Chương 1: TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ PHÂN PHỐI THEO CÁC YÊU CẦU CỦA WTO VÀ CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM 1. Tự do hóa thương mại- một xu hướng tất yếu của đời sống kinh tế -xã hội 1. Tự do hóa thương mại là gì ? Tự do là một phạm trù quan trọng của triết học và chính trị, nhưng tự do hóa thì lại thường được hiểu như là sự chuyển biến, thay đổi trong các chính sách kinh tế xã hội của Chính phủ theo hướng cởi mở, nới lỏng so với những quy định đã thiết lập trước đó.[1] Thông thường, người ta sử dụng nhóm các thuật ngữ tự do hoá kinh tế, tự do hoá thương mại, tự do hoá thị trường vốn, và gọi chung chúng trong chính sách tân tự do hay chủ nghĩa tự do mới để phân biệt với chủ nghĩa tự do kinh tế, hay chủ nghĩa tự do cổ điển hoặc chủ nghĩa tự do Manchester, là một hệ tư tưởng ủng hộ quyền tư hữu và tự do khế ước. Với chủ nghĩa tự do cổ điển, quyền tư hữu và tự do khế ước (hay tự do hợp đồng) là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, là nền tảng để thực thi các quyền tự do khác.
Vì thế, chủ nghĩa tự do cổ điển quan niệm nền kinh tế và thị thường có khả năng tự điều tiết theo các quy luật riêng của nó, và trách nhiệm của Chính phủ chỉ đơn thuần là dỡ bỏ các rào cản pháp lý hạn chế thương mại và chấm dứt những ưu đãi của Chính phủ đối với một số ít các đối tượng bao cấp hay hưởng độc quyền. Một số kinh tế gia của chủ nghĩa tự do kinh tế còn muốn rằng Chính phủ điều tiết thị trường càng ít càng tốt hay thậm chí không điều tiết gì cả. Một số khác lại chấp nhận các hạn chế mà Chính phủ đặt ra đối với các công ty độc quyền và cartel, một số khác lại tranh luận rằng chính các hành động của chính phủ đã tạo ra các công ty độc quyền và cartel. Chủ nghĩa tự do kinh tế quan niệm giá trị của hàng hóa và dịch vụ nên được quyết định bởi sự lựa chọn tự do của các cá nhân, tức là theo các động lực của thị trường.
Một số thậm chí còn cho rằng cần cho phép các quy luật thị trường hoạt động ngay cả trong những lĩnh vực mà theo truyền thống vẫn do chính phủ độc quyền, như an ninh và tòa án. Chủ nghĩa tự do kinh tế chấp nhận sự bất bình đẳng kinh tế xuất phát từ vị trí thỏa thuận không cân bằng (unequal bargaining position), vì theo họ, nó là kết quả tự nhiên của cạnh tranh, miễn là không có sự cưỡng bách. Chủ nghĩa tư bản chính phủ ít can thiệp và chủ nghĩa tư bản vô chính phủ là các hình thức khác của chủ nghĩa tự do kinh tế. Những năm 1970, với sự bắt đầu của toàn cầu hóa, khi chủ nghĩa tự do kinh tế đối mặt với cuộc khủng hoảng đầu tiên của thế giới về giá dầu mỏ, thì chủ nghĩa tân tự do xuất hiện như là một học thuyết về sự tự do kinh tế quốc tế với nội dung chính là: (1) giảm thiểu các hàng rào thương mại đang hạn chế thị trường trong nước, và (2) quyền lực và ảnh hưởng quốc gia để ép buộc mở cửa thị trường nước ngoài.
Chủ nghĩa tân tự do chấp nhận sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, nhất là vai trò của một ngân hàng trung ương mạnh có khả năng điều tiết kinh tế thông qua chính sách lãi suất. Sau đó, những năm 1990, các chính sách kinh tế tân tự do ("neoliberal”) còn gắn liền với tư nhân hóa công nghiệp (quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước) và mở cửa thị trường nội địa. Là một bộ phận của chính sách tân tự do, nhưng khái niệm tự do hóa thương mại lại được sự ủng hộ mạnh mẽ cả từ chủ nghĩa tự do cổ điển, khi nó diễn đạt một quá trình, một vận động xã hội, có hoặc không có sự ảnh hưởng, sự tương tác, hay sự điều khiển có chủ đích của Nhà nước, định hướng nhằm đạt đến thương mại tự do. Nội dung cơ bản của thương mại tự do, một khái niệm trong nhiều trường hợp bị gắn cho những ý nghĩa chính trị, bao gồm những nét khái quát như sau: - Thương mại tự do về hàng hóa không có thuế quan (hay không bị giới hạn bởi những hàng rào thuế quan); - Thương mại tự do về dịch vụ không bị thuế quan (và những hàng rào cản thương mại); - Tự do lưu chuyển nguồn lao động giữa các quốc gia; - Tự do lưu chuyển vốn – tài chính giữa các quốc gia; - Sự vắng mặt của những chính sách thương mại bảo hộ (như là thuế, tiền trợ cấp, quy định, hay luật) cho những xí nghiệp trong nước, các hộ gia đình, và kể cả cho các yếu tố sản xuất của nước ngoài đang hiện diện tại quốc gia sở tại mà có lợi thế; bên cạnh sự vắng mặt của những chính sách bóp méo thương mại nhằm mục đích củng cố quyền sở hữu để bảo đảm cho quyền lợi của những đối tượng này.[2] Các nội dung trên đây của thương mại tự do diễn đạt hai góc độ: góc độ mô hình, kiểu thị trường và góc độ chính sách thương mại của một Chính phủ.
Vì thế, trong thương mại quốc tế, thương mại tự do được hiểu như là một kiểu thị trường cạnh tranh lý tưởng với phạm vi vượt ra ngoài lãnh thổ một quốc gia, và đồng thời, cũng thường được xem như là một mục tiêu chính trị đa quốc gia, mà sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia này sẽ được thực hiện mà không có sự kiểm soát bằng những chính sách nhập khẩu. Trong giới khoa học kinh tế, thương mại tự do còn được cổ súy bởi những người theo trường phái kinh tế học tân cổ điển và các nhà kinh học tế vi mô. Theo sự diễn đạt của họ, khi lợi ích của thương mại chính là giá trị thực có được của cả hai bên tham gia vào quá trình thương mại, thì thương mại tự do chính là sự gia tăng các giá trị thực cho xã hội. Thế nhưng, trái với lý luận của họ, thương mại tự do hiện đang bị chống đối mạnh mẽ từ phong trào chống toàn cầu hóa với nhữung cuộc biểu tình mà đa số người tham gia là nhân dân lao động tại nhiều quốc gia.
Những người biểu tình cho rằng thương mại tự do đang bị lạm dụng bởi các nước giàu có. Tính hiện thực của xu hướng tự do hóa thương mại Có rất nhiều tranh luận về vai trò, tính chất, ý nghĩa và tác động của toàn cầu hóa, quốc tế hóa trong đời sống xã hội, nhưng mọi người đều đồng ý rằng, theo sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nhất là viễn thông và công nghệ thông tin, quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa đã hiện diện ở khắp nơi trong mọi ngóc ngách của xã hội loài người. Sự hiện diện ở khắp nơi của toàn cầu hóa, quốc tế hóa có thể bắt nguồn và được tiếp sức từ quy luật phát triển và không ngừng mở rộng thị trường tiêu thụ của chủ nghĩa tư bản quốc tế, thì đương nhiên, tự do hóa thương mại cũng khẳng định tính hiện thực của mình trong thương mại quốc tế mà biểu hiện rõ ràng nhất là sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hàng loạt các tổ chức thương mại quốc tế khác để xây dựng các khu vực tự do thương mại, hoặc thị trường chung. Cụ thể, có thể liệt kê một số tổ chức thương mại quốc tế lớn như: - WTO hay Tổ chức Thương mại Thế giới (tên tiếng Anh là World Trade Organization, viết tắt WTO) là một tổ chức quốc tế đặt trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám sát các hiệp định thương mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại.
Hoạt động của WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để tiến tới tự do thương mại. Tính đến ngày 25 tháng 1 năm 2008, WTO có 152 thành viên là quốc gia và vùng lãnh thổ. - NATFA hay Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (tên tiếng Anh là North America Free Trade Agreement, viết tắt là NAFTA): là Hiệp định thương mại tự do giữa ba nước Canada , Mỹ và Mexico , ký kết ngày 12/8/1992, hiệu lực từ ngày 1/01/1994. - EU hay Liên minh Châu Âu (tên tiếng Anh là European Union, viết tắt EU): Ngay từ năm 1987, EU bắt đầu triển khai kế hoạch xây dựng "Thị trường nội địa thống nhất Châu Âu" trước khi hình thành Liên minh kinh tế và tiền tệ trong những năm thập niên 90 của thế kỷ XX, rồi đến Liên minh về chính trị và an ninh.
- AFTA hay Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (tên tiếng Anh là ASEAN Free Trade Area, viết tắt là AFTA) là một hiệp định thương mại tự do đa phương giữa các nước trong khối ASEAN. Hiệp định về AFTA được ký kết vào năm 1992 tại Singapore, với sáu nước ban đầu là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (gọi chung là ASEAN-6). Các nước Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam (gọi chung là CLMV) được yêu cầu tham gia AFTA khi được kết nạp vào khối này. - SAFTA hay Hiệp định Khu vực Thương mại tự do Nam Á (tên tiếng Anh là The South Asia Free Trade Area) được ký tại cuộc họp cấp cao Hiệp hội Hợp tác Khu vực Nam Á tổ chức ơ Pakistan tháng 1/2004, đã chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2006 với sự tham gia của 7 nước thành viên gồm: Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Pakistan, Bhutan, Maldives và Ấn Độ.
Từ thực tiễn đời sống chuyển vào pháp luật, bên cạnh việc hình thành những hiệp định thương mại tự do đa phương với nhiều quốc gia, thương mại tự do còn khẳng định sự hiện diện của mình qua sự bùng nổ của hàng loạt các hiệp định tự do hóa thương mại song phương. Chẳng hạn, chỉ trong đầu năm 2004, người ta vừa chứng kiến một Hiệp định thương mại tự do song phương (viết tắt là FTA) giữa Hàn Quốc và Chi-lê được ký kết và có hiệu lực, thì Trung Quốc và Ấn Độ cũng khởi động đàm phán để ký FTA, và ngay sau đó, một FTA giữa Thái Lan và Úc đã được ký kết. Hơn thế nữa, Thái Lan và Úc đều đang nỗ lực đàm phán để ký kết FTA với Mỹ. Ngoài ra, một FTA giữa Thái Lan và Niu Di-lân sắp trở thành hiện thực.