Chương 1 MOT SO VAN Dé VE TU LAY VA TAC GIA DƯƠNG HƯỚNG 1. Một số vấn đề về từ láy 1. Khái niệm từ láy Láy là một phương thức cấu tạo từ đặc biệt và quan trọng trong tiếng 'Việt để tạo ra một số lượng từ khá lớn. Đây là hiện tượng đầy lí thú xét cả về phương diện hình thái - cấu trúc cũng như mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng học.
Do vậy, từ láy là một hiện tượng ngôn ngữ đa dạng, phức tạp đã và đang thu. hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Những công, trình nghiên cứu này vẫn chưa thống nhất, dẫn đến cách hiểu khái niệm về từ láy cũng còn nhiều sự khác biệt. Nguyễn Tài Cẩn cho rằng “Từ láy âm là loại từ ghép trong đó, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay, các thành tổ trực tiếp được kết hợp lại với.
nhau chủ yêu theo quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm được thẻ hiện ra ở chỗ. là các thành tổ trực tiếp phải tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tổ siêu. âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tổ âm đoạn tính (phụ âm đâu, âm chính giữa vẫn và âm cuối vẫn)" [25, tr.
‘Theo Nguyễn Hữu Quỳnh quan niệm *7ừ láy (hay còn gọi là từ lắp láy) là những từ ghép gẫm hai hình vị kết hợp với nhau, chủ yếu theo quan hệ ngữ âm. Các thành tô của từ láy có mỗi tương quan với nhau vẻ thanh điệu hoặc về các bộ phận ngữ âm tạo nên các thành tố đó, đông thời chúng tạo nên một nội dung ngữ nghĩa nhất định” [15, tr. Đỗ Hữu Châu định nghĩa “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đồi theo quy tắc biến thanh, tức 10 là quy tắc thanh điệu biển đồi theo hai nhóm: nhóm cao (thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang) và nhóm thấp (thanh huyễn, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay don vị có nghĩa" [24, r9]. Theo Nguyễn Thiện Giáp.
"Ngữ láy âm là những đơn vị được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biển đổi ngữ âm nào đó của từ đã c Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ âm, vừa có gid tri gợi cảm, gota” (24, 9). Diệp Quang Ban cho rằng “Có thể gọi từ láy là nừ phức được tạo ra bằng phương pháp láy âm có tác dụng tạo nghĩa và để tạo ra nhạc tính cho. sự hòa phối âm thanh đổi với một ngôn ngữ vốn giàu nhạc tính như tiếng Việt, sự láy không đơn thuần là sự lặp lại âm thanh của âm tiết ban đầu mà bao giờ cũng kèm theo một sự biển đổi âm thanh nhất định” [2, tr. Hoàng Văn Hành quan niệm *Từ láy, nói chưng, là rừ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệt giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, vừa hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa” [24, r9).
Nguyễn Nguyên Trứ cho rằng “Từ láy đôi trong tiếng Việt hiện địa là một loại từ đơn trong đó có sự láy lại hoặc là toàn bộ âm tiết, hoặc là phân phụ âm déu hay phdn van trong kết cấu âm tiết của hai yếu tổ tạo thành. Giữa hai âm tiết thường có mỗi quan hệ thanh điệu theo những quy luật nhất dink” (24, 9). 'Cùng một khái niệm nhưng đã có. nhiều tên gọi khác nhau như trên cho.
thấy quan niệm về từ láy vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất. Tuy nhiên, chung quy lại ta thấy có hai quan niệm chính vẻ từ lầy: Quan niệm thứ nhất, coi từ láy là từ ghép. Ngoài Nguyễn Tài Cẩn và. Nguyễn Hữu Quỳnh như đã nêu trên thì còn có Lê Văn Lý xem từ láy là một trong hai kiểu từ ghép tiếng Việt; Trương Văn Chỉnh, Nguyễn Hiến Lê đã gộp.
từ láy, từ ghép vào một khái niệm bao quát hơn là từ kép. Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu khác cũng coi từ láy là ghép nhưng đưa ra khỏi phạm vi từ. láy những loại từ sau: Những từ vốn là từ ghép, nhưng một trong hai yếu tố hiện không còn rõ nghĩa, như: chùa chiển, chỉm chó, tuổi tác.: những từ vốn là từ gốc Hán, đó là các từ: bàng hoàng, hỗn độn, hùng hồ.; những từ là danh từ định danh sự vật: bư ba, cào cào, chuỗn chuỗn, tu hư. ; những tổ hợp, thực chất chỉ là sự lặp lại của một đơn vị từ vựng: ai ai, đêm đêm, ngày ngày, người người.
Theo sự loại trừ như trên, từ láy chỉ bao gồm những từ được tạo ra bằng phương thức láy, trong đó mỗi từ có nhiều nhất là có một tiếng gốc. Vì đặc điểm từ láy là có sự hài hòa về ngữ âm và có sự biểu cảm. gợi tả, nhưng xét đặc điểm các đơn vị cấu tạo từ láy so với từ ghép. Có thể coi từ láy.
cũng là một hiện tượng ghép đặc biệt, một đơn vị được ghép với chính nó để tạo ra một đơn vị mới hay nói cách khác từ láy là một loại từ ghép thực bộ phận gồm hai từ tố một từ tố vốn là nguyên vị thực và một từ tố vốn không phải là nguyên vị thực có quan hệ lắp láy với nhau. Có thể gọi nó là từ ghép. thực bộ phận lắp láy, hoặc gọn hơn từ ghép lắp láy. Quan niệm thứ hai cho rằng, láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biêu trưng hóa.
Cách nhìn này thể hiện ở sự nhận định cho rằng trong tir lay có sự. chỉ phối của quy luật hài âm hài thanh. Láy là phương thức cấu tạo từ trong. đó có mối tương quan giữa âm và nghĩa một cách nhất định.
Trong tương quan ấy có một tính chất tự nhiên, trực. ếp như cào cào, chuồn chuôn, ba ba. hoặc được cách điệu hóa, tỉnh tế hơn như: lom khom, lác đác, ling lánh. Sự cách điệu ấy chính là sự biểu trưng hóa ngữ âm.
Cho nên, láy là sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa. Ở quan điểm này chú ý cả về mặt âm và nghĩa, tín hiệu ngôn ngữ nên có thể thấy nó sẽ có nhiều ưu điểm hơn quan điểm coi từ láy là ghép. Nếu chỉ xét từ láy về mặt cấu tạo thì hoàn toàn có thể lí giải láy là ghép. Nhưng như vậy sẽ không giải thích được mục đích của hiện tượng láy, láy để làm gì và vì sao cùng một tiếng gốc lại có thể tao ra nhiễu từ lầy khác nhau? Mặt khác cách nhìn này vừa xem xét láy trong quá trình cấu tạo của nó, vừa xem xét nó trong hành chức với tư cách một tín.
hiệu đặc thù của ngôn ngữ. Do đó, cách coi từ láy là sự hòa phối ngữ âm có. tác dụng biểu trưng hóa khác về bản chất so với cách nhìn coi láy là ghép. Bởi nếu như cách nhìn coi láy là ghép thì hướng tới mặt hình thức, cấu trúc thì cách nhìn thứ hai lại hướng tới mat cấu trúc và mặt chức.
năng của từ lầy. Qua các ý kiến, nhận định về từ láy nêu trên, chúng tôi cho rang, tir lay 'bao gồm những đặc điểm: từ láy là từ đa tiết có quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ. âm thể hiện ở sự hòa phối và sự lặp lại về âm giữa các thành.
Chính sự lặp lại và hòa phối này đem lại tính biểu trưng về nghĩa cũng như. sắc thái biểu cảm của từ láy. Phân loại từ láy Từ láy được cấu tạo theo phương thức hòa phối ngữ âm, vì thé khi xem xét từ lầy, mặt ngữ âm cần phải được coi là dấu hiệu cơ bản. Với tư cách là phương tiện tạo nên tính biểu trưng, hình tượng, sự hòa phối ngữ âm trong từ.
láy phải có quy luật rõ ràng. Quy luật này không những thể hiện ở những chỗ. giống nhau mà còn thể hiện ở chỗ khác nhau đều đặn giữa các thành tổ trong. Từ láy hiện nay thường được phân loại trên hai cơ sở: số lượng âm tiết trong từ láy và sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành tổ trong từ láy do cách phối hợp ngữ âm tạo nên.
Căn cứ theo số lượng tiếng trong từ láy 13 Căn cứ trên cơ sở này chúng ta có các kiểu từ láy hai tiếng, từ lầy ba tiếng, từ láy bồn tiếng mà trong truyền thống nghiên cứu từ láy thường gọi là. từ láy đôi, từ láy ba và từ láy tư. ~ Trong cách phân loại này từ láy đôi chiếm vị trí hàng đầu. Không chỉ chiếm số lượng lớn nhất trong tổng số các từ láy tiếng Việt, mà chính là vì ở.
từ láy đôi, tất cả các đặc trưng cơ bản thể hiện bản chất của hiện tượng láy cả ở bình diện thể hiện bằng âm thanh lẫn bình diện ngữ nghĩa đều được bộc lộ. ~ Từ láy ba trong tiếng Việt không nhiều lắm, theo thống kê trên tư liệu chỉ khoảng vài chục từ. Đó là những đơn vị gồm có ba tiếng, có sự hòa phối ngữ âm với nhau. Có khá nhiều từ láy ba còn tổn tại song song với từ láy đôi tương ứng.
Ví dụ: tuỐt tuẪn wgt ©_ tuỐt tuột té0 to teo © 160 teo/ teo teo cổn concon ® củn con xốp xồm xộp ®_ xốp xộp ding dig dung ding dung Sát sàn sạt ©® sátsạt sạch sành sanh © sạch sanh/sành sạch khít khn khit ©- khít khịt tong tang tong tng tong win ett Khác với từ láy đôi, tắt cả cá từ láy ba trong tiếng Việt đều có một điểm chung: trong ba âm tiết tạo nên từ láy ba, luôn luôn có một âm tiết e6 khả năng sử dụng độc lập và có ý nghĩa từ vựng, thường được gọi là yếu tố gốc, chưa gặp trường hợp cả ba âm tiết vô nghĩa trong từ lấy ba. Có thể thấy rằng từ láy ba là kết quả của hai lần lặp lại tiếng gốc bằng cách biến đổi thanh điệu theo những quy tắc nhất định. Nói rõ hơn, để hình thành từ láy ba ta cần có một yếu tố (thường là đơn tiết, muốn nhấn. mạnh, ta tăng cường mức độ nghĩa gốc của yếu tố này lên một bậc cao.
hơn bằng cách lặp lại nó hai lần bằng cách biến đổi thanh điệu theo những. quy tắc nhất định. Quy tắc thường gặp là: 'Yếu tổ thứ hai (tiếng thứ hai) của từ láy ba thường là thanh bằng (phổ. biến là thanh huyền, thanh không ít gặp hơn: lơ rơ m).