng.

II. Thách Thức Cơ Hội Bối Cảnh Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ XIX

Nửa cuối thế kỷ XIX, Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức lớn. Sự suy yếu của triều Nguyễn, cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, đặt đất nước vào tình thế nguy nan. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, xuất hiện những nhà cải cách Việt Nam với tư duy đổi mới, nhận thức rõ tầm quan trọng của việc mở cửa giao thươnghội nhập quốc tế. Họ nhìn thấy tiềm năng to lớn của biển trong việc phát triển kinh tế và tăng cường sức mạnh quốc phòng. Theo Lương Thụy Lan Hương, "Đặc biệt vào nửa cuối thế kỷ XIX, ở nước ra đã có rất nhiều nhà cải cách đưa ra những tư tưởng tiến bộ, mang tính thời đại về vị trí, vai trò của biển".

2.1. Khủng Hoảng Triều Nguyễn Bối Cảnh Xã Hội Kinh Tế

Sự suy yếu của triều Nguyễn thể hiện qua nhiều mặt: kinh tế trì trệ, chính trị rối ren, quân sự lạc hậu. Chính sách bế quan tỏa cảng khiến Việt Nam tụt hậu so với các nước phương Tây. Nạn đói kém, mất mùa liên tiếp xảy ra, gây bất ổn xã hội. Đây là bối cảnh thúc đẩy các nhà cải cách tìm kiếm những giải pháp mới để chấn hưng đất nước. Vua Hồng Đức (1460-1497), đã có những chính sách thiếu tính tích cực đối với vấn đề ngoại thương và khu vực hải cảng Vân Đồn cũng như toàn bộ vùng Đông Bắc.

2.2. Áp Lực Từ Thực Dân Pháp Yêu Cầu Đổi Mới Để Tồn Tại

Sự xâm lược của thực dân Pháp là một cú sốc lớn đối với xã hội Việt Nam. Để đối phó với nguy cơ mất nước, nhiều nhà nho yêu nước đã nhận thức được sự cần thiết phải đổi mới toàn diện. Họ chủ trương học hỏi kỹ thuật, khoa học của phương Tây, đồng thời phát huy tinh thần dân tộc để bảo vệ chủ quyền quốc gia. "Việt Nam là quốc gia nằm ở phía đông nam của châu Á, từ lâu biển đã giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế, quốc phòng của người Việt Nam".

III. Tư Duy Hướng Biển Giải Pháp Của Các Nhà Cải Cách Việt Nam

Các nhà cải cách Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đã đưa ra nhiều đề xuất táo bạo về việc khai thác tiềm năng của biển. Họ chủ trương mở cửa thương cảng, phát triển kinh tế biển, xây dựng lực lượng hải quân mạnh, và tăng cường hợp tác quốc tế. Tư duy hướng biển của họ không chỉ là giải pháp kinh tế, mà còn là một chiến lược để bảo vệ an ninh quốc gia và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Theo Lương Thụy Lan Hương, "Những tư duy mới mẻ của họ có một ý nghĩa nhất định trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và phát triển kinh tế biển hiện nay".

3.1. Mở Cửa Thương Cảng Hội Nhập Kinh Tế Thế Giới

Các nhà cải cách nhận thấy rằng việc bế quan tỏa cảng đã khiến Việt Nam tụt hậu so với thế giới. Họ chủ trương mở cửa thương cảng, tạo điều kiện cho giao thương với các nước phương Tây, thu hút đầu tư và học hỏi kỹ thuật mới. Việc này không chỉ giúp phát triển kinh tế, mà còn giúp Việt Nam tiếp cận với văn minh thế giới. "Vượt ra khỏi ý nghĩa quốc gia về chiến lược phát triển kinh tế, trên phương diện hải thương khu vực và quốc tế, việc nhà Lý lập trang Vân Đồn có ý nghĩa hết sức quan trọng, đánh dấu sự dự nhập của quốc gia Đại Việt vào hệ thống hải thương khu vực và quốc tế qua khu vực Biển Đông".

3.2. Phát Triển Kinh Tế Biển Khai Thác Nguồn Lợi Tạo Việc Làm

Các nhà cải cách đề xuất khai thác các nguồn lợi biển, như hải sản, khoáng sản, và phát triển các ngành kinh tế liên quan đến biển, như kinh tế hàng hải, du lịch biển. Điều này không chỉ tạo ra việc làm, tăng thu nhập cho người dân, mà còn giúp tăng cường sức mạnh kinh tế của đất nước. "Việt Nam không có nền kinh tế thương mại và hàng hải phát triển, không có nền văn hoá hải dương, khai phóng và hội nhập như cư dân các nước khu vực Địa Trung Hải hay một vài quốc gia ven biển khác trên thế giới".

3.3. Xây Dựng Hải Quân Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo

Các nhà cải cách nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng một lực lượng hải quân mạnh để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Họ đề xuất mua sắm tàu thuyền hiện đại, đào tạo thủy thủ, và xây dựng các căn cứ quân sự ven biển. Điều này không chỉ giúp bảo vệ an ninh hàng hải, mà còn thể hiện quyết tâm bảo vệ tổ quốc của dân tộc. "Trong và sau ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên thế kỷ XIII, nhà Trần luôn ý thức sâu sắc về vai trò và vị thế của biển, đảo trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh đất nước".

IV. Những Nhà Cải Cách Tiêu Biểu Tư Tưởng Đóng Góp Về Biển

Nhiều nhà cải cách nổi tiếng như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ đã có những đóng góp quan trọng vào việc hình thành tư duy hướng biển ở Việt Nam. Mỗi người có những cách tiếp cận khác nhau, nhưng đều chung một mục tiêu là chấn hưng đất nước thông qua việc khai thác tiềm năng của biển. Họ là những người tiên phong trong việc tiếp thu văn minh phương Tây và ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam.

4.1. Nguyễn Trường Tộ Canh Tân Toàn Diện Phát Triển Biển

Nguyễn Trường Tộ là một trong những nhà cải cách tiêu biểu nhất của Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX. Ông đề xuất nhiều giải pháp canh tân toàn diện, bao gồm cả việc phát triển kinh tế biển, xây dựng hải quân, và tăng cường giao thương với các nước phương Tây. Ông nhận thấy rằng biển là một nguồn tài nguyên vô tận và có thể giúp Việt Nam trở nên giàu mạnh. Năm 1999, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội đã ấn hành cuốn sách “Bùi Viện với sự nghiệp canh tấn đất nước cuối thế kỷ XIX” của Thế Văn và Quang Khải.

4.2. Bùi Viện Ngoại Giao Tìm Kiếm Đồng Minh Trên Biển

Bùi Viện là một nhà ngoại giao tài ba, có tầm nhìn xa trông rộng. Ông chủ trương mở rộng quan hệ với các nước phương Tây, tìm kiếm đồng minh để chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp. Ông nhận thấy rằng biển là một con đường quan trọng để kết nối Việt Nam với thế giới và tăng cường vị thế của đất nước. Cuốn sách “Đặng Huy Trứ con người và tác phẩm”, xuất bản năm 1990 của Đặng Hưng Doanh và Bùi Văn Côn, viết về cuộc đời và sự nghiệp viết văn của Đặng Huy Trứ, đồng thời tập hợp những tác phẩm văn học của ông, qua đó thể hiện tư duy cách tân của Đặng Huy Trứ.

V. Bài Học Lịch Sử Giá Trị Hạn Chế Của Tư Duy Hướng Biển

Tư duy hướng biển của các nhà cải cách Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX có ý nghĩa lịch sử to lớn. Nó thể hiện sự nhạy bén trước thời cuộc, tinh thần yêu nước, và khát vọng chấn hưng đất nước. Tuy nhiên, những đề xuất của họ chưa được thực hiện đầy đủ do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Bài học lịch sử này vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển. Theo Lương Thụy Lan Hương, "Đồng thời để hướng tới một quốc gia kinh tế biển phát triển, điều cần thiết trước tiên đòi hỏi người Việt Nam cần có một sự nhận thức đầy đủ về biển".

5.1. Nguyên Nhân Thất Bại Rào Cản Từ Triều Nguyễn Xã Hội

Nhiều đề xuất cải cách đã không được triều Nguyễn chấp nhận hoặc thực hiện một cách nửa vời. Sự bảo thủ, trì trệ của bộ máy quan liêu, cùng với sự phản đối của một bộ phận sĩ phu, đã cản trở quá trình đổi mới. Bên cạnh đó, xã hội Việt Nam thời bấy giờ còn nhiều rào cản về tư tưởng, văn hóa, khiến việc tiếp thu những tư tưởng mới gặp nhiều khó khăn. Các công trình nêu trên tuy đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ về tư tưởng canh tân đất nước của các nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, v.; nhưng chưa đề cập sâu sắc và chưa nghiên cứu một cách có hệ thống về tư duy hướng biển của họ.

5.2. Giá Trị Hiện Tại Định Hướng Phát Triển Kinh Tế Biển Bền Vững

Tư duy hướng biển của các nhà cải cách vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay. Việt Nam cần tiếp tục khai thác tiềm năng của biển, phát triển các ngành kinh tế biển một cách bền vững, bảo vệ môi trường biển, và tăng cường hợp tác quốc tế về các vấn đề liên quan đến biển. Điều này không chỉ giúp phát triển kinh tế, mà còn giúp bảo vệ chủ quyền biển đảo và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Chính vì vậy, việc tìm hiểu những tư duy về biển của người Việt Nam trong lịch sử là rất cần thiết.

VI. Tương Lai Tư Duy Hướng Biển Hội Nhập Phát Triển Bền Vững

Để phát huy tối đa tiềm năng của biển, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tư duy, xây dựng một tầm nhìn chiến lược về phát triển kinh tế biển bền vững. Điều này đòi hỏi sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tương lai của Việt Nam gắn liền với biển, và việc khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này sẽ giúp đất nước trở nên hùng cường, văn minh, và hạnh phúc. Theo Lương Thụy Lan Hương, "Bởi vậy, trong việc khẳng định và bảo vệ quyền lợi quốc gia đối với biển đảo cần được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh, trong đó có tiến trình về tư duy biển của con người Việt Nam".

6.1. Phát Triển Nguồn Nhân Lực Đào Tạo Chuyên Gia Về Biển

Để khai thác hiệu quả tiềm năng của biển, Việt Nam cần có một đội ngũ chuyên gia giỏi về các lĩnh vực liên quan đến biển, như kinh tế biển, luật biển, khoa học biển, công nghệ biển. Việc đào tạobồi dưỡng nguồn nhân lực này là một nhiệm vụ cấp bách và cần được ưu tiên hàng đầu. Phạm vi nghiên cứu của khóa luận chủ yếu nằm trong khoảng thời gian nửa cuối thế kỷ XIX, dưới triều vua Tự Đức (1847 – 1883), với không gian là xã hội Việt Nam.

6.2. Hợp Tác Quốc Tế Giải Quyết Tranh Chấp Bảo Vệ Biển

Các vấn đề liên quan đến biển, như tranh chấp chủ quyền, ô nhiễm môi trường, khai thác tài nguyên, đòi hỏi sự hợp tác quốc tế chặt chẽ. Việt Nam cần chủ động tham gia vào các diễn đàn khu vực và quốc tế, đóng góp vào việc xây dựng một trật tự biển công bằng, minh bạch, và bảo vệ môi trường biển cho các thế hệ tương lai. Để thực hiện khóa luận này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp đối chiếu, phương pháp so sánh, v.

06/06/2025
Tư duy hướng biển của các nhà cải cách việt nam nửa cuối thế kỷ xix

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, gồm 2 chƣơng: - Chƣơng 1: Tƣ duy biển của ngƣời Việt Nam và chính sách biển của triều Nguyễn trƣớc khi thực dân Pháp xâm lƣợc. - Chƣơng 2: Tƣ duy hƣớng biển của các nhà cải cách Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX. 4 Chƣơng 1 TƢ DUY BIỂN CỦA NGƢỜI VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN CỦA TRIỀU NGUYỄN TRƢỚC KHI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƢỢC 1. Tƣ duy biển của ngƣời Việt trƣớc thế kỷ XIX 1.

Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ X Nằm ở vùng chân dãy núi Himalaya, trong khu vực châu Á gió mùa, nên Đông Nam Á đƣợc coi là một trong những trung tâm xuất hiện sớm của cây lúa nƣớc. Trong lịch sử, cây lúa đã trở thành nguồn sống, là cơ sở kinh tế chủ yếu của ngƣời Việt. Cuộc sống của ngƣời Việt đƣợc gắn liền với nƣớc và phƣơng thức canh tác lúa nƣớc, vì vậy từ xa xƣa ngƣời Việt đã sớm bộc lộ những tƣ duy về sông nƣớc. Sự bộc lộ đó thể hiện rõ trong các truyền thuyết nhƣ Lạc Long Quân - Âu Cơ, Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, Mai An Tiêm, Chử Đồng Tử - Tiên Dung, Dã Tràng, v.

Các triều đình phong kiến Việt Nam cũng đã sớm có ý thức bảo vệ chủ quyền trên biển đảo và xây dựng lực lƣợng thuỷ quân. Nhƣng nhìn chung, cƣ dân ngƣời Việt vẫn chƣa đánh giá đầy đủ vị trí của biển và chƣa chú ý đến biển. Tƣ duy của ngƣời Việt chủ yếu là “tư duy đất liền”, “xa rừng nhạt biển”, coi trọng kinh tế nông nghiệp hơn là khai thác những tiềm năng kinh tế biển.000 km đƣờng bờ biển và là nƣớc có chỉ số duyên hải ISCL (Index of Sea Coastal Line) cao. Chỉ số duyên hải cao và môi trƣờng kinh tế đảo, bán đảo là điều kiện thuận lợi để nƣớc ta có thể thiết lập và mở rộng quan hệ giao thƣơng với thế giới bên ngoài.

Tuy nhiên, ngƣời Việt ít chú trọng khai thác biển. Việt Nam không có nền kinh tế thƣơng mại và hàng hải phát triển, không có nền văn hoá hải dƣơng, khai phóng và hội nhập nhƣ cƣ dân các nƣớc khu vực Địa Trung Hải hay một vài quốc gia ven biển khác trên thế giới. Ngƣời Việt xƣa không có truyền thống đi xa và buôn bán đƣờng dài. Ngƣời Việt có làm cảng ở sông, ở biển, nhƣng chủ yếu là để buôn bán nội vùng, khá hơn là liên vùng trong nƣớc.

Ngƣời Việt thụ động 5 trông chờ ngƣời nƣớc ngoài đến buôn bán mà không chủ động đóng tàu thuyền ra nƣớc ngoài buôn bán. Có thể thấy ngƣời Việt khá bị động trƣớc biển. Mối liên hệ kinh tế văn hoá giữa Đại Việt với các nƣớc Đông Nam Á hay châu Á, ngoại trừ trƣờng hợp Trung Quốc, không thực sự sâu sắc và thƣờng xuyên. Sự hiểu biết của ngƣời Việt về địa lý, lịch sử, kinh tế các nƣớc trên thế giới, kể cả các quốc gia láng giềng cũng rất hạn hẹp.

Đó là một hạn chế của ngƣời Việt Nam trong việc khai thác các thế mạnh và tiềm năng của biển. Vào những thế kỷ sau Công Nguyên, mặc dù đã làm chủ đƣợc hầu khắp vùng đồng bằng sông Hồng và chinh phục đƣợc một số dải đất ven biển nhƣng ngƣời Việt vẫn không thể (và thực tế là không cần) vƣợt ra khỏi không gian kinh tế nông nghiệp truyền thống để tiến ra biển: “Cái không gian sinh tồn cụ thể và độc đáo này đã đào luyện nên tính cách hạ bạn, tâm lý hoá thân vào đồng đất và mở rộng bờ cõi với hướng chảy dọc theo các đồng bằng ven biển”1. Tập quán sinh sống định cƣ gắn chặt với đồng đất và nguồn cung cấp thực phẩm đa dạng, lƣợng thuỷ sản nƣớc ngọt khá phong phú của một không gian địa - kinh tế ẩm, trũng miền chân núi là nguyên nhân chính yếu kiềm toả sức vƣơn ra biển, nhu cầu muốn chinh phục biển khơi của ngƣời Việt. Biển là một thế giới quá mênh mông, mơ hồ và đầy hiểm nguy trong tâm thức của ngƣời Việt.

Ngƣời Việt cũng có truyền thống đóng thuyền đi trên sông nƣớc nhƣng đó chủ yếu là các thuyền đi trong sông, eo, vịnh… chứ chƣa thực sự là thuyền đi biển, có thể vƣợt xa đại dƣơng. Mặt khác, do tác động của tƣ tƣởng trọng nông ức thƣơng, nền thƣơng nghiệp Việt Nam, trong đó có ngoại thƣơng, luôn đƣợc coi là ngành kinh tế phụ, không căn bản. Ngay cả những làng, những vùng có truyền thống ngƣ 1 Nguyễn Văn Kim: “Hệ thống buôn bán ở biển Đông thế kỷ XVI- XVII và vị trí của một số thƣơng cảng Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1, năm 2002, tr. 6 nghiệp, buôn bán trên sông nƣớc vẫn thƣờng có và luôn giữ một khoảnh đất để canh tác nông nghiệp và thờ cúng tổ tiên.

Đặc tính đó thể hiện rõ tƣ duy hƣớng nội là chủ yếu trong tƣ tƣởng kinh tế và văn hoá truyền thống của ngƣời Việt. Trong kho tàng văn hóa dân tộc từ thời dựng nƣớc cũng có rất nhiều huyền thoại, truyền thuyết gắn liền với tâm thức của các cộng đồng cƣ dân về biển. Biển là điểm khởi nguồn đồng thời cũng là nơi trở về của nhiều nhân vật huyền thoại. Huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ kết duyên với nhau sinh ra một trăm ngƣời con để rồi lại phân chia ra, nửa theo Mẹ về Núi, nửa theo Cha xuống Biển, và những khi ở trên Lục quốc có chuyện, Long Quân vẫn luôn trở về đất liền để cứu giúp nhân dân.

Huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ đã thể hiện mối liên hệ giữa Đất và Nước trong tâm thức của ngƣời Việt cổ. Trên một bình diện khác, truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh là sự thể hiện sức mạnh và cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ giữa hai thế lực Núi và Nước. Ngƣời ta hay lấy cuộc hận thù duyên phận giữa hai con ngƣời – hai vị thần tài giỏi để luận giải về truyền thống khai phá, giành giật đất đai, xây dựng hệ thống thủy nông. “Huyền thoại đó còn là ký ức về một cuộc đại chuyển cư, mở mang châu thổ do tác động của quá trình biển tiến, biển lùi trong lịch sử xa xưa của người Việt”2.

Với tập quán canh tác lúa nƣớc thì hiện tƣợng nƣớc dâng lên rồi rút đi là một trong những điều kiện không thể thiếu đƣợc cho sự phát triển trù phú, mùa màng bội thu. Chính vì vậy, từ xa xƣa, ngƣời Việt vừa có tâm lý sợ nƣớc (nhất thủy, nhì hỏa) vừa cầu nƣớc và mong nƣớc về. “Nước là một bộ phận hợp thành của truyền thống văn hóa, khắc đậm trong tư duy, trong quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước và cả 2 Nguyễn Văn Kim: “Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển; nhận thức về biển, đảo trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc”, trích trong cuốn Người Việt với biển, Nguyễn Văn Kim chủ biên, Nxb. Thế giới, HN, 2011, tr.

7 trong thế giới huyền thoại của người Việt cổ”3. Tƣ duy về biển của ngƣời Việt cổ không chỉ đƣợc thể hiện qua các huyền thoại và truyền thuyết từ xa xƣa mà còn đƣợc thể hiện qua các di chỉ khảo cổ học của các nền văn hóa nhƣ Văn hóa biển Hạ Long thời kỳ hậu đá mới, Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Sa Huỳnh của thời đại kim khí hay cả Thể chế biển Phù Nam và Chămpa sau đó. Mặc dù đã có những bằng chứng cho thấy sự tồn tại về một tƣ duy biển của ngƣời Việt cổ trƣớc thế kỷ X nhƣng nó dƣờng nhƣ cũng chƣa mấy rõ ràng. Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang đã trồng dƣa hấu để trao đổi với những tàu buôn đi qua đó lấy các vật dụng và thực phẩm, nhƣng cuối cùng cũng quay trở lại đất liền.

Khi nỏ thần mất tác dụng và bị quân địch đánh cho thua trận, An Dƣơng Vƣơng đã bỏ chạy ra đến bờ biển rồi rút gƣơm tự vẫn. Nghề đánh bắt cá hay cƣ dân sống trên sông nƣớc đƣợc phản ánh trong chuyện cổ tích với những nhân vật nhƣ Trƣơng Chi, Chử Đồng Tử, v.; luôn có vị thế xã hội thấp kém hơn ngƣời và nghề khác. Mối tình của chàng đánh cá Trƣơng Chi với cô gái con nhà quyền quý kết thúc trong bi thảm. Còn Chử Đồng Tử, chàng trai nghèo đến nỗi thân không một mảnh khố, chỉ có thể đổi đời bằng việc kết hôn với công chúa con vua.

Truyền thuyết Dã Tràng thì phản ánh sự bất lực của con ngƣời trƣớc biển: “Dã tràng xe cát biển Đông Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì” Tuy nhiên, chính những tƣ duy sơ khai, ban đầu ấy đã tạo nền tảng cho ngƣời Việt có một tƣ duy đầy đủ hơn về biển trong những thế kỷ sau đó. Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XV Từ thế kỷ X trở đi, sau chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, Việt Nam bƣớc vào kỷ nguyên độc lập tự chủ. Ý thức sâu sắc về 3 Nguyễn Văn Kim: “Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển; nhận thức về biển, đảo trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc”, Sđd, tr. 8 chủ quyền đất nƣớc, các vƣơng triều phong kiến đã có sự quan tâm nhất định tới vấn đề biển đảo.

Các vƣơng triều phong kiến đầu tiên Ngô – Đinh – Tiền Lê đã chú trọng đến việc xây dựng các căn cứ, chốt thủy quân ở vùng Đông Bắc mà trọng tâm là cửa sông Bạch Đằng. Công việc quan trọng đầu tiên của vua Lý Anh Tông (1139 - 1175) (và cũng có thể đƣợc coi là của cả Vƣơng triều Lý) đối với các vùng biển đảo là đặt ra hành dinh ở trại Yên Hƣng (Quảng Ninh) vào tháng 10 - 1147 nhƣ là một cơ quan quản lý của triều đình trung ƣơng đối với cửa ngõ yết hầu sông nƣớc quan trọng nhất của đất nƣớc, cũng nhƣ toàn bộ các vùng biển đảo của quốc gia Đại Việt nói chung. Sau đó, tháng 2 – 1149, nhân việc thuyền buôn 3 nƣớc Trảo Oa (Java, Indonesia), Lộ Lạc và Xiêm La (đều thuộc Thái Lan ngày nay) vào Hải Đông xin cƣ trú buôn bán, vua Lý Anh Tông “bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật địa phương”4. “Vượt ra khỏi ý nghĩa quốc gia về chiến lược phát triển kinh tế, trên phương diện hải thương khu vực và quốc tế, việc nhà Lý lập trang Vân Đồn có ý nghĩa hết sức quan trọng, đánh dấu sự dự nhập của quốc gia Đại Việt vào hệ thống hải thương khu vực và quốc tế qua khu vực Biển Đông”5.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tóm tắt bài viết "Tư Duy Hướng Biển Của Các Nhà Cải Cách Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ XIX"

Bài viết này khám phá tư duy tiến bộ, hướng ngoại của các nhà cải cách Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX, những người đã nhận thức được tầm quan trọng của biển trong phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Họ chủ trương mở rộng giao thương hàng hải, học hỏi kỹ thuật phương Tây, và xây dựng lực lượng hải quân mạnh mẽ. Bài viết làm nổi bật tầm nhìn chiến lược của họ, đi trước thời đại và có giá trị tham khảo sâu sắc cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển đảo ngày nay.

Để hiểu rõ hơn về bối cảnh chính trị xã hội dẫn đến những tư tưởng cải cách này, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Sự phân hóa thái độ chính trị của đội ngũ quan lại triều nguyễn những năm cuối thế kỉ xix" tại đây. Bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về những thách thức và cơ hội mà Việt Nam phải đối mặt trong giai đoạn lịch sử quan trọng này.