Chương I: Tự do hóa tài chính trong khuôn khổ WTO Chương II: Tự do hóa tài chính trong khuôn khổ WTO của Hàn Quốc_Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Chương III: Một số kiến nghị mang tính giải pháp cho tiến trình tự do hóa tài chính của Việt Nam theo WTO nhìn từ kinh nghiệm Hàn Quốc. Do còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của những người quan tâm giúp em bổ sung, hoàn thiện kiến thức cho mình. Em xin trân trọng cảm ơn TS.
Đặng Thị Nhàn, Khoa Tài chính- Ngân hàng đã hết lòng hướng dẫn em thực hiện khóa luận này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cơ quan hữu quan như Viện nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương, Viện kinh tế thế giới, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian tham khảo, tìm hiểu tài liệu, thu thập kiến thức để hoàn thành khóa luận. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH TRONG KHUÔN KHỔ WTO I. Khái niệm tự do hóa tài chính 1.
Khái niệm Xu hướng phổ biến trong mọi nền kinh tế thị trường là khi biên độ tự do hoá đầu tư, tự do hoá thương mại càng được mở rộng, thì tất yếu phải nới rộng tự do hoá tài chính. Xu hướng này đang và sẽ diễn ra với cường độ ngày càng mạnh ở Việt Nam, cùng với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập sâu vào thị trường thế giới. Về khái niệm, theo các chuyên gia, tự do hoá tài chính (TDHTC) là giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ và giao dịch tài chính; các hoạt động tài chính được tự do thực hiện theo tín hiệu thị trường. Nói theo một cách khác, TDHTC là quá trình nới lỏng những hạn chế về các quyền tham gia thị trường cho các bên tìm kiếm lợi ích trong phạm vi kiểm soát được của pháp luật.
Không thể có tài chính tự do hoá hoàn toàn ở bất kỳ một tổ chức hay quốc gia nào. Cách thức, trình tự, mức độ tiến hành tự do hóa tài chính ở các quốc gia là khác nhau, phụ thuộc vào xuất phát điểm, điều kiện của mỗi nước song về cơ bản thì nội dung tự do hóa tài chính là giống nhau. Tự do hóa tài chính có thể chia theo chiều dọc hoặc chiều ngang. Theo chiều dọc, tự do hóa tài chính có thể chia thành tự do hóa trên thị trường tiền tệ và tự do hóa trên thị trường vốn.
Theo chiều ngang thì tự do hóa tài chính được chia thành tự do hóa tài chính trong nước và tự do hóa tài chính quốc tế. Tự do hóa tài chính trong nước Mục đích chính của tự do hóa tài chính trong nước là có được một thị trường tài chính tự do. Nội dung của tự do hóa tài chính trong nước là tự do hóa lãi suất, bãi bỏ kiểm soát tín dụng. Tự do hóa lãi suất Tự do hóa lãi suất được hiểu là nhà nước cho phép các ngân hàng, các tổ chức tài chính được quyền tự do xác định các mức lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay cũng như tự do ấn định các mức phí đối với hoạt động dịch vụ tài chính của mình.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cuối thập kỷ 70 và đầu 80 của thế kỷ XX, tự do hóa lãi suất mới thực sự được đẩy mạnh ở các nước phát triển. Ví dụ như năm 1963, Mỹ vẫn áp dụng “quy chế Q” khống chế trần lãi suất tối đa đối với các khoản tiền gửi tại ngân hàng và các tổ chức nhận tiền gửi của Mỹ. Hay như ở Pháp, ngân hàng trung ương chỉ xóa hạn mức tín dụng và lãi suất trần vào năm 1986- 1987. Tại Nhật Bản, chính sách lãi suất và hạn mức tín dụng được áp dụng tới tận đầu những năm 1990 và phải đến giữa năm 1994 thì chính phủ Nhật Bản mới bắt đầu thực hiện chương trình cải cách tài chính và tập trung vào tự do hóa lãi suất.
Tháng 9/2000, tại Trung Quốc, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) đã lên kế hoạch 3 năm để tự do hóa lãi suất. Các hạn chế đối với việc cho vay bằng ngoại tệ đã được loại bỏ ngay lập tức và tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ tăng lên. Theo kế hoạch, bước tiếp theo là tự do hóa lãi suất cho vay bằng đồng bản tệ. Sự nới lỏng các hạn chế về lãi suất tiền gửi bằng bản tệ là bước cuối cùng.
Giữa năm 2005, PBOC tuyên bố Trung Quốc về cơ bản đã đạt được mục tiêu tự do hóa lãi suất và sẽ duy trì mức trần và mức sàn lãi suất trong một thời gian nữa. Tự do hóa lãi suất được coi là hạt nhân và là vấn đề cốt lõi của tự do hóa tài chính bởi nhờ đó, các luồng tài chính được vận động một cách thống nhất. Tự do hóa lãi suất nói riêng và tự do hóa tài chính nói chung là một xu thế khách quan. Tuy nhiên, quá trình tự do hóa lãi suất phải là một quá trình chuyển đổi từng bước để không gây tác động đột biến cho nền kinh tế.
Nới lỏng kiểm soát tín dụng Là việc xóa bỏ các hạn chế, định hướng hay ràng buộc về số lượng trong quá trình cấp cũng như phân phối tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng và mở rộng tín dụng cho mọi thành phần kinh tế. Việc nới lỏng kiểm soát tín dụng đã được các nước trên thế giới thực hiện. Ví dụ như tại Hàn Quốc, cho đến tận cuối những năm 1980, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BOK) chủ yếu vẫn dựa vào yêu cầu dự trữ bắt buộc để kiểm soát thị trường tiền tệ. BOK đã tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các khoản tiền gửi lên 11.5% vào cuối những năm 80 để giảm bớt lượng tiền mặt do thặng dư tài khoản vãng lai.
Song, do dự trữ bắt buộc làm tăng thêm chi phí đối với các trung gian tài 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính nên BOK lại từng bước giảm dần vai trò của nó. Dự trữ bắt buộc đối với các khoản tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn đã giảm còn 9% vào 4/1996 và 7% vào tháng 11 năm đó. Vào tháng 2/1997, dự trữ bắt buộc một lần nữa được giảm còn 5% đối với các khoản tiền gửi không kỳ hạn và 2% đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn. Tự do hóa tài chính quốc tế 1.
Mở cửa khu vực dịch vụ tài chính Đó là sự mở cửa hoạt động dịch vụ tài chính với thế giới. Nội dung cụ thể của nó là tự do hóa hoạt động của các dịch vụ tài chính, bãi bỏ các quy định cấm đoán, hạn chế mang tính chất hành chính đối với hoạt động của các tổ chức tài chính nước ngoài. Môi trường pháp lý của quốc gia phải phù hợp với thông lệ quốc tế. Mở cửa dịch vụ tài chính không có nghĩa là thả nổi mà chính phủ vẫn phải tiếp tục giám sát khu vực này.
Tác động của việc mở cửa lĩnh vực dịch vụ tài chính: - Tăng áp lực cạnh tranh khiến khu vực dịch vụ tài chính hoạt động hiệu quả hơn, giúp các tổ chức tài chính nội địa có điều kiện cải thiện năng lực quản lý. - Tăng chất lượng dịch vụ tài chính do bao cấp độc quyền được loại bỏ. Người tiêu dùng có cơ hội sử dụng các dịch vụ đa dạng với chi phí thấp. - Tạo điều kiện thiết lập chính sách kinh tế vĩ mô có hiệu quả hơn phù hợp với những điều kiện phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả thông qua việc khai thác tối đa lợi thế kinh tế trong nước và thế giới.
Tuy nhiên, mở cửa lĩnh vực dịch vụ tài chính cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối với các tổ chức tài chính trong nước, đòi hỏi phải có trình độ ngang tầm quốc tế nếu như không muốn thua thiệt ngay trên sân nhà. Tự do hóa tỷ giá Tự do hóa tỷ giá là việc nhà nước điều hành tỷ giá một cách linh hoạt, xóa bỏ việc đưa ra tỷ giá cố định. Trước 1976, hệ thống tiền tệ Bretton Woods (1944- 1971) quy định các nước thành viên IMF phải cam kết gắn đồng tiền của mình với đồng USD, hình thành một tỷ giá trung tâm với USD và chỉ được phép dao động trong biên độ cộng trừ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Năm 1971, hệ thống này đã bị sụp đổ với nguyên nhân chính là do hệ thống tiền tệ này quá phụ thuộc vào sự ổn định của đồng USD.
Sau năm 1976, đặc trưng cơ bản của hệ thống tiền tệ thế giới là chế độ tỷ giá thả nổi. Những thay đổi của tỷ giá chủ yếu là do các yếu tố thị trường, một phần nhỏ mới là do sự điều tiết của Ngân hàng trung ương. Gần đây, Trung Quốc mới quyết định thả nổi đồng nhân dân tệ. Ngày 21/7/2005 trong một thông báo bất ngờ, Trung Quốc đã tuyên bố thả nổi đồng nhân dân tệ.
Quyết định này của NHTW Trung Quốc bao gồm bốn nội dung chủ yếu: thứ nhất, bãi bỏ chế độ ngoại hối cố định mà họ đã thiết lập từ năm 1994 bằng cách thả nổi đồng nhân dân tệ lên xuông theo quy luật cung cầu; thứ hai, Trung Quốc không ràng buộc đồng nhân dân tệ vào đô la Mỹ mà vào một rổ tiền tệ; thứ ba, điều chỉnh tỷ giá đồng nhân dân tệ từ mức 8,24- 8,26 NDT/USD duy trì trong nhiều năm qua lên 8,11 NDT/USD, tức là nâng giá đồng nhân dân tệ lên khoảng 2,1%; thứ tư, đưa ra một biên độ giao dịch của đồng nhân dân tệ trong khoảng trên dưới 0. Tự do hóa tài khoản vốn Tự do hóa tài khoản vốn được hiểu là sự nới lỏng một phần hay hoàn toàn các quy chế kiểm soát các hoạt động liên quan đến các danh mục trên tài khoản vốn như: vốn đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, các nguồn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, tín phiếu… Các luồng vốn đầu tư khi vào và ra khỏi một nước đều chịu sự kiểm soát và các quy định của chính phủ nước đó. Do vậy, tự do hóa tài khoản vốn còn được hiểu là việc nới lỏng các điều kiện về di chuyển dòng vốn. Tự do hóa tài khoản vốn được thể hiện thông qua chính sách thu hút đầu tư, chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, chính sách khuyến khích xuất nhập khẩu của mỗi nước.