Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do thực hiện đề tài nghiên cứu, mục tiêu cũng như là câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi thu thập dữ liệu, tổng quan về phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa thực tiễn khi thực hiện bài nghiên cứu này. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp và trình bày các lý thuyết khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trên thế giới về tác động của tự do hóa đến cấu trúc thuế ở các quốc gia, khu vực khác nhau. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Nội dung chương này là trình bày phương pháp, quy trình nghiên cứu, giải thích các biến trong mô hình cũng như nguồn dữ liệu để thu thập và mô tả các đặc điểm của mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này tác giả trình bày thống kê mô tả dữ liệu, kết quả các kiểm định cũng như kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu về tự do hóa thương mại tác động như thế nào đến cấu trúc thuế ở các quốc gia Đông Nam Á.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trong chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, đưa ra kết luận từ kết quả mô hình thực nghiêm, rút ra hàm ý chính sách và nêu lên những hạn chế của đề tài cũng như hướng mở rộng nghiên cứu trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Các khái niệm liên quan 2.
Tự do hóa thương mại 2. Khái niệm Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ,… giữa hai hay nhiều đối tác với nhau và nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác. Trong quá trình này, người bán là người cung cấp các sản phẩm cho người mua, đổi lại người mua sẽ trả lại cho người bán một giá trị tương đương nào đó. Thương mại tồn tại vì nhiều lý do.
Nguyên nhân cơ bản của nó là sự chuyên môn hóa và phân chia lao động, trong đó con người chỉ tập trung vào việc sản xuất hàng hóa hay dịch vụ thuộc lĩnh vực nào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ do người khác cung ứng, Theo cách hiểu trên thì thương mại quốc tế là những hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ ra ngoài lãnh thổ của các quốc gia. Như vậy, thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia khác thông qua các hoạt động xuất, nhập khẩu nên có vai trò đặc biệt quan trọng, là sợi dây liên kết giữa sản xuất và tiêu dùng, là nhân tố quan trọng để thúc đẩy sản xuất, tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển. “Tự do hóa thương mại là quá trình các quốc gia cắt giảm và tiến tới xóa bỏ các rào cản thương mại, bao gồm quá trình cắt giảm các hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan, xóa bỏ phân biệt đối xử tạo lập sự cạnh tranh bình đẳng nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho thương mại phát triển” (TS. Bùi Thị Lý, 2010) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Như vậy có thể hiểu tự do hóa thương mại là tự do trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia mà không có sự kiểm soát bằng những chính sách, rào cản nhập khẩu.
Hiện nay, tự do hóa thương mại được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm đáng kể, thông qua các hiệp định, hiệp ước, các ký hết song phương, đa phương, tạo điều kiện cho việc trao đổi hàng hóa dễ dàng hơn, giảm thiểu về thủ tục hành chính và các hàng rào thuế quan khác. Lý thuyết về tự do hóa thương mại quốc tế Trong các lý thuyết kinh tế thì lý thuyết thương mại quốc tế được xem là có tính hệ thống lôgic với nhau và phát triển nhất. Nó là một hệ thống hoàn chỉnh, phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp lên cao, thể hiện ở chỗ lý thuyết sau luôn có sự kế thừa và phát triển lý thuyết trước và mang tính khoa học ngày càng cao và sát với thực tiễn. Thời gian qua, kinh tế thế giới trải qua nhiều biến động, xã hội ngày càng văn minh, hiện đại; nhưng các lý thuyết thương mại quốc tế như tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, đặc biệt là lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo vẫn còn có giá trị mãi và được các nhà nghiên cứu hiện nay tiếp tục vận dụng vào đời sống và nghiên cứu của mình.
Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối Trong cuốn sách nổi tiếng của mình “Sự giàu có của các quốc gia” xuất bản năm 1776 , Adam Smith đã đưa ra lý luận phản bác quan điểm chủ nghĩa trọng thương cho rằng thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không, ông đề cao sự tự do hóa thương mại. Thông qua “Bàn tay vô hình” các nước sẽ sản xuất các loại hàng hóa có lợi thế nhất đối với họ bằng các nguồn lực hữu hạn. Khi đó, các nước sẽ được hưởng lợi nhiều nhất do chi phí sản xuất là thấp nhất. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Theo Smith, các nước nên chuyên môn hóa vào sản xuất những sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh và sau đó trao đổi những hàng hóa đó lấy những hàng hóa sản xuất bởi những nước khác, tức là đối với loại hàng hóa mà quốc gia có thể mua được từ nước khác với chi phí thấp hơn chi phí sản xuất trong nước thì quốc gia đó không nên tự sản xuất những loại hàng hóa này.
Bằng cách chuyên môn hóa sản xuất những hàng hóa mà mỗi quốc gia có lợi thế tuyệt đối khi tham gia thương mại quốc tế, các quốc gia tham gia đều sẽ thu được lợi ích. Lý thuyết về lợi thế tương đối Để khắc phục những tồn tại trong lý thuyết của Adam Smith, David Ricardo (1917) cho rằng lợi thế tuyệt đối của mỗi nước là ít, đa phần các nước hoạt động thương mại với nhau còn dựa trên các lợi thế tương đối. Quy luật lợi thế so sánh mà Ricardo rút ra là: mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất, nhập khẩu những sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh và xuất khẩu những sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh. Với sự kế thừa và phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Ricardo đã phát hiện ra rằng: Những quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có cơ hội nhận được lợi ích từ tham gia thương mại quốc tế bởi vì mỗi quốc gia đều có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm nào đó và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác.
Thông qua việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi quốc gia đều có lợi ích từ thương mại. Như vậy cơ sở để các nước buôn bán với nhau và cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế chính là lợi thế so sánh. Mô hình Heckscher-Ohlin (mô hình H-O) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Những nhà kinh tế thế hệ sau và theo trường phái Ricardo (còn gọi là Ricardian) tiếp tục nghiên cứu về lợi thế so sánh dựa trên cách tiếp cận khác hơn và mở rộng mô hình nghiên cứu so với Ricardo. Mô hình Ricardo giải thích ngoại thương xảy ra là do sự khác nhau về năng suất lao động giữa các nước.
Trong thực tế ngoại thương xảy ra cũng được phản ánh sự khác nhau về nguồn lực giữa các nước. Theo Eli Hecksher (1879-1952) và B. Ohlin (1899-1979) - hai nhà kinh tế học Thụy Điển - đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, các nước luôn chủ động hướng tới việc chuyên môn hóa các ngành sản xuất cho phép sử dụng các yếu tố sản xuất thuận lợi nhất dẫn đến lợi thế so sánh trong việc xuất khẩu hàng hóa của mình. Chính các lợi thế tự nhiên từ các yếu tố sản xuất (bao gồm: vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu,…) đã làm cho một số nước có chi phí cơ hội thấp (so với sản xuất hàng hóa khác) khi sản xuất một số sản phẩm nào đó.
Mô hình Hechsher-Ohlin nhấn mạnh sự khác biệt về nguồn lực (lao động, vốn, đất đai) là nguồn gốc của ngoại thương. Mô hình này cho thấy rằng lợi thế so sánh cuả một nước được quyết định bởi: - Sự dồi dào tương đối các yếu tố sản xuất cuả một nước - Sự thâm dụng các yếu tố tương đối cuả một loại hàng hoá Mô hình này có những dự đoán tương đối phù hợp với thực tế hơn so với mô hình Ricardo: - Các nước có xu hướng sản xuất hai loại hàng hoá (không có chuyên môn hoá hoàn toàn). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 - Ngoại thương mang lại lợi ích cho một nước nhưng đồng thời cũng gây ra tác động phân phối lại thu nhập bên trong một nước. Lợi thế về cạnh tranh quốc gia Michael Porter cho rằng sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào năng suất lao động của quốc gia đó, trong đó cái cốt lõi của năng suất chính là sự cạnh tranh.
Ông xây dựng trên sự kết hợp về yếu tố sản xuất, nhu cầu trong nước, cạnh tranh trong nước và ngành công nghiệp hỗ trợ. Thương mại và đầu tư phát triển theo hướng tự do hóa để nâng cao năng suất, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn duy trì năng suất cao. Vì thế, các quốc gia tập trung sản xuất mặt hàng mà quốc gia mình có lợi thế và nhập khẩu những mặt hàng của đối thủ nếu như năng suất sản xuất trong nước thấp hơn. Chính phủ có nhiệm vụ thúc đẩy nâng cao năng suất, loại bỏ rào cản thương mại, bảo hộ.
Ngoài ra, chính phủ cũng cần quan tâm phát triển nguồn nhân lực, hạ tầng kinh tế - xã hội. Lý thuyết thương mại mới Krugman (1979) phát triển một lý thuyết hoàn toàn mới về thương mại quốc tế. Lý thuyết của Krugman được xem là một cuộc cách mạng trong tư duy thương mại quốc tế.