phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, gồm 2 chƣơng: - Chƣơng 1: Tƣ duy biển của ngƣời Việt Nam và chính sách biển của triều Nguyễn trƣớc khi thực dân Pháp xâm lƣợc. - Chƣơng 2: Tƣ duy hƣớng biển của các nhà cải cách Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX. 4 Chƣơng 1 TƢ DUY BIỂN CỦA NGƢỜI VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN CỦA TRIỀU NGUYỄN TRƢỚC KHI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƢỢC 1. Tƣ duy biển của ngƣời Việt trƣớc thế kỷ XIX 1.
Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ X Nằm ở vùng chân dãy núi Himalaya, trong khu vực châu Á gió mùa, nên Đông Nam Á đƣợc coi là một trong những trung tâm xuất hiện sớm của cây lúa nƣớc. Trong lịch sử, cây lúa đã trở thành nguồn sống, là cơ sở kinh tế chủ yếu của ngƣời Việt. Cuộc sống của ngƣời Việt đƣợc gắn liền với nƣớc và phƣơng thức canh tác lúa nƣớc, vì vậy từ xa xƣa ngƣời Việt đã sớm bộc lộ những tƣ duy về sông nƣớc. Sự bộc lộ đó thể hiện rõ trong các truyền thuyết nhƣ Lạc Long Quân - Âu Cơ, Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, Mai An Tiêm, Chử Đồng Tử - Tiên Dung, Dã Tràng, v.
Các triều đình phong kiến Việt Nam cũng đã sớm có ý thức bảo vệ chủ quyền trên biển đảo và xây dựng lực lƣợng thuỷ quân. Nhƣng nhìn chung, cƣ dân ngƣời Việt vẫn chƣa đánh giá đầy đủ vị trí của biển và chƣa chú ý đến biển. Tƣ duy của ngƣời Việt chủ yếu là “tư duy đất liền”, “xa rừng nhạt biển”, coi trọng kinh tế nông nghiệp hơn là khai thác những tiềm năng kinh tế biển.000 km đƣờng bờ biển và là nƣớc có chỉ số duyên hải ISCL (Index of Sea Coastal Line) cao. Chỉ số duyên hải cao và môi trƣờng kinh tế đảo, bán đảo là điều kiện thuận lợi để nƣớc ta có thể thiết lập và mở rộng quan hệ giao thƣơng với thế giới bên ngoài.
Tuy nhiên, ngƣời Việt ít chú trọng khai thác biển. Việt Nam không có nền kinh tế thƣơng mại và hàng hải phát triển, không có nền văn hoá hải dƣơng, khai phóng và hội nhập nhƣ cƣ dân các nƣớc khu vực Địa Trung Hải hay một vài quốc gia ven biển khác trên thế giới. Ngƣời Việt xƣa không có truyền thống đi xa và buôn bán đƣờng dài. Ngƣời Việt có làm cảng ở sông, ở biển, nhƣng chủ yếu là để buôn bán nội vùng, khá hơn là liên vùng trong nƣớc.
Ngƣời Việt thụ động 5 trông chờ ngƣời nƣớc ngoài đến buôn bán mà không chủ động đóng tàu thuyền ra nƣớc ngoài buôn bán. Có thể thấy ngƣời Việt khá bị động trƣớc biển. Mối liên hệ kinh tế văn hoá giữa Đại Việt với các nƣớc Đông Nam Á hay châu Á, ngoại trừ trƣờng hợp Trung Quốc, không thực sự sâu sắc và thƣờng xuyên. Sự hiểu biết của ngƣời Việt về địa lý, lịch sử, kinh tế các nƣớc trên thế giới, kể cả các quốc gia láng giềng cũng rất hạn hẹp.
Đó là một hạn chế của ngƣời Việt Nam trong việc khai thác các thế mạnh và tiềm năng của biển. Vào những thế kỷ sau Công Nguyên, mặc dù đã làm chủ đƣợc hầu khắp vùng đồng bằng sông Hồng và chinh phục đƣợc một số dải đất ven biển nhƣng ngƣời Việt vẫn không thể (và thực tế là không cần) vƣợt ra khỏi không gian kinh tế nông nghiệp truyền thống để tiến ra biển: “Cái không gian sinh tồn cụ thể và độc đáo này đã đào luyện nên tính cách hạ bạn, tâm lý hoá thân vào đồng đất và mở rộng bờ cõi với hướng chảy dọc theo các đồng bằng ven biển”1. Tập quán sinh sống định cƣ gắn chặt với đồng đất và nguồn cung cấp thực phẩm đa dạng, lƣợng thuỷ sản nƣớc ngọt khá phong phú của một không gian địa - kinh tế ẩm, trũng miền chân núi là nguyên nhân chính yếu kiềm toả sức vƣơn ra biển, nhu cầu muốn chinh phục biển khơi của ngƣời Việt. Biển là một thế giới quá mênh mông, mơ hồ và đầy hiểm nguy trong tâm thức của ngƣời Việt.
Ngƣời Việt cũng có truyền thống đóng thuyền đi trên sông nƣớc nhƣng đó chủ yếu là các thuyền đi trong sông, eo, vịnh… chứ chƣa thực sự là thuyền đi biển, có thể vƣợt xa đại dƣơng. Mặt khác, do tác động của tƣ tƣởng trọng nông ức thƣơng, nền thƣơng nghiệp Việt Nam, trong đó có ngoại thƣơng, luôn đƣợc coi là ngành kinh tế phụ, không căn bản. Ngay cả những làng, những vùng có truyền thống ngƣ 1 Nguyễn Văn Kim: “Hệ thống buôn bán ở biển Đông thế kỷ XVI- XVII và vị trí của một số thƣơng cảng Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1, năm 2002, tr. 6 nghiệp, buôn bán trên sông nƣớc vẫn thƣờng có và luôn giữ một khoảnh đất để canh tác nông nghiệp và thờ cúng tổ tiên.
Đặc tính đó thể hiện rõ tƣ duy hƣớng nội là chủ yếu trong tƣ tƣởng kinh tế và văn hoá truyền thống của ngƣời Việt. Trong kho tàng văn hóa dân tộc từ thời dựng nƣớc cũng có rất nhiều huyền thoại, truyền thuyết gắn liền với tâm thức của các cộng đồng cƣ dân về biển. Biển là điểm khởi nguồn đồng thời cũng là nơi trở về của nhiều nhân vật huyền thoại. Huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ kết duyên với nhau sinh ra một trăm ngƣời con để rồi lại phân chia ra, nửa theo Mẹ về Núi, nửa theo Cha xuống Biển, và những khi ở trên Lục quốc có chuyện, Long Quân vẫn luôn trở về đất liền để cứu giúp nhân dân.
Huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ đã thể hiện mối liên hệ giữa Đất và Nước trong tâm thức của ngƣời Việt cổ. Trên một bình diện khác, truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh là sự thể hiện sức mạnh và cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ giữa hai thế lực Núi và Nước. Ngƣời ta hay lấy cuộc hận thù duyên phận giữa hai con ngƣời – hai vị thần tài giỏi để luận giải về truyền thống khai phá, giành giật đất đai, xây dựng hệ thống thủy nông. “Huyền thoại đó còn là ký ức về một cuộc đại chuyển cư, mở mang châu thổ do tác động của quá trình biển tiến, biển lùi trong lịch sử xa xưa của người Việt”2.
Với tập quán canh tác lúa nƣớc thì hiện tƣợng nƣớc dâng lên rồi rút đi là một trong những điều kiện không thể thiếu đƣợc cho sự phát triển trù phú, mùa màng bội thu. Chính vì vậy, từ xa xƣa, ngƣời Việt vừa có tâm lý sợ nƣớc (nhất thủy, nhì hỏa) vừa cầu nƣớc và mong nƣớc về. “Nước là một bộ phận hợp thành của truyền thống văn hóa, khắc đậm trong tư duy, trong quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước và cả 2 Nguyễn Văn Kim: “Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển; nhận thức về biển, đảo trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc”, trích trong cuốn Người Việt với biển, Nguyễn Văn Kim chủ biên, Nxb. Thế giới, HN, 2011, tr.
7 trong thế giới huyền thoại của người Việt cổ”3. Tƣ duy về biển của ngƣời Việt cổ không chỉ đƣợc thể hiện qua các huyền thoại và truyền thuyết từ xa xƣa mà còn đƣợc thể hiện qua các di chỉ khảo cổ học của các nền văn hóa nhƣ Văn hóa biển Hạ Long thời kỳ hậu đá mới, Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Sa Huỳnh của thời đại kim khí hay cả Thể chế biển Phù Nam và Chămpa sau đó. Mặc dù đã có những bằng chứng cho thấy sự tồn tại về một tƣ duy biển của ngƣời Việt cổ trƣớc thế kỷ X nhƣng nó dƣờng nhƣ cũng chƣa mấy rõ ràng. Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang đã trồng dƣa hấu để trao đổi với những tàu buôn đi qua đó lấy các vật dụng và thực phẩm, nhƣng cuối cùng cũng quay trở lại đất liền.
Khi nỏ thần mất tác dụng và bị quân địch đánh cho thua trận, An Dƣơng Vƣơng đã bỏ chạy ra đến bờ biển rồi rút gƣơm tự vẫn. Nghề đánh bắt cá hay cƣ dân sống trên sông nƣớc đƣợc phản ánh trong chuyện cổ tích với những nhân vật nhƣ Trƣơng Chi, Chử Đồng Tử, v.; luôn có vị thế xã hội thấp kém hơn ngƣời và nghề khác. Mối tình của chàng đánh cá Trƣơng Chi với cô gái con nhà quyền quý kết thúc trong bi thảm. Còn Chử Đồng Tử, chàng trai nghèo đến nỗi thân không một mảnh khố, chỉ có thể đổi đời bằng việc kết hôn với công chúa con vua.
Truyền thuyết Dã Tràng thì phản ánh sự bất lực của con ngƣời trƣớc biển: “Dã tràng xe cát biển Đông Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì” Tuy nhiên, chính những tƣ duy sơ khai, ban đầu ấy đã tạo nền tảng cho ngƣời Việt có một tƣ duy đầy đủ hơn về biển trong những thế kỷ sau đó. Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XV Từ thế kỷ X trở đi, sau chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, Việt Nam bƣớc vào kỷ nguyên độc lập tự chủ. Ý thức sâu sắc về 3 Nguyễn Văn Kim: “Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển; nhận thức về biển, đảo trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc”, Sđd, tr. 8 chủ quyền đất nƣớc, các vƣơng triều phong kiến đã có sự quan tâm nhất định tới vấn đề biển đảo.
Các vƣơng triều phong kiến đầu tiên Ngô – Đinh – Tiền Lê đã chú trọng đến việc xây dựng các căn cứ, chốt thủy quân ở vùng Đông Bắc mà trọng tâm là cửa sông Bạch Đằng. Công việc quan trọng đầu tiên của vua Lý Anh Tông (1139 - 1175) (và cũng có thể đƣợc coi là của cả Vƣơng triều Lý) đối với các vùng biển đảo là đặt ra hành dinh ở trại Yên Hƣng (Quảng Ninh) vào tháng 10 - 1147 nhƣ là một cơ quan quản lý của triều đình trung ƣơng đối với cửa ngõ yết hầu sông nƣớc quan trọng nhất của đất nƣớc, cũng nhƣ toàn bộ các vùng biển đảo của quốc gia Đại Việt nói chung. Sau đó, tháng 2 – 1149, nhân việc thuyền buôn 3 nƣớc Trảo Oa (Java, Indonesia), Lộ Lạc và Xiêm La (đều thuộc Thái Lan ngày nay) vào Hải Đông xin cƣ trú buôn bán, vua Lý Anh Tông “bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật địa phương”4. “Vượt ra khỏi ý nghĩa quốc gia về chiến lược phát triển kinh tế, trên phương diện hải thương khu vực và quốc tế, việc nhà Lý lập trang Vân Đồn có ý nghĩa hết sức quan trọng, đánh dấu sự dự nhập của quốc gia Đại Việt vào hệ thống hải thương khu vực và quốc tế qua khu vực Biển Đông”5.