Chương 1. Văn hóa dân gian, cơ sở hình thành truyện ký đời Trần: gồm 24 trang (từ trang 20 đến trang 44). Chương này sẽ đi vào giới thiệu tổng quan diễn trình văn hóa dân gian Việt Nam từ khởi thủy cho đến đời Trần và đặc trưng thể loại truyện ký đời Trần. Nền văn hóa dân gian Việt Nam sẽ được nhìn nhận trong mối tương quan với không gian văn hóa Đông Nam Á cổ với hai đặc trưng nổi bật trong tiến trình phát triển, đó là: nền văn hóa dân gian mang tính bản địa thời Văn Lang Âu Lạc và nền văn hóa mang tính hỗn dung thời Bắc thuộc và thời kỳ đầu độc lập (X – XIV).
Việc phát triển văn hóa dân gian dân tộc với hai đặc trưng nói trên chính là nền tảng cho sự ra đời các tác phẩm truyện ký đời Trần. Truyện ký đời Trần, tự sự trầm tích văn hóa bản địa: gồm 54 trang (từ trang 45 đến trang 99) Chương hai đóng vai trò chủ đạo, đề cập đến đặc trưng thứ nhất của văn hóa dân gian được lưu lại trong các tác phẩm truyện ký đời Trần, đó là dấu ấn văn hóa bản địa thời Văn Lang – Âu Lạc. Việc gìn giữ nền văn hóa bản địa trong các tác phẩm được thể hiện qua việc trầm tích các huyền thoại cổ xưa của dân tộc, gồm: việc trầm tích huyền thoại thời lập quốc (huyền thoại khẳng định nguồn gốc dân tộc, huyền thoại về sự hình thành và phát triển cộng đồng, bộ tộc và huyền thoại về hành trình mở rộng lãnh thổ); việc trầm tích tín ngưỡng sùng bái tự nhiên (thể hiện qua hệ huyền thoại về núi rừng và hệ huyền thoại về sông nước); việc trầm tích đặc trưng nguyên lý Mẫu (một nét đẹp văn hóa bản địa) và sự thể hiện đặc tính nguyên hợp của văn hóa bản địa. Truyện ký đời Trần, tự sự hình thành hệ huyền thoại mới gắn với sự du nhập các tôn giáo khác: gồm 30 trang (từ trang 100 đến trang 130) Chương ba đề cập đến đặc trưng thứ hai của văn hóa dân gian tác động đến các tác phẩm truyện ký, đó là tính hỗn dung văn hóa ở thời Bắc thuộc và thời kỳ 19 đầu độc lập.
Yếu tố hỗn dung văn hóa chính là một thành tố góp phần tạo nên nét đặc sắc cho những tác phẩm truyện ký đời Trần. Việc du nhập những tôn giáo, văn hóa của các nước khác đã tác động đến đặc trưng văn hóa bản địa gốc. Trong quá trình tiếp nhận, nền văn hóa bản địa tiếp tục vận động, những biểu tượng huyền thoại được phát triển thành hệ thống huyền thoại, góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc. Bên cạnh đó là sự hình thành những huyền thoại mới từ sự hỗn dung văn hóa, trong đó, nổi bật là những huyền thoại mới từ sự kết hợp với Đạo giáo, Phật giáo Trung Hoa, Phật giáo Ấn Độ và văn hóa, tôn giáo Chăm.
20 CHƯƠNG 1 VĂN HÓA DÂN GIAN – CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRUYỆN KÝ ĐỜI TRẦN 1. DIỄN TRÌNH VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM TỪ KHỞI THỦY ĐẾN ĐỜI TRẦN 1. Văn hóa Việt trong không gian văn hóa Đông Nam Á 1. Đông Nam Á cổ đại và sự hình thành không gian văn hóa người Việt Theo nghiên cứu của các cổ sử gia, vào thời kỳ tiền sử, ở khu vực Đông và Nam Á, bên cạnh hai nền văn hóa lớn mà hầu hết mọi người đều biết là nền văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ, còn có một vùng văn hóa khác cũng được hình thành từ khá sớm, với những nét đặc trưng riêng, đó chính là nền văn hóa Đông Nam Á cổ đại1.
Căn cứ trên nhiều cứ liệu, trong đó có một phần quan trọng từ những khám phá của ngành khảo cổ học, các nhà nghiên cứu cổ sử nhận định vùng Đông Nam Á cổ đại có diện tích rộng lớn hơn vùng Đông Nam Á ngày nay nhiều, bao gồm diện tích của 11 quốc gia như hiện nay cộng với vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Theo mô tả của các sử gia, diện tích của Đông Nam Á cổ đại được xác định: phía Tây kéo dài đến biên giới Assam (Ấn Độ), phía Đông đến quần đảo Philippines, phía Nam đến quần đảo Nam Dương (Indonesia) và phía Bắc đến bờ Nam sông Dương Tử (sông Trường Giang). Theo nhà nhân học văn hóa người Anh, A. Lang, “Những điều kiện giống nhau về tinh thần sẽ làm sản sinh ra những tập quán giống nhau, không phụ thuộc vào việc các dân tộc có chung một nguồn gốc hay có sự vay mượn tư tưởng hay lối sống của nhau hay không” [14, tr.
Điều này cũng thể hiện rõ trong đời sống tinh thần của những cộng đồng cư dân Đông Nam Á cổ đại. 1 Chúng tôi sử dụng thuật ngữ Đông Nam Á cổ đại để phân biệt với khái niệm Đông Nam Á mà chúng ta biết đến hiện nay, bởi về không gian địa lý, đặc trưng văn hóa, Đông Nam Á cổ đại có nhiều điểm khác biệt với Đông Nam Á ngày nay. Theo nghiên cứu của khảo cổ học, ngay từ thời đồ đá cũ đã xuất hiện sự sinh sống của các tộc người tại khu vực này. 21 Về sản xuất, cư dân vùng Đông Nam Á cổ đại sớm hình thành việc trồng lúa nước và chăn nuôi để duy trì cuộc sống, sử dụng các vật liệu bằng đồng, sắt để chế tạo nông cụ, vũ khí và cả các vật dụng phục vụ cho đời sống tinh thần (như các đồ tế lễ, nhạc cụ, trống đồng…).
Về mặt xã hội, các tộc người Đông Nam Á cổ đại chủ yếu sống theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có vai trò quyết định trong gia đình và xã hội. Do cuộc sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, người dân vùng Đông Nam Á cổ đại sớm hình thành đời sống tinh thần phong phú với các tín ngưỡng thờ tự nhiên. Với diện tích rộng lớn, đặc điểm địa lý đa dạng (bao gồm các loại địa hình rừng núi, đồng bằng, biển, đảo), Đông Nam Á cổ đại có nhiều tộc người sinh sống trên khắp các vùng miền2. Đến khoảng thế kỷ V tr.CN, các tộc người này đã tạo dựng nên những tiểu vùng văn hóa khá phát triển.
Chính điều này đã tạo nên sắc thái đa dạng của đặc trưng văn hóa Đông Nam Á cổ đại. Mặc dù mỗi dân tộc xây dựng cho mình một nét văn hóa riêng, tạo nên nét văn hóa đa sắc thái, đa dạng, song hội chung lại, các tiểu vùng văn hóa ấy đều cùng thuộc trong vùng văn hóa Đông Nam Á cổ đại chung, cùng mang những đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa. Đây là đặc điểm mà các sử gia gọi là sự “thống nhất trong đa dạng”. Nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước ở Đông Nam Á cổ đại mang nhiều đặc trưng riêng, do sự chi phối của điều kiện địa lý và khí hậu.
Chính vì vậy, người dân trong cùng một bộ lạc phải cùng liên kết với nhau, cùng chống lại những cản trở không thuận lợi cho việc gieo trồng (bão lũ, hạn hán,…). Sự đoàn kết trong quá trình sản xuất có thể được xem là khởi đầu hình thành tư duy thống nhất dân tộc. Trong tiến trình phát triển, trước sự xâm nhập của hai nền văn hóa lớn, Trung Hoa và Ấn Độ, dù muốn hay không, các dân tộc ở vùng Đông Nam Á cổ đại cũng đều chịu sự ảnh hưởng, đã tiếp nhận, dung nạp thêm những yếu tố văn hóa từ bên ngoài. Tùy từng khu vực địa lý, đặc điểm lịch sử mà mỗi tộc người có mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với từng nền văn hóa du nhập.
Với sự tiếp biến văn hóa 2 Theo nghiên cứu của các nhà dân tộc học, vùng Đông Nam Á cổ đại là nơi sinh sống của các tộc người thuộc các ngữ hệ: Nam Á, Nam Đảo, Tày Thái, Hán Tạng và Việt Mường. 22 ngoại lai, cơ tầng văn hóa Đông Nam Á cổ đại bị biến đổi mạnh. Điều này thể hiện ngay trong cách mà người phương Tây (Pháp) trước đây gọi tên các nước ở khu vực này, Indo - China (hay bán đảo Trung Ấn, ghép lại của hai cái tên Ấn Độ và Trung Hoa). Tuy nhiên dù chịu ảnh hưởng sâu sắc các nền văn hóa nói trên, nền văn hóa bản địa vốn phát triển mạnh trước đó không hoàn toàn biến mất.
Nền văn hóa ấy đã được người dân lưu giữ và nhờ đó vẫn tồn tại bên trong đời sống tinh thần của mỗi dân tộc, đã tạo nên nét đặc trưng văn hóa riêng của từng dân tộc, chứ không đơn thuần chỉ là những đất nước ngoại vi, vay mượn, mô phỏng văn hóa của Trung Hoa và Ấn Độ như quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu phương Tây trước đây. Sự hình thành nền văn hóa người Việt gắn liền với sự hình thành cơ tầng văn hóa Đông Nam Á cổ đại. Theo như diện tích vùng Đông Nam Á cổ đại, đặc biệt dựa trên những phát hiện của khảo cổ học, lịch sử phát triển các nền văn hóa của vùng (văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Đông Sơn…) tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc nước ta3. Từ đó, có thể nhận định, nước ta chính là khu vực trung tâm phát triển của vùng văn hóa Đông Nam Á cổ đại.
Ngoài ra, với đặc điểm địa lý đa dạng (bao gồm cả núi, đồng bằng, biển), là nơi sinh sống của nhiều tộc người (thuộc cả 4 ngữ hệ), nhiều nhà nghiên cứu nhận định đất nước Việt Nam có thể xem như là một Đông Nam Á thu nhỏ, có cơ tầng văn hóa đa dạng. Tiến trình phát triển văn hóa cổ người Việt chính vì vậy được xem là song song với tiến trình phát triển của Đông Nam Á cổ đại. Chính bởi đặc trưng đa dân tộc, mà các dân tộc lại có trình độ phát triển không đồng đều, nên ngày nay, dấu tích của nền văn hóa cổ đại vẫn còn lưu lại ít nhiều trong đời sống, phong tục tập quán của một số dân tộc thiểu số sống trong các địa bàn vùng cao của nước ta. Đây cũng chính là một trong những nguồn căn cứ để các nhà sử học tìm minh chứng cho những luận thuyết lịch sử dân tộc của mình.
3 Theo nghiên cứu khảo cổ học, di chỉ vùng văn hóa Hòa Bình chủ yếu được tìm thấy ở tỉnh Hòa Bình, di tích vùng văn hóa Bắc Sơn được tìm thấy phần lớn ở huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) và di tích vùng văn hóa Đông Sơn được tìm thấy nhiều ở huyện Đông Sơn (tỉnh Thanh Hóa). Tên gọi cho các vùng văn hóa cũng căn cứ theo các di chỉ nơi phát hiện ra các di tích ấy.