ĐẶT VẤN ĐỀ VA LICH SỬ NGHIÊN CỨU Dân tộc học có nhiệm vụ nghiên cứu mọi mặt đời sống của các đân tộc. Mác đã từng nối “Con người cần phải ăn, uống, ở và mặc, trước khi có thể lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo,. Trồng trọt là một trong những hoạt động sản xuất chính yếu nhằm đáp ứng những nhu cầu đâu tiên ấy của con người. Nghiên cứu các hoạt động trồng trọt, vì thế, từ lâu đã được coi là nhiệm vụ quan trọng của dân tộc học.
Theo đà phát triển của khoa học, và do đòi hỏi của thực tiến, khoảng từ những năm 1920 của thế kỷ XX đến nay, đã và đang tồn tại trên thế giới một ngành của khoa dân tộc học chuyên nghiên cứu lịch sử trồng trọt nói chung và cây trồng nói riêng gọi là Dân tộc học nông nghiệp *. Trong cuốn sách, các chú dẫn đều được đặt trong ngoặc đơn, các tài liệu tham khảo và chú đẫn được đánh số thứ tự nằm ở cuối sách. Để tiện theo dối, xin tạm quy ước cách hiểu các ký hiệu chú dẫn rửhư sau: (x): Tài liệu số x. (xy): Tai li¢u số x, trang y.): Các tài liệu số x.
Vùng Đông Nam Á nhiệt đới ẩm gió mùa là địa bàn được đặc biệt chú ý nghiên cứu. Bằng các phương pháp dân tộc học và dân tộc - thực vật học, trên cơ sở lấy cây trồng làm đối tượng khảo sát, Dân tộc học nông nghiệp đã đi sâu tìm hiểu và giải quyết nhiều vấn dé cơ bản của lịch sử cây trồng còn đang chưa được làm rõ như: Sự ra đời của trồng trọt, các giai đoạn của trồng trọt, sự phân bố của các loại cây trồng, tiến trình phát triển của cây lúa (cạn và nước),. Gắn liền với quá trình ra đời và phát triển của ngành này có sự góp mặt với những công trình xuất sắc của nhiều nhà nhân học tên tuổi như: N.Va Vi Lốp (67,68 ), A. Sẽ mê nốp (77, 78, 79,80), la.
Hoà vào xu thế phát triển chung đó, ở nước ta, dân tộc học nông nghiệp cũng đã và đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu. Chỉ tính riêng từ năm 1968 đến nay, đã có gần. 60 bài viết mang tính chuyên để về trồng trọt của các đân tộc trong cả nước, đăng trên tạp chí và thông báo khoa học chuyên ngành. Ngoài ra, trồng trọt luôn là tiểu mục có mặt và chiếm dung lượng đáng kể trong hầu hết các sách và giản chí đân tộc học từ trước đến nay.
Tây Nguyên là một khu vực Lịch sử dân tộc học, cũng là một khu vực Lịch sử - Văn hoá. Nơi đây, đã và đang sinh sống bộ phận các dân tộc tại chỗ có trình độ phát triển kinh tế xã hội vào loại thấp nhất ở nước ta. Trong rất nhiều 10 chuyên đề dân tộc học cần được nghiên cứu ở Tây Nguyên hiện nay, có chuyên để trồng trọt. Trong hoàn cảnh hiện tại, ý nghĩa nhiều mặt của việc thực hiện chuyên để này là điều khẳng định, không chỉ dưới giác độ nghiên cứu cơ bản, mà còn dưới giác độ nghiên cứu ứng dụng.
_ Do tồn tại ở địa bàn tương đối khép kín, chậm chịu ảnh hưởng của các tác động từ bên ngoài vào, Tây Nguyên là một trong số ít nơi ở nước ta cho mãi đến gân đây còn bảo lưu khá đậm nét nhiều yếu tố đặc trưng của trồng trọt Đông Nam Á lục địa cổ đại.Thực hiện nội dung nghiên cứu này, trên cơ sở hệ thống và phân tích các tài liệu còn có thể thu thập, sẽ đưa ra được bức tranh phác thảo về điện mạo chung của trồng trọt truyền thống ở các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên, đồng thời, bổ sung thêm những tư liệu nhằm góp phần giải quyết và làm sáng tỏ nhiều vấn để đang còn tồn nghỉ và tranh cãi của tiến trình trồng trọt và lịch sử cây trồng ở khu vực Đông Dương nói riêng và Đông Nam Á nói chung. Từ sau ngày miền Nam giải phóng đến nay, Tây Nguyên đang là một trong những trọng điểm phát triển kinh tế nói chung và trồng trọt nói riêng của cả nước. Một trong những yêu cầu đặt ra là trên cơ sở những hình thức và chủ trương thích hợp, cần từng bước chuyển trồng trọt của các dan tộc tại chỗ Tây Nguyên từ chỗ du lcanh, đu cư, nhằm mục đích tự cấp, tự túc sang định cánh, định cư, nhằm mục đích sản xuất hàng hoá và mang tính chất bảo vệ tài nguyên, môi sinh. Thực tiễn những năm qua cho thấy, đây 11 là quá trình hết sức khó khăn và cho đến nay vẫn còn nhiều lúng túng.
Nghiên cứu các hình thức trồng trọt truyền thống Tây Nguyên, trong mối quan hệ với vấn để nêu trên, có ý nghĩa thực tiễn thiết thực. Kinh nghiệm những năm qua đã chỉ ra rằng, để đảm bảo cho công cuộc chuyển đổi trồng trọt truyền thống Tây Nguyên từ tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá đạt kết quả chắc chấn, rất cần phải có những hiểu biết cặn kế và thấu đáo về trồng trọt truyền thống của người dân, lấy đó làm xuất phát điểm để từng bước chuyển dần sang các hình thức canh tác mới. Những hiểu biết về trồng trọt truyền thống cũng là cơ sở giúp các nhà quản lý, các nhà kỹ thuật nấm được tiềm năng và khả năng lao động, nhu cầu đời sống, tập quán và tâm lý sản xuất, những khó khăn và thuận lợi của quá trình chuyển từ nương rẫy sang ruộng nước, ruộng khô và vườn cây đặc sản, từ đó, có được những quyết sách hợp lý và đúng đắn nhằm triển khai có hiệu quả thế mạnh trồng trọt trong những điều kiện mới ở vùng người dân tại chỗ. Trong quá trình tiến hành các hoạt động trồng trọt truyền thống, chủ yếu là trồng trọt nương rẫy, trên cơ sở trình độ phát triển xã hội và điều kiện tự nhiên có được, các đân tộc tại chỗ Tây Nguyên đã cố gắng dựa vào tự nhiên, hoà vào tự nhiên, ứng xử hợp lý với tự nhiên để từ đó hình thành nên hệ sinh thái nông nghiệp bên vững truyền thống mang tính chất nguyên thuỷ, hay còn gọi là hệ sinh thái nông nghiệp bền vững tiền công nghiệp.
Trong những điều 12 kiện tự nhiên và dan cư mới, hệ sinh thấi nông nghiệp truyền thống Tây Nguyên đã và đang bộc lộ nhiều mâu thuẫn đòi hỏi cần cải tạo để thay vào đó là hệ sinh thái nông nghiệp bền vững của xã hội công nghiệp - hệ sinh thái nông nghiệp trong đó có sự kết hợp hợp lý sản xuất nông nghiệp với duy trì và bảo vệ tài nguyên và môi trường sống trong điều kiện mới. Khảo sát các hình thức trồng trọt Tây Nguyên, một mặt, sẽ làm rõ những tri thức và kinh nghiệm thích ứng với tự nhiên của con người trong hệ sinh thái nông nghiệp truyền thống, mặt khác, góp phần lý giải những mâu thuẫn của nó trong điều kiện mới để từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng từng bước hệ sinh thái nông nghiệp hiện đại, cũng tức là góp phần giải quyết vấn đề bảo vệ môi trường sống, một trong những vấn đề đã và đang được toàn thể nhân loại quan tâm giải quyết. - Lê Quý Đôn có lẽ là người đầu tiên đưa ra những tư liệu về trồng trọt của các dân tộc Tây Nguyên qua sách Phú biên tạp lục, viết vào năm 1775 (25:122). Có thể biết thêm vài điều về trồng trọt Tây Nguyên qua các sách Đại Nam thực lục chính biên và Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triểu Nguyễn (53, 52).
Trong hai bộ quốc sử lớn này, các sử quan nhà Nguyễn đã dành một số dòng ít ỏi nói về tình hình trồng trọt nói chung và làm ruộng nước nóới riêng của các cư dân ít người miền núi xứ Quảng. Việc nghiên cứu trồng trọt Tây Nguyên bất đầu được chú ý hơn từ nửa sau của thế kỷ XIX bởi các học giả người 13 Pháp. Ðu risbua, có thể coi là người Pháp đầu tiên quan tâm đến trồng trọt Tây Nguyên khi ông công bố công trình Những người Ba na đã man vào năm 1853, trong đó, rải rác có những tư liệu về lao động và năng suất trên nương rẫy của các tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơ me bắc Tây Nguyên (23). Azemar, một cha cố, từng truyễn giáo ở khu vực nam Tây Nguyên, trong công trình Người Stiêng ở Brolam đã đưa ra những tư liệu đáng chú ý mô tả kỹ thuật làm rẫy còn ở đạng sơ khai của nhóm tộc người được khảo sát (56:3).
Đến những thập niên đầu của thế kỷ X%, xuất hiện thêm một số ấn phẩm, trong đó để cập đến, hoặc có liên quan đến trồng trọt Tây Nguyên: Năm 1909, E. Kem lanh, một nhà truyền giáo, người vẫn được giáo đân Kon Tum gọi bằng tên thân mật là “cố Cảnh”, đã viết chuyên khảo Những lễ thức nông nghiệp của người Rø ngao đăng trên tạp chí của trường Viễn Đông bác cổ, trong đó, ngoài việc giới thiệu những nét chung về nương rấy, chú trọng mô tả kỹ cách thức tiến hành và những lời khấn trong các nghỉ lễ nương rẫy của nhóm tộc người này (42): năm 1912, H. Maitre, đã cho xuất bản công trình khá dày dặn mang tên Rứ Mọi, trong đó rải rác có một số tư liệu nói về điện mạo trồng trọt của một số tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơ me ở bắc Tây Nguyên (43), năm 1905, H. Ha ghít góp thêm một số tư liệu về canh tác ruộng nước nói riêng và trồng trọt nói chung cửa tộc người Hrê qua công trình Ghi chép dân tộc học về người Thượng ở miễn núi 14 Quảng Ngãi (37).
Dân tộc học nông nghiệp Tây Nguyên được các nhà nhân học Pháp chú tâm nghiên cứu hơn vào những năm 40, 50 của thế kỷ XX. Khởi đầu là bài khảo cứu của D. Qui di nhê vào năm 1943 mang tiêu dé Người Srẻ, trong đó có phần miêu tả kỹ thuật làm ruộng của nhóm tộc người này ở cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh, với luận điểm đáng lưu ý cho rằng nhóm Srê sở dĩ biết làm ruộng nước là đo học hỏi từ người Chàm, thông qua tộc người nói ngôn rigf Mã Lai - Đa Đảo cận cư - người Chu ru (56:8). Tiếp đó là hàng loạt công trình viết về trồng trọt, hay có những tư liệu đáng chú ý liên quan đến trồng trọt Tay Nguyên của một số tác giả quen thuộc lân lượt được công bố, tiêu biểu là các chuyên khảo Ruộng, rấy, cây trồng và những khu rừng hoang xứ Mạ của 1.
Bun bê (5), Bộ lạc Ba na ở Kon Tum và Từ điển Ba na - Pháp của P.