Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Biển Đông giữ vai trò địa chiến lược đặc biệt quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế, giao thương hàng hải và an ninh quốc phòng của dân tộc Việt Nam. Trong tiến trình lịch sử, nhận thức và hành động hướng biển của người Việt có sự biến đổi qua từng thời kỳ, từ tâm thức sông nước sơ khai thời dựng nước, các hoạt động xác lập và thực thi chủ quyền thời trung đại, cho đến những trăn trở đổi mới ở nửa cuối thế kỷ XIX.
Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, dưới sức ép xâm lược từ chủ nghĩa thực dân phương Tây và cuộc khủng hoảng toàn diện của chế độ phong kiến triều Nguyễn, một bộ phận sĩ phu và quan lại tiến bộ đã nhận thức sâu sắc về sự lạc hậu của đất nước, từ đó khởi xướng trào lưu canh tân. Trong hệ thống các đề xuất duy tân, tư duy về biển giữ vị trí then chốt, gắn liền với yêu cầu cấp bách về mở cửa ngoại thương và hiện đại hóa phòng thủ bờ biển. Tuy nhiên, các công trình sử học trước đây thường tiếp cận tư tưởng canh tân dưới triều Nguyễn một cách tổng quát, chưa có công trình nào khảo cứu độc lập, có hệ thống về tư duy hướng biển của các nhà cải cách. Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.
Mục tiêu nghiên cứu của công trình gồm ba nội dung chính:
- Làm rõ một phần tư duy về biển của người Việt trước nửa cuối thế kỷ XIX qua các giai đoạn lịch sử.
- Phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XIX cùng hệ thống chính sách biển của triều Nguyễn (chính sách đóng cửa, phòng ngự bờ biển, tuần tra và tiễu trừ hải phỉ).
- Làm rõ hệ thống tư duy hướng biển trong tư tưởng canh tân đất nước của các nhà cải cách Việt Nam tiêu biểu nửa cuối thế kỷ XIX.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tiến trình nhận thức về biển của người Việt trước nửa cuối thế kỷ XIX, bối cảnh kinh tế - xã hội và chính sách biển triều Nguyễn, cùng hệ thống tư duy hướng biển của các nhà cải cách như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Đinh Văn Điền.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào nửa cuối thế kỷ XIX, trọng tâm dưới triều vua Tự Đức (1847 – 1883), trong không gian xã hội Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được triển khai dựa trên nguồn tư liệu thư tịch lịch sử phong phú, kết hợp giữa sử liệu chính thống của triều Nguyễn và các nguồn tư liệu phương Tây cùng di thảo của các nhà cải cách:
- Nguồn chính sử và văn bản hành chính triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nhất thống dư địa chí, bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ.
- Nguồn tư liệu phương Tây: Các ghi chép, hồi ký khảo cứu của Alexandre de Rhodes, Cristoforo Borri, John Barrow (1792 – 1793), Jean-Baptiste Chaigneau (hồi ký Le Mémoire sur la Cochinchine).
- Nguồn di thảo canh tân: Các tập điều trần, bản dịch tác phẩm như Quỳ ưu lục, Thời vụ sách của Nguyễn Lộ Trạch, các văn bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, tác phẩm của Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ.
Về mặt lý luận, tác giả sử dụng các khái niệm và khung phân tích lịch sử:
- "Tư duy đất liền" và tâm lý "xa rừng nhạt biển" trong không gian kinh tế nông nghiệp lúa nước truyền thống;
- Chỉ số duyên hải ISCL (Index of Sea Coastal Line) để đánh giá lợi thế địa - kinh tế bờ biển Việt Nam;
- Khái niệm về các "đế chế đại dương", "quốc gia thương nghiệp" trong thương mại quốc tế thế kỷ XVII – XVIII;
- Mối quan hệ biện chứng giữa tư duy kinh tế biển (mở cảng, lập hội buôn, ngoại thương) và tư duy quân sự biển (thủy quân, pháo đài, phòng thủ hải đảo).
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo bao gồm:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động nhận thức và chính sách biển của người Việt từ thời tiền sử đến thế kỷ XIX theo trình tự thời gian.
- Phương pháp phân tích tài liệu và văn bản học: Khai thác chi tiết các chỉ dụ, châu bản, điều trần và ghi chép của nhân chứng lịch sử.
- Phương pháp đối chiếu và so sánh lịch sử: So sánh tư duy biển giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, giữa triều Tây Sơn và triều Nguyễn, giữa chính sách bế quan của triều đình Huế với tư tưởng canh tân hướng biển của các sĩ phu tiến bộ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tư duy biển của người Việt Nam và chính sách biển của triều Nguyễn trước khi thực dân Pháp xâm lược
Chương 1 khái quát tiến trình nhận thức biển của người Việt qua các thời kỳ lịch sử và phân tích toàn diện các chính sách biển của triều Nguyễn trước năm 1858:
1. Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ XIX:
- Thời kỳ trước thế kỷ X: Cư dân Việt cổ xuất phát từ văn minh lúa nước, không gian sinh tồn trũng ẩm chân núi hình thành tâm lý gắn chặt với đồng đất, "tư duy đất liền", coi ngoại thương là phụ. Dấu ấn biển phản ánh qua huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ (phân chia 50 con lên núi, 50 con xuống biển), Sơn Tinh – Thủy Tinh (ký ức biển tiến, biển lùi), Mai An Tiêm, Chử Đồng Tử, Trương Chi, Dã Tràng. Dấu tích văn hóa biển thể hiện qua các nền văn hóa Hạ Long, Đông Sơn, Sa Huỳnh, Phù Nam, Champa.
- Thời kỳ thế kỷ X đến thế kỷ XV: Bước vào kỷ nguyên độc lập, các triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê đặt chốt thủy quân ở Đông Bắc. Tháng 10/1147, vua Lý Anh Tông đặt hành dinh tại Yên Hưng (Quảng Ninh); tháng 2/1149 cho lập trang Vân Đồn khi thuyền buôn Trảo Oa (Java), Lộ Lạc, Xiêm La đến xin cư trú buôn bán. Vua Lý Anh Tông đích thân đi tuần các hải đảo vào năm 1171 và 1172, vẽ bản đồ và cho đóng nhiều thuyền chiến lớn (Vĩnh Long, Thanh Lan, Trường Quyết, Phụng Tiên, Nhật Long, Ngoạn Thủy). Thời Trần – Lê, Vân Đồn là trung tâm xuất khẩu gốm men nâu và men lam. Thủy quân nhà Trần đóng vai trò then chốt trong các cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên (chiến thắng Vân Đồn, Bạch Đằng năm 1288). Đến giữa thế kỷ XV, chính sách hạn chế ngoại thương thời vua Lê Thánh Tông khiến thương cảng Vân Đồn dần suy thoái.
- Thời kỳ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX: Đàng Trong phát triển mạnh kinh tế biển với các cảng thị Hội An, Thanh Hà, Gia Định, Hà Tiên. Chúa Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên sớm thành lập Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải để khai thác hải vật, đo đạc hải trình và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Thời Tây Sơn, vua Quang Trung tổ chức lực lượng thủy quân hùng mạnh với loại chiến thuyền trọng tải lên tới 900 tấn, chở được voi chiến hoặc 700 lính cùng 60 khẩu đại bác; chiêu dụ lực lượng Tàu Ô để giữ gìn an ninh Biển Đông. John Barrow (1792 – 1793) ghi nhận kỹ nghệ đóng thuyền chia khoang kín nước tiên tiến của người Đàng Trong. Nguyễn Ánh trọng dụng hai anh em Jean Marie Dayot và Felix Dayot để đóng tàu chiến kiểu châu Âu và đo vẽ bản đồ bờ biển.
2. Chính sách biển của triều Nguyễn thế kỷ XIX:
- Chính sách đóng cửa với phương Tây: Triều Nguyễn quản lý hơn 130 cửa biển lớn nhỏ. Vua Gia Long cấm thuyền buôn tự ý xuất dương (tháng 9/1816), từ chối tàu Pháp không có quốc thư (tháng 11/1817). Vua Minh Mạng dù giảm thuế cảng ở Gia Định (tháng 11/1820) nhưng kiên quyết cự tuyệt các yêu cầu thông thương của phái đoàn Anh Cát Lợi (năm 1822), Pháp (năm 1824, 1830), Hoa Kỳ (năm 1832 tại Vũng Lẫm, Phú Yên); ban lệnh cấm bán tơ cho nước ngoài (tháng 7/1826); cấm người Hoa ở Gia Định đóng thuyền đi biển chở gạo, buôn lậu nha phiến (tháng 1/1837); quy định tàu Tây phương chỉ được đậu tại cửa Hàn (Đà Nẵng). Vua Thiệu Trị khước từ tàu Anh (tháng 9/1847), vua Tự Đức khước từ tàu Mỹ do Joseph Balestier dẫn đầu (năm 1850).
- Chính sách phòng ngự bờ biển: Vua Gia Long cho biên soạn Nhất thống dư địa chí (tháng 9/1806), ra lệnh đo vẽ cửa biển (tháng 1/1813), cử đội Phạm Quang Ảnh ra Hoàng Sa (tháng 2/1815) và tiếp tục cử thủy quân thăm dò Hoàng Sa (tháng 3/1816). Vua Minh Mạng ban hành Đại Nam nhất thống toàn đồ, dựng miếu và lập bia "Vạn lý ba bình" tại Hoàng Sa (tháng 6/1835), cử Suất đội Thủy quân Phạm Hữu Nhật đi đo vẽ, cắm mốc chủ quyền tại Hoàng Sa (tháng 1/1836). Thời Thiệu Trị, việc vãng thám Hoàng Sa bị đình hoãn từ năm 1845 do triều đình bận rộn công vụ.
- Tuần tra trên biển: Triều đình định lệ tuần tra hàng năm: thủy quân kinh đô tuần từ tháng 2 đến tháng 7-8; thủy quân địa phương phối hợp tuần tiễu từ tháng 4 đến tháng 10. Binh lính được cấp phát trước 1 đến 4 tháng lương thực, trang bị đại bác, súng trường, kính thiên lý. Vua Gia Long biên soạn sách Hải trình tập nghiệm sách. Vua Minh Mạng cho trang bị thuyền đánh cá nhanh nhẹ cho dân cư hải đảo để tuần thám (năm 1834), chuẩn định thí điểm trang bị tuần biển tại phủ Thừa Thiên (năm 1836) rồi nhân rộng ra cả nước (năm 1838).
- Xây dựng lực lượng thủy quân và pháo đài: Triều đình xây dựng và củng cố hàng loạt công trình phòng thủ ven biển: đài Trấn Hải (cửa Thuận An, sửa năm 1820, 1840), đài Điện Hải và Định Hải (Quảng Nam, dời năm 1823), khơi đào cửa biển Tư Dung và dựng đài phong hỏa Hãn Môn (năm 1825), thủ sở Chu Mãi (năm 1826), thủ sở Định An (năm 1828), hai pháo đài Biện Sơn ở Thanh Hóa (năm 1829), đài An Hải (năm 1830), đặt cơ quan Thuận An tấn thủ (năm 1832), pháo đài Ninh Hải ở Khánh Hòa (năm 1835), Phòng hải pháo đài tại vịnh Trà Sơn – Đà Nẵng trang bị 114 cỗ súng Hồng y và Quá sơn (năm 1840), pháo đài Hổ Cơ và bảo Thi Nại ở Bình Định (năm 1840). Vua Minh Mạng cho thử nghiệm đóng tàu chạy máy hơi nước (năm 1839, chi phí hơn 11.000 quan), cử nhiều đoàn công cán sang Hạ Châu (Singapore), Giang Lưu Ba (Batavia/Jakarta), Tam Ba Lăng, Tiểu Tây Dương (Ấn Độ). Vua Thiệu Trị mua tàu hơi nước Điện Phi (tháng 7/1844, trị giá hơn 280.000 quan), đóng các tàu bọc đồng Điềm Dương, Thanh Hải, Định Hải, đúc 12 cỗ súng thượng tướng quân (năm 1847).
- Chính sách tiễu trừ hải phỉ: Triều đình tổ chức lực lượng đối phó với cướp biển người Thanh ở vùng biển phía Bắc (Quảng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An) và hải tặc Chà Và, Đồ Bà ở vùng biển phía Nam (Bình Thuận, Khánh Hòa, Hà Tiên, Côn Lôn, Phú Quốc). Ban hành quy định phân biệt cờ hiệu (năm 1828), cấp phát kính thiên lý cho các đồn tấn (năm 1829). Ghi nhận các trận đánh tiễu trừ tiêu biểu như trận đảo Y Bích (năm 1826), bắt cướp biển Lý Công Đồng (năm 1827 – 1828), thổ lại mục Phan Huy Bích phá tan đoàn thuyền hải phỉ Nguyễn Bảo và Ngô Á Tam tại vùng biển Vạn Ninh – Hoa Phong (năm 1833), cấp súng điểu thương và giáo trường cho các làng ven biển Nam Trung Bộ tự vệ trước giặc Đồ Bà (năm 1833).
| Tên công trình / Đồn tấn phòng thủ |
Địa bàn thiết lập |
Thời gian xây dựng / Cải tiến tiêu biểu |
Quy mô, trang bị và nhiệm vụ phòng thủ |
| Đài Trấn Hải |
Cửa biển Thuận An (Thừa Thiên) |
Xây năm 1813; gia cố cọc đá 1820; sửa đắp lại 1840 |
Canh giữ cửa ngõ đường biển xung yếu vào Kinh đô Huế; phối hợp cùng cơ quan Thuận An tấn thủ |
| Đài Điện Hải & Đài An Hải |
Vịnh Đà Nẵng (Quảng Nam) |
Điện Hải dời năm 1823; An Hải xây năm 1830 |
Trấn thủ hai bên bờ vịnh Đà Nẵng; trang bị súng đại bác, thuyền ô và thuyền sam bản định ngạch |
| Phòng hải pháo đài |
Vũng Trà Sơn, Đà Nẵng (Quảng Nam) |
Xây dựng tháng 7/1840 |
Do Nguyễn Công Trứ khảo sát, Tôn Thất Tường phụ trách; trang bị 114 cỗ súng Hồng y và Quá sơn |
| Pháo đài Biện Sơn |
Đảo Biện Sơn (Thanh Hóa) |
Xây dựng tháng 3/1829 |
Gồm 2 pháo đài, cột cờ, kho thuốc súng; trang bị 4 cỗ đại bác, 8 cỗ đồng bác quá sơn |
| Pháo đài Ninh Hải |
Vịnh Nha Trang (Khánh Hòa) |
Xây dựng tháng 12/1835 |
Kiểm soát vùng biển sâu và các cù lao; bố trí súng đại bác phòng giữ ba mặt đông, nam, bắc |
| Pháo đài Hổ Cơ & Bảo Thi Nại |
Cửa biển Thị Nại (Bình Định) |
Xây dựng tháng 7/1840 |
Pháo đài Hổ Cơ kết hợp bảo đắp lũy đất Thi Nại đối ngạn, kiểm soát vùng nước sâu núi cao hiểm trở |
| Đài phong hỏa & Đài đốt lửa |
Núi Hãn Môn, cửa Tư Dung, Chu Mãi |
Đắp năm 1825; dựng đài truyền tin năm 1833 |
Đốt lửa phát tín hiệu báo động khẩn cấp dọc bờ biển Thừa Thiên về Kinh thành |
Chương 2: Tư duy hướng biển của các nhà cải cách Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
Chương 2 phân tích các luận điểm cải cách hướng biển của các sĩ phu, trí thức tiến bộ nửa cuối thế kỷ XIX:
- Sự cần thiết phải khai phóng đất nước: Các nhà cải cách nhận rõ nguy cơ mất nước trước sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây; phê phán tư duy bế quan tỏa cảng, cô lập với biển của triều đình; khẳng định mở cửa hướng biển là con đường duy nhất để thoát khỏi tình trạng trì trệ, tăng cường nội lực quốc gia.
- Tư duy quân sự biển: Đề xuất cải cách thủy quân theo mô hình hiện đại phương Tây; chuyển đổi từ chiến thuyền chạy buồm, chèo tay sang tàu chạy máy hơi nước bọc thép; mua sắm và tự đúc vũ khí tối tân; tái cơ cấu hệ thống phòng thủ ven biển, xây dựng căn cứ hải quân chiến lược thay thế cho các pháo đài đất tĩnh tại kém hiệu quả.
- Mở thương cảng biển: Đề nghị triều đình chủ động mở các cửa biển huyết mạch để thiết lập quan hệ thương mại quốc tế rộng rãi; chủ động đón tiếp tàu buôn phương Tây và khu vực để thu nguồn thuế quan lớn, chấm dứt việc cô lập giao thương tại duy nhất cửa Hàn.
- Phát triển kinh tế biển:
- Lập các hội buôn: Khuyến khích tư nhân và nhà nước thành lập các công ty, hội thương mại lớn nhằm tập hợp nguồn vốn, liên kết giới thương nhân bản địa để cạnh tranh với thương nhân ngoại quốc.
- Khuyến khích hoạt động thương mại trên biển: Xóa bỏ các lệnh cấm xuất dương; cho phép đóng thuyền lớn vận tải hàng hóa liên vùng Bắc – Trung – Nam và chở nông sản, khoáng sản ra nước ngoài buôn bán.
- Khai thác tài nguyên biển: Khai thác hải sản, làm muối, khai mỏ khoáng sản ven duyên hải và các hải đảo để làm giàu cho ngân khố quốc gia.
- Mở lớp học dạy về biển: Đề xuất cải cách giáo dục, đưa kiến thức khoa học phương Tây vào giảng dạy; mở các trường chuyên ngành dạy về thiên văn, hải đồ, kỹ thuật đóng tàu, vận hành máy hơi nước, hàng hải học và ngoại ngữ phục vụ cho các hoạt động đi biển đường dài.
- Các đề xuất tiêu biểu của giới cải cách:
- Nguyễn Trường Tộ với hàng loạt bản điều trần tâm huyết gửi vua Tự Đức đề nghị mở cửa thông thương, mua sắm tàu máy hơi nước, thuê chuyên gia phương Tây khai thác tài nguyên và xây dựng quân cảng;
- Bùi Viện trực tiếp sang Mỹ và các nước khu vực tìm kiếm đối tác ngoại giao, thành lập đội thuyền Tuần hải để bảo vệ bờ biển;
- Nguyễn Lộ Trạch với Thời vụ sách và Quỳ ưu lục nhấn mạnh việc dời kinh đô hoặc mở rộng không gian kinh tế duyên hải, chấn hưng thương nghiệp biển;
- Đặng Huy Trứ sáng lập hiệu buôn Lạc Tịnh Trai, cổ vũ thương mại hàng hải;
- Phạm Phú Thứ tích cực truyền bá kiến thức kỹ thuật hàng hải và kinh tế biển của phương Tây sau chuyến đi sứ sang Pháp năm 1863;
- Đinh Văn Điền dâng sớ xin khai mỏ, mở cửa biển và đóng tàu chiến hiện đại.
Kết quả và đóng góp
- Khóa luận hệ thống hóa toàn diện tiến trình phát triển nhận thức về biển của người Việt từ thời kỳ tiền sử, sơ sử qua các vương triều Lý, Trần, Lê, chúa Nguyễn, Tây Sơn đến triều Nguyễn.
- Khảo cứu chi tiết, trích xuất nguồn tư liệu xác thực từ châu bản, thực lục triều Nguyễn về các hoạt động quản lý biển: thống kê danh mục pháo đài, định mức tuần tiễu, phân cấp súng đạn (114 khẩu súng tại đài Phòng hải), giá trị tàu thuyền (tàu hơi nước năm 1839 trị giá hơn 11.000 quan; tàu Điện Phi năm 1844 trị giá hơn 280.000 quan), cùng các hoạt động thực thi chủ quyền liên tục tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thời Gia Long, Minh Mạng.
- Làm rõ mâu thuẫn nội tại trong chính sách biển triều Nguyễn thế kỷ XIX: Triều đình rất chú trọng phòng thủ quân sự và tuần tiễu bờ biển nhưng lại thi hành chính sách bế quan tỏa cảng nghiêm ngặt, cấm đoán ngoại thương, khiến tiềm lực đất nước suy kiệt và không phát huy được lợi thế biển.
- Đóng góp khoa học của đề tài: Đặt tư tưởng của các nhà cải cách nửa cuối thế kỷ XIX vào không gian "tư duy hướng biển", chứng minh đây là bước chuyển biến nhận thức sâu sắc từ "tư duy đất liền" sang "tư duy đại dương", khẳng định tính toàn diện và giá trị vượt thời đại trong các đề xuất canh tân của Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Khóa luận tập trung nguồn tư liệu chủ yếu trong khoảng thời gian nửa cuối thế kỷ XIX dưới triều vua Tự Đức (1847 – 1883), chưa mở rộng khảo sát sâu các tài liệu lưu trữ của Pháp và các nước phương Tây về phản ứng thực tế đối với các chính sách biển của triều đình Huế.
- Tác phẩm mới dừng lại ở việc phục dựng hệ thống quan điểm và đề xuất cải cách qua các bản điều trần, di thảo; chưa có điều kiện đánh giá chi tiết mức độ tác động cụ thể của từng đề xuất đối với xã hội Việt Nam thời kỳ cận đại do phần lớn các điều trần không được triều đình Tự Đức đưa vào thực nghiệm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng so sánh đối chiếu tư duy hướng biển của các nhà cải cách Việt Nam với các phong trào cải cách cùng thời kỳ ở khu vực Đông Á như phong trào Duy Tân Minh Trị (Nhật Bản) và phong trào Dương Vụ (Trung Quốc); nghiên cứu sâu hơn về sự kế thừa tư duy biển của các chí sĩ phong trào Duy Tân, Đông Du đầu thế kỷ XX.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Tư tưởng, Lịch sử Quân sự, Lịch sử Quan hệ Ngoại giao tại các trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, sư phạm.
- Các nhà nghiên cứu về Lịch sử Biển Đảo, Luật Biển, nghiên cứu chủ quyền Biển Đông và lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Phần giá trị nhất đáng tham khảo là hệ thống dữ liệu sử liệu phong phú ở Chương 1 trích từ Đại Nam thực lục, ghi lại tường tận tên các chỉ huy (Phạm Quang Ảnh, Phạm Hữu Nhật), tên tàu thuyền, địa danh pháo đài ven biển, cùng hệ thống quan điểm canh tân kinh tế - quân sự biển ở Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Vua Lý Anh Tông và triều Lý đã có những quyết sách then chốt nào đối với thương mại biển và chủ quyền biển đảo?
Tháng 10/1147, vua Lý Anh Tông cho lập hành dinh tại trại Yên Hưng (Quảng Ninh) để quản lý cửa ngõ sông nước Đông Bắc. Tháng 2/1149, vua cho lập trang Vân Đồn khi tàu buôn các nước Trảo Oa (Java), Lộ Lạc, Xiêm La đến buôn bán, đánh dấu sự hội nhập chính thức của Đại Việt vào mạng lưới hải thương quốc tế. Vào năm 1171 và 1172, đích thân nhà vua đi tuần các hải đảo biên giới Nam Bắc, xem xét hình thế núi sông, vẽ bản đồ và cho đóng nhiều chiến thuyền lớn (Vĩnh Long, Thanh Lan, Trường Quyết, Phụng Tiên, Nhật Long, Ngoạn Thủy).
2. Triều đình nhà Nguyễn đã thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa như thế nào trong nửa đầu thế kỷ XIX?
Vua Gia Long cử đội Hoàng Sa do Phạm Quang Ảnh chỉ huy đi thăm dò đường biển vào tháng 2/1815 và tiếp tục cử thủy quân ra Hoàng Sa vào tháng 3/1816. Năm 1816, nhà vua chính thức xác lập việc chiếm hữu quần đảo. Vua Minh Mạng cho lập đền thờ và dựng bia "Vạn lý ba bình" tại Hoàng Sa vào tháng 6/1835. Tháng 1/1836, vua cử Thủy quân Suất đội Phạm Hữu Nhật ra Hoàng Sa đo đạc từng cồn cát, bãi đá ngầm, cắm tiêu làm dấu và vẽ đồ bản dâng lên ngự lãm.
3. Chính sách đóng cửa đối với phương Tây của triều Nguyễn thế kỷ XIX được thể hiện qua các sự kiện cụ thể nào?
Vua Gia Long cấm thuyền buôn tự ý xuất dương (1816) và khước từ tàu Pháp không có quốc thư (1817). Vua Minh Mạng từ chối tiếp nhận quốc thư và yêu cầu thông thương của phái đoàn Anh do John Crawfurd phái đến (1822), phái đoàn Pháp (1824, 1830), phái đoàn Mỹ do Edmund Roberts dẫn đầu tại Vũng Lẫm (1832); ban lệnh cấm bán tơ cho nước ngoài (1826); cấm người Hoa ở Gia Định đóng tàu buôn đi biển (1837); buộc mọi tàu phương Tây chỉ được ghé duy nhất cửa Hàn - Đà Nẵng (1835). Vua Thiệu Trị khước từ tàu Anh (1847) và vua Tự Đức từ chối tàu Mỹ của Joseph Balestier (1850).
4. Quy chế tuần tiễu biển và biện pháp tiễu trừ hải phỉ của nhà Nguyễn được quy định ra sao?
Nhà Nguyễn phân định thời gian tuần tra: thủy quân triều đình tuần từ tháng 2 đến tháng 7-8; thủy quân địa phương phối hợp tuần từ tháng 4 đến tháng 10; binh lính được cấp phát trước 1-4 tháng lương thực. Năm 1828, triều đình quy định thuyền tuần phải treo cờ, bắn súng nhận diện; năm 1829 cấp kính thiên lý cho các đồn biển. Năm 1833, triều đình ban súng điểu thương và giáo trường cho các làng ven biển Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa để tự vệ chống hải tặc Đồ Bà; đồng thời khen thưởng quan lại đánh dẹp cướp biển như thổ lại mục Phan Huy Bích phá tan giặc biển tại vùng biển Vạn Ninh.
5. Điểm cốt lõi trong tư duy hướng biển của các nhà cải cách nửa cuối thế kỷ XIX là gì?
Các nhà cải cách (Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Đinh Văn Điền) chủ trương đoạn tuyệt chính sách bế quan tỏa cảng; đề xuất mở các thương cảng biển lớn để thông thương quốc tế; thành lập các hội buôn và phát triển đội tàu buôn đại dương; khai thác tài nguyên duyên hải; hiện đại hóa thủy quân bằng tàu máy hơi nước bọc thép; mở trường đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật hàng hải, thiên văn và đóng tàu theo chuẩn phương Tây.
Kết luận
Khóa luận đã tái hiện sinh động và có hệ thống tiến trình tư duy biển của người Việt, đồng thời phân tích sâu sắc bức tranh chính sách biển của triều Nguyễn trong nửa đầu thế kỷ XIX. Công trình làm nổi bật tính chất tiên phong, toàn diện của tư duy hướng biển trong tư tưởng của các nhà cải cách nửa cuối thế kỷ XIX, từ kinh tế, thương mại, quân sự cho đến giáo dục hàng hải. Đây là một công trình nghiên cứu lịch sử nghiêm túc, cung cấp nguồn tư liệu phong phú và luận cứ khoa học xác thực phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử tư tưởng, lịch sử quân sự và chủ quyền biển đảo của dân tộc.