Tổng quan luận án

Đề tài "Truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa tộc người" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mai Quyên thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2021), thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (mã số 62.25), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Vũ Anh Tuấn và PGS.TS. Nguyễn Thị Huế.

Luận án xuất phát từ tính cấp thiết trong việc nghiên cứu diện mạo văn hóa tộc người Thái – một tộc người xuyên quốc gia có dân số đông và lịch sử cư trú, thiên di lâu đời tại Việt Nam. Trong kho tàng văn học dân gian Thái, bộ phận truyện kể địa danh chưa được tập hợp và xử lý tương xứng với bề dày lịch sử và không gian phân bố của tộc người. Địa danh không đơn thuần là danh từ riêng chỉ tọa độ địa lý mà còn là thực thể ngôn từ mã hóa các vỉa tầng lịch sử, thế giới quan và nếp sống cộng đồng. Trong bối cảnh văn hóa dân gian đang đứng trước nguy cơ mai một, việc nghiên cứu có hệ thống truyện kể địa danh từ hướng tiếp cận liên ngành văn hóa tộc người là một yêu cầu cấp thiết nhằm bảo tồn di sản truyền khẩu.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Đóng góp vào công tác sưu tầm, hệ thống hóa và công bố nguồn tư liệu truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam.
  2. Tìm hiểu các giá trị lịch sử, văn hóa ẩn chứa trong truyện kể địa danh; nhận diện các hằng số và cách thức tư duy biểu trưng của tộc người thông qua thi pháp cốt truyện và nội hàm của hệ thống biểu tượng.
  3. Phác họa mô hình không gian xã hội Thái thông qua các mối quan hệ xã hội cơ bản được phản ánh trong truyện kể, làm rõ phương thức người Thái xác lập và củng cố bản sắc văn hóa qua không gian và thời gian.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tập hợp các văn bản truyện kể địa danh qua khảo sát điền dã và rà soát nguồn thư tịch thành văn; tiến hành thống kê, phân loại và phân bố theo khu vực địa lý.
  2. Xác định cơ sở lý luận về khái niệm, phân loại thể loại và làm rõ các bình diện nội dung phản ánh trong truyện kể địa danh Thái.
  3. Phân tích các dạng thức kết cấu cốt truyện theo nhóm thể loại; giải mã nguồn gốc, biểu hiện và ý nghĩa của các biểu tượng tiêu biểu (biểu tượng nước, biểu tượng nỏ).
  4. Phân tích các mối quan hệ xã hội cấu thành không gian xã hội tộc người từ ngữ liệu truyện kể địa danh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận truyện kể như một sự kiện xã hội tổng thể dưới góc nhìn văn hóa tộc người, vận dụng lý thuyết ngữ văn dân gian, ký hiệu học - nhân học biểu tượng và lý thuyết không gian xã hội.
  • Phạm vi tư liệu: Tổng cộng 116 truyện/mẩu truyện kể địa danh Thái, thu thập từ thực địa điền dã tại các địa bàn cư trú của người Thái (như Vân Hồ, Mộc Châu thuộc Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa, Yên Bái...) và trích xuất từ các công trình nghiên cứu, địa chí, kỷ yếu hội thảo Thái học đã xuất bản.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật lịch sử nghiên cứu theo 4 nhóm tư liệu và công trình chính:

Nghiên cứu của học giả quốc tế

  • Học giả phương Tây: Albert Louppe (1934) với Muongs de Cua-Rao khảo sát dân tộc chí người Thái tại Cửa Rào; Ch. Robert với Notes sur les Tay Deng de Lang Chanh – Thanh Hoa – An Nam ghi chép phong tục; Henri Maspero (1950) trong Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc khảo sát thần thoại Tạo Suông Tạo Ngần, sự tích hạt lúa của người Thái đen; Gerald C. Hickey trong Systems of Northern Vietnam phân tích huyền thoại thiên di; Georges Condominas (1976) với Bài tiểu luận về hệ thống chính trị Thái trong công trình Không gian xã hội vùng Đông Nam Á gợi mở việc khảo sát không gian "mường".
  • Học giả Trung Quốc: Ban Cố (Hán thư), Lịch Đạo Nguyên (Thủy Kinh chú sớ); các công trình nghiên cứu địa danh hiện đại của Dương Lập Quyền và Trương Thanh Hoa (2011), Tống Cửu Thành (2013); nghiên cứu chuyên sâu về địa danh Thái của Đới Hồng Quang (2005, 2008), Ngô Trạch (2010), Lý Dật Hoa và Lưu Á (2012), Lý Ánh Hoa (2012), Tế Đổ Tường (2012) phân tích địa danh Thái tộc tại Vân Nam, Cảnh Mã, Phổ Nhĩ, Na Mãnh.

Nghiên cứu địa danh trong văn học dân gian tại Việt Nam

  • GS. Đinh Gia Khánh (1974) khảo sát danh từ riêng trong truyện cổ tích; GS. Trần Quốc Vượng (1976) khảo sát tên riêng trong truyền thuyết thời dựng nước; Nguyễn Thị Bích Hà (1983, 1986) nghiên cứu truyền thuyết địa danh vùng Hồ Tây và nguồn gốc truyện kể địa danh; Trần Thị An (1999) nhận diện truyện kể địa danh từ góc nhìn thể loại; Thái Hoàng (1999) phân tích quan hệ giữa truyền thuyết và địa danh; Trần Tùng Chinh (2000), Nguyễn Hữu Hiếu (2004), Lê Thị Diệu Hà (2007) khảo sát địa danh Nam Bộ; Trần Xuân Toàn (2002), Võ Minh Hải (2010) nghiên cứu ca dao địa danh Bình Định; Lê Đức Luận (2006) nghiên cứu ca dao Hà Nội; Phạm Tiết Khánh (2007) khảo sát truyền thuyết địa danh Khmer; Nguyễn Nhã Bản (2009) nghiên cứu địa danh trong tục ngữ Nghệ Tĩnh; Nguyễn Hữu Hiệp (2011) nghiên cứu địa danh An Giang.

Nghiên cứu địa danh và truyện kể địa danh Thái ở Việt Nam

  • Đặng Việt Bích (2004) viết về địa danh Mường Thanh; Trần Thị Phương Hằng (2009) nghiên cứu cấu tạo ngôn ngữ của hơn 900 địa danh Điện Biên; Quán Vi Miên (2011) biên soạn Địa danh Thái - Nghệ An; Hoàng Việt Quân (2012) với Địa danh Yên Bái sơ khảo; Nguyễn Thị Phương Trà (2014) khảo sát địa danh Mộc Châu; các bài viết tại Hội nghị Thái học lần VII (2015) của Lê Thị Hiền, Nguyễn Thị Việt Thanh, Điêu Văn Thuyển; Phạm Đặng Xuân Hương (2016) khảo sát kiểu truyện sự tích địa danh; công trình luận văn thạc sĩ năm 2010 của chính tác giả Nguyễn Thị Mai Quyên (bước đầu khảo sát 56 truyện).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Hầu hết các công trình trước đây chỉ tiếp cận địa danh Thái thuần túy từ góc độ ngôn ngữ học, địa chí học, hoặc xem địa danh là chi tiết bổ trợ trong truyền thuyết lịch sử. Chưa có công trình nào tập hợp một cách hệ thống kho tàng truyện kể địa danh Thái trên phạm vi toàn quốc và tiến hành khảo cứu toàn diện mối liên hệ hữu cơ giữa địa danh (tên đất), tác phẩm ngôn từ dân gian và bối cảnh văn hóa tộc người sinh thành ra nó.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Hướng tiếp cận văn hóa tộc người: Dựa trên quan niệm của nhân học văn hóa (Franz Boas) và phân biệt dân tộc học giữa tộc người (ethnie - xác định bởi ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người) với quốc gia dân tộc (nation). Luận án xem văn hóa tộc người là chỉnh thể tích hợp các tri thức, tập quán, ứng xử của cộng đồng với tự nhiên và xã hội. Truyện kể dân gian được xem như một "mã văn hóa" lưu giữ ký ức tập thể của người Thái.
  2. Lý thuyết biểu tượng: Kết hợp nguyên lý ký hiệu học của Claude Lévi-Strauss (hệ thống siêu ký hiệu) với nhân học biểu tượng của Edith Turner, Raymond Firth và Đinh Hồng Hải. Biểu tượng được giải mã không chỉ ở bình diện hình thức văn bản mà đặt trong ngữ cảnh đời sống thực hành văn hóa, nghi lễ và tín ngưỡng. Kế thừa các hướng nghiên cứu của Nguyễn Xuân Kính, Trần Thị An, Nguyễn Thị Thanh Lưu, Đặng Thị Oanh.
  3. Lý thuyết không gian xã hội: Ứng dụng mô hình của Georges Condominas (L'Espace social à propos de l'Asie du Sud-Est), định nghĩa không gian xã hội là không gian được xác định bởi tập hợp hệ thống quan hệ đặc trưng của một nhóm người (quan hệ không gian, thời gian, môi trường, kinh tế, giao tiếp ngôn ngữ và quan hệ thân tộc/hôn nhân).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích ngữ văn dân gian: Thao tác chủ đạo nhằm bóc tách đặc điểm thi pháp, kết cấu cốt truyện, thể loại và ngôn từ của tác phẩm.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học (Fieldwork & Participant Observation): Thu thập lời kể, phỏng vấn nghệ nhân, quan sát tham dự dài hạn tại thực địa (đặc biệt tại bản Mường An, xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu, Sơn La và các vùng phụ cận).
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh các dị bản truyện kể giữa các vùng Thái (Tây Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An) và đối chiếu giữa các thể loại văn học dân gian (truyện kể, truyện thơ, ca dao, tục ngữ).
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phối hợp tri thức của văn học dân gian, ngôn ngữ học, dân tộc học, sử học và địa lý học nhân văn.

Nguồn tư liệu khảo sát

Tư liệu gồm 116 truyện/mẩu truyện kể địa danh Thái (thống kê tại Phụ lục 2), kết hợp giữa nguồn điền dã thực tế và nguồn xuất bản thành văn từ các tuyển tập truyện cổ, địa chí, kỷ yếu hội thảo (thống kê tại Phụ lục 1).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận và bức tranh thực tiễn về bối cảnh văn hóa tộc người Thái:

                     (Di cư từ Nam Trung Quốc xuống Mường Lay, Mường Thanh từ thế kỷ VIII-XIII)
                     ==> Luận án nghiêng về hướng nhìn nhận lịch sử thiên di nhiều thế kỷ.
  • Vấn đề phân biệt các ngành Thái:
    • Luận án phân tích sự phân chia ngành Thái Trắng (Tay Khao) và Thái Đen (Tay Đăm) dựa trên cơ chế phân đôi bào tộc cổ đại (tiếp thu luận điểm của Lê Sĩ Giáo).
    • Về khái niệm "Thái Đỏ" (Tay Đeng): Luận án rà soát các ý kiến trái chiều (Gedney, Suriya Ratanakul, Đặng Nghiêm Vạn, Đào Văn Tiến đối lập với R. Robert, Cầm Trọng, Vi Văn An, Phan Lương Hùng). Kết hợp kết quả điền dã tại Mộc Châu, tác giả khẳng định Tày Đeng không phải là một ngành độc lập tương đương với Thái Trắng và Thái Đen, mà thực chất là tên gọi theo địa danh (người Mường Đeng thuộc Lang Chánh, Thanh Hóa) hoặc theo trang phục, là một nhóm địa phương thuộc ngành Thái Đen.
  • Văn hóa vật chất: Canh tác lúa nước với hệ sinh thái "mương - phai - lái - lịn", văn hóa ẩm thực lúa nếp ("Tăy khảu nửng" - người ăn cơm nếp đồ), mô hình nhà sàn đặc trưng (nhà mai rùa có khau cút của Thái Đen; nhà bốn mái của Thái Trắng).
  • Văn hóa tinh thần và vũ trụ quan 3 tầng Mường:
    1. Mường Phạ (Mường Then): Cõi trời, nơi ngự trị của 34 vị Then (đứng đầu là Then Luông).
    2. Mường Lùm (Mường Lum): Cõi người trần gian, đứng đầu là Chẩu Mường.
    3. Mường Boọc Đai (Mường Nước / Mường Âm Phủ): Cõi dưới lòng đất/vực nước sâu, nơi ngự trị của Phi Ngựa (Thuồng luồng) và Chẩu Nặm (Chủ Nước).
  • Di sản thành văn và nghệ thuật dân gian: Hệ thống sách cổ chữ Thái (Quám tố mướng, Táy pú xớc, Quám xon cốn), truyện thơ (Xống chụ xon xao, Khun Lú náng Ủa), sinh hoạt văn hóa giao duyên hạn khuống, nghệ thuật múa xòe và dân ca khắp.

Chương 2: Truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam: khái niệm, phân loại và nội dung

Chương 2 định danh khái niệm, phân loại 116 truyện kể và phân tích ba phương diện nội dung cơ bản:

  • Khái niệm: Truyện kể địa danh của người Thái là những sáng tác tự sự dân gian giải thích sự hình thành, tên gọi hoặc gắn liền với các sự tích, biến cố lịch sử, sinh hoạt văn hóa tại một địa điểm không gian cụ thể của cộng đồng người Thái.
  • Phân loại theo thể loại tự sự:
    • Thần thoại địa danh: Giải thích nguồn gốc núi, sông, hang động từ hành vi của thần linh hoặc các biến cố tạo lập thế giới thuở sơ khai.
    • Truyền thuyết địa danh: Chiếm số lượng lớn nhất, gắn với lịch sử thiên di, khai phá đất đai, đánh giặc bảo vệ bản mường và hành trạng của các thủ lĩnh quân sự, nhân vật lịch sử.
    • Truyện cổ tích địa danh: Gắn nguồn gốc địa danh với các biến cố số phận con người, mâu thuẫn gia đình, bi kịch tình yêu đôi lứa hóa thân vào phong cảnh tự nhiên.
  • Các phương diện nội dung chính:
    1. Phản ánh vũ trụ quan và thế giới quan tộc người: Sự giải thích thế giới tự nhiên thông qua các quan niệm đa thần giáo, vạn vật hữu linh và hệ thống ba tầng mường.
    2. Phản ánh lịch sử tộc người: Ghi lại dấu vết các cuộc thiên di mở cõi, xác lập ranh giới các vùng Mường lớn (Mường Thanh, Mường Lò, Mường Muổi, Mường Xang), ca ngợi các thủ lĩnh có công với bản mường (tổng hợp tại Bảng 1: Truyền thuyết về nhân vật có công với bản mường).
    3. Phản ánh khát vọng nhân sinh: Phản ánh ước mơ về cuộc sống no đủ, công bằng, sự phản kháng đối với áp bức giai cấp và ngợi ca tình yêu thủy chung, bất tử.

Chương 3: Cốt truyện và biểu tượng trong truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam

Chương 3 tập trung phân tích kết cấu cốt truyện và giải mã hai biểu tượng trung tâm của văn hóa Thái trong truyện kể địa danh:

Cấu trúc cốt truyện theo thể loại

  • Cốt truyện thần thoại địa danh: Thường có kết cấu đơn tuyến, xoay quanh mô-típ kiến tạo địa hình thông qua sức mạnh siêu nhiên của các đấng sáng tạo (Then) hoặc cuộc chiến của các lực lượng tự nhiên khổng lồ làm biến dạng núi sông.
  • Cốt truyện truyền thuyết địa danh: Kết cấu gắn liền với chuỗi hành động lịch sử: Dẫn quân thiên di $\rightarrow$ Gặp trở ngại/giao tranh $\rightarrow$ Đóng quân/dẹp loạn $\rightarrow$ Đặt tên đất dựa trên dấu tích chiến trận hoặc công tích của thủ lĩnh.
  • Cốt truyện cổ tích địa danh: Kết cấu thử thách - biến hóa: Nhân vật gặp bất hạnh/ngăn trở tình duyên $\rightarrow$ Chết hoặc hóa thân $\rightarrow$ Sự vật tự nhiên hình thành mang tên nhân vật hoặc chi tiết bi kịch.

Hệ thống biểu tượng trong truyện kể địa danh

Luận án thống kê các biểu tượng xuất hiện trong 116 truyện kể tại Bảng 2: Thống kê các biểu tượng trong truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam (gồm biểu tượng động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng tự nhiên). Trong đó, tác giả phân tích sâu hai biểu tượng trụ cột:

HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG TRỌNG TÂM

Chương 4: Không gian xã hội trong truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam

Vận dụng lý thuyết của G. Condominas, Chương 4 phân tích các chiều kích cấu thành không gian xã hội Thái qua truyện kể địa danh:

Chiều kích không gian xã hội Biểu hiện trong truyện kể địa danh người Thái
Mối liên hệ với không gian, thời gian Xác lập tọa độ lãnh thổ cư trú của bản mường dọc các thung lũng; gắn kết thời gian huyền thoại với thời gian lịch sử định cư.
Mối quan hệ với môi trường tự nhiên Khắc họa sự thích ứng và ứng xử hài hòa với môi trường rừng núi, sông suối, hang động; phản ánh tri thức bản địa về địa hình, thời tiết.
Các mối quan hệ hôn nhân Phản ánh luật tục hôn nhân truyền thống (ngoại hôn dòng họ, hôn nhân nội tộc ngành Thái), bi kịch vi phạm cấm kỵ hôn nhân hóa thành các địa danh đá, núi vọng phu.
Các mối quan hệ tạo lập bởi ngôn ngữ Cơ chế định danh qua các thành tố ngôn ngữ Thái (Bảng 3: Các căn cứ hình thành địa danh): định danh theo địa hình tự nhiên, theo thực vật - động vật, theo sự kiện lịch sử và theo tên danh nhân.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt tư liệu: Luận án đã sưu tầm, tập hợp và hệ thống hóa được 116 truyện/mẩu truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam (tăng 60 truyện so với công trình năm 2010), xây dựng bảng thư mục và phụ lục chi tiết, cung cấp nguồn tư liệu ngữ văn dân gian có hệ thống cho ngành Thái học.
  2. Về mặt lý luận và thể loại: Luận án hoàn thiện khái niệm truyện kể địa danh Thái; xác lập cấu trúc thể loại (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích) và mô tả toàn diện các dạng kết cấu cốt truyện đặc thù của mảng truyện kể này.
  3. Về mặt giải mã biểu tượng: Đây là công trình đầu tiên tiến hành phân tích hệ thống biểu tượng trong truyện kể địa danh Thái từ góc nhìn nhân học biểu tượng và ký hiệu học, đặc biệt làm sáng tỏ nội hàm văn hóa của biểu tượng nước (gắn với Chẩu Nặm, Phi Ngựa) và biểu tượng nỏ.
  4. Về mô hình không gian xã hội: Luận án là thử nghiệm đầu tiên trong việc ứng dụng lý thuyết không gian xã hội của G. Condominas vào khảo sát truyện kể dân gian Thái, làm rõ cơ chế tương tác giữa con người với môi trường sống, luật tục hôn nhân và cách thức định danh địa lý tộc người.
  5. Đóng góp về mặt nhận diện tộc người: Luận án cung cấp luận cứ dân tộc chí và ngữ văn dân gian để góp phần khẳng định Tày Đeng (Thái Đỏ) là nhóm địa phương gắn với địa danh cư trú, không phải là một ngành độc lập tương đương với hai ngành Thái Trắng và Thái Đen.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và địa bàn phân bố cư trú rộng lớn, phức tạp của người Thái ở các vùng vùng sâu, vùng xa, công trình chưa thể bao quát toàn bộ các mẩu truyện kể địa danh tồn tại trong trí nhớ dân gian tại tất cả các bản mường hẻo lánh; một số bản ghi thành văn trước đây có hiện tượng tóm lược cốt truyện, làm giảm bớt tính nguyên vẹn của văn cảnh diễn xướng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục mở rộng công tác điều tra điền dã để bổ sung các dị bản truyện kể địa danh tại các vùng Thái Thanh Hóa, Nghệ An và Tây Bắc.
    • Triển khai nghiên cứu so sánh liên tộc người giữa truyện kể địa danh của người Thái với các tộc người láng giềng cùng ngữ hệ Tày - Thái hoặc cùng địa bàn cộng cư (như người H'mông, Khơ mú, Mường, Kinh).

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo cho các ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Dân tộc học, Nhân học và Ngôn ngữ học; đặc biệt hữu ích cho các học phần về Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam và Thái học.
  • Đối với công tác quản lý và bảo tồn di sản: Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học về các địa danh văn hóa - lịch sử cho các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý văn hóa và du lịch tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ (Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An) trong việc xây dựng hồ sơ di sản, quy hoạch điểm du lịch văn hóa và bảo tồn tri thức dân gian bản địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải quyết vấn đề phân định ngành "Thái Đỏ" (Tày Đeng) như thế nào?

Luận án tổng hợp các luồng ý kiến và dựa trên kết quả điền dã tại Mộc Châu để khẳng định Tày Đeng không phải là một ngành độc lập ngang hàng với Thái Trắng và Thái Đen (vốn hình thành từ sự phân đôi bào tộc cổ đại). Tày Đeng thực chất là tên gọi bắt nguồn từ địa danh Mường Đeng (châu Lang Chánh, Thanh Hóa) hoặc theo sắc phục phụ nữ, là một nhóm địa phương thuộc ngành Thái Đen.

2. Vũ trụ quan của người Thái được phản ánh qua cấu trúc ba tầng mường trong truyện kể địa danh ra sao?

Truyện kể địa danh Thái phản ánh mô hình vũ trụ gồm ba tầng mường: Mường Phạ/Mường Then (cõi trời của 34 vị Then, đứng đầu là Then Luông sáng tạo muôn loài); Mường Lùm/Mường Lum (cõi trần gian của con người, đứng đầu là Chẩu Mường); và Mường Boọc Đai/Mường Nước (cõi âm phủ/vực nước sâu, do Phi Ngựa/Thuồng luồng và Chẩu Nặm cai quản).

3. Hai biểu tượng cốt lõi nào được luận án tập trung giải mã ở Chương 3?

Luận án tập trung phân tích hai biểu tượng: Biểu tượng Nước (phản ánh hệ sinh thái nông nghiệp mương phai và tín ngưỡng thờ thần Nước/Thuồng luồng) và Biểu tượng Nỏ (phản ánh công cụ săn bắn, vũ khí chiến đấu bảo vệ bản mường và biểu trưng quyền uy thủ lĩnh).

4. Khung lý thuyết Không gian xã hội của G. Condominas được luận án ứng dụng để khảo sát những mối quan hệ nào?

Lý thuyết này được ứng dụng ở Chương 4 để phân tích 4 mối quan hệ cấu thành không gian xã hội Thái qua truyện kể: mối liên hệ với không gian và thời gian; mối quan hệ thích ứng với môi trường tự nhiên; các mối quan hệ luật tục hôn nhân; và các mối quan hệ định danh địa lý được thiết lập bởi ngôn ngữ.

5. Nguồn dữ liệu thực tế của luận án gồm bao nhiêu tác phẩm và thu thập từ đâu?

Luận án khảo sát tổng cộng 116 truyện/mẩu truyện kể địa danh Thái, thu thập từ hai nguồn: nguồn điền dã thực tế tại các vùng cư trú của người Thái (như Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa...) và nguồn trích xuất từ các công trình nghiên cứu, địa chí, kỷ yếu khoa học thành văn đã xuất bản.


Kết luận

Luận án của Nguyễn Thị Mai Quyên là một công trình nghiên cứu định tính chuyên sâu về truyện kể địa danh của người Thái ở Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành văn hóa tộc người. Tác giả đã hệ thống hóa và phân loại 116 văn bản truyện kể, làm sáng tỏ các đặc trưng cốt truyện, giải mã các biểu tượng then chốt như nước và nỏ, đồng thời tái hiện mô hình không gian xã hội truyền thống của người Thái qua tên đất và truyền thuyết bản mường. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu và khung phân tích có giá trị học thuật cho chuyên ngành Văn học dân gian và Thái học tại Việt Nam.