Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới. Việc phân hạng và đánh giá đất đai đã được thực hiện từ khá lâu ở nhiều nước trên thế giới. Từ những năm 1950, việc đánh giá tiềm năng sử dụng đất đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế quan tâm.
Đây được xem như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất. Ngày nay công việc này đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của các nhà quy hoạch, hoạch định chính sách và người sử dụng Tuỳ theo mục đích cụ thể, mỗi quốc gia đã đề ra nội dung, phương pháp đánh giá đất của mình [23]. * Ở Liên Xô và các nước Đông Âu dựa vào Thuyết phát sinh đất của V.V Docuchaev trong đó chỉ ra việc hình thành đất là một quá trình phức tạp do tác động của 5 yếu tố tự nhiên là: khoáng vật, thực vật, động vật, không gian và thời gian [4]. - Những năm thập niên 1960 việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện, bao gồm ba bước sau: 1) so sánh các hệ thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên (đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng); 2) đánh giá tiềm năng sản xuất của đất đai và 3) đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá tiềm năng sản xuất hiện tại của đất).
- Tuy nhiên, phương pháp này chỉ mới thuần tuý quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đối tượng đất đai mà chưa xem xét đầy đủ đến khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng đất đai. * Ở Mỹ, 2 phương pháp đánh giá đất đai được ứng dụng khá rộng rãi là: - Phương pháp tổng hợp: lấy năng suất cây trồng nhiều năm làm tiêu chuẩn và phân hạng đất đai cho từng cây trồng cụ thể, trong đó lấy cây lúa mì là đối tượng chính. - Phương pháp yếu tố: bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên, kinh tế để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm (hoặc 100%) để làm mốc so sánh với các đất khác. - Trong quá trình phân hạng và đánh giá đất đai ở Mỹ đã đưa ra các khái niệm: + Phân loại khả năng thích nghi đất có tưới (Irrigation Land Suitability Classification) của Cục cải tạo đất đai- Bộ Nông nghiệp Mỹ (USBR) xuất bản năm c 10 1951.
Phân loại này dựa vào độ phì của đất để đánh giá. Phân loại này gồm 6 lớp (classes), từ lớp có thể canh tác được (arable) đến lớp có thể trồng trọt một cách giới hạn (limited arable) và lớp không thể trồng trọt được (non arable). trong phân loại này, nhiều đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu kinh tế định lượng cũng được đề cập nhưng giới hạn ở phạm vi thuỷ lợi. + Tiềm năng đất đai (Land Capability) do Clingebiel và Naontgomery thuộc Vụ Bảo tồn đất đai - Bộ Nông nghiệp cũng đưa ra (năm 1964) trong công tác đánh giá đất đai ở hoa Kỳ.
Trong việc đánh giá này, các đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Units) được nhóm lại dựa vào khả năng sản xuất một loại cây thực vật tự nhiên nào đó, chỉ tiêu chung là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng đối với mục tiêu canh tác được đề nghị. Hệ thống đánh giá đất đai này mang tính chất sơ lược, gắn đất với hiện trạng sử dụng đất hay còn gọi là " Loại hình sử dụng đất". * Ở Ấn Độ và các nước vùng nhiệt đới ẩm châu Phi thường áp dụng phương pháp tham biến để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố đất đai và cây trồng. Các mối quan hệ này được biểu thị dưới dạng phương trình toán học.
Kết quả phân hạng được thể hiện dưới dạng % hoặc điểm [11]. * Nhiều nước Châu Âu việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện theo 2 hướng là: - Phân hạng định tính: dựa trên các kết quả nghiên cứu, các yếu tố tự nhiên để xác định tiềm năng sản xuất của đất đai. - Phân hạng định lượng: dựa vào năng suất thực tế của cây trồng để phân chia hạng đất [4]. Nhiều quốc gia ở Châu Âu vào những năm 70 đã cố gắng phát triển các hệ thống đánh giá đất đai của họ, cuối cùng các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng cần phải có một nỗ lực quốc tế để đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hoá vào việc đánh giá đất đai [17].
* Phương pháp đánh giá đất đai của FAO: Được thống nhất do 2 Uỷ ban nghiên cứu ở Hà Lan và FAO- Roma thực hiện vào năm 1972, công bố đầu tiên vào năm 1976 và được chỉnh lý vào năm 1983 [11]. Trong đó: - Đề xuất định nghĩa về đánh giá đất đai là: Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai c 11 mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có. Đánh giá đất đai là quá trình thu thập thông tin, xem xét một cách toàn diện các yếu tố đất đai với cây trồng để phân định ra mức độ thích hợp cao hay thấp. - Đưa ra một số nội dung hoặc khái niệm được xác định cụ thể như sau: Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai (land capability): Đó là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, úng ngập, khô hạn, mặn hoá.
Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những kiểu sử dụng đất phù hợp. Việc đánh giá tiềm năng sử dụng đất thường áp dụng trên qui mô lớn như trong phạm vi một nước, một tỉnh hay một huyện. Thí dụ: Ở Mỹ đã sử dụng các yếu tố hạn chế là những yếu tố hầu như không thay đổi được như độ dốc, độ dày tầng đất, khí hậu để phân chia đất đai toàn quốc thành 8 nhóm với yếu tố hạn chế tăng dần từ nhóm I tới nhóm VIII. Nhóm I là nhóm thuận lợi nhất trong sử dụng, có rất ít yếu tố hạn chế.
Nhóm VIII là nhóm có nhiều hạn chế nhất trong sử dụng [15]. Đánh giá mức độ thích hợp đất đai (land suitability): Là quá trình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai [15]. - Hệ thống đánh giá được phân thành 2 cấp: Kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng thích hợp (Viết tắt là S- Suitable) hay không thích hợp (Viết tắt là N- Not suitable) với điều kiện đất đai. Về mức độ thích hợp được phân thành 4 mức: + Thích hợp cao (S1): Đất hầu như không có hạn chế đáng kể khi thực hiện canh tác.
+ Thích hợp trung bình (S2): Đất có hạn chế nhất định làm giảm năng xuất cây trồng hoặc nâng cao chi phí canh tác nhưng vẫn thích hợp cho cây trồng hoặc kiểu sử dụng đất. + Thích hợp kém (S3): Đất có hạn chế đáng kể làm giảm mạnh năng xuất và tăng cao chi phí canh tác rõ rệt. Hiệu quả kinh tế bị suy giảm đáng kể. + Không thích hợp (N): Không phù hợp với sinh trưởng của cây trồng.
c 12 - Nhìn chung quá trình đánh giá đất đai của FAO được tiến hành thông qua một số bước sau: + Xác định mục tiêu sử dụng. + Thu thập thông tin liên quan. + Đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất. + Xem xét môi trường tác động của tự nhiên, kinh tế xã hội.
+ Xác định các loại hình sử dụng đất thích hợp. - Ngoài những tài liệu cơ bản của FAO về đánh giá đất đai, FAO cũng đưa ra những hướng dẫn khác nhau về đánh giá đất đai cho các đối tượng riêng biệt như: + Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Guieline for land Evaluation for Rainfed Agriculture - FAO, 1983) [24]. + Đánh giá về đất đai cho trồng cỏ quảng canh (Land Evaluation for extensive grazing, FAO, 1990) [25]. + Đánh giá về đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (Land Evaluation and farming system analysis for land use planning, FAO, 1992) [26].
Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm đất đai với sinh trưởng của cây trồng. Từ các kết quả nghiên cứu này nhiều nhà khoa học đã cho rằng: Đối với các vùng ôn đới, phản ứng của đất, hàm lượng CaCO3 và các chất Bazơ khác, thành phần cấp hạt và điện thế ôxy hoá khử (Eh) của đất là những yếu tố quan trọng nhất, quan điểm này đã xem các yếu tố hoá học đất quan trọng hơn yếu tố vật lý. Còn ở vùng nhiệt đới thì các tác giả cho rằng: các yếu tố khả năng giữ nước, độ sâu của đất và độ thoáng khí là những yếu tố giữ vai trò chủ đạo, điều này có nghĩa là: yếu tố vật lý đất quan trọng hơn yếu tố hoá học đất. Tuy nhiên các kết quả này là dựa trên các nghiên cứu về đất đồi núi, đất nông nghiệp [11].
Trung tâm lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) gần đây đã tiến hành nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nước nhiệt đới như: Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nam Phi, Conggo, Brazil. Kết quả nghiên cứu cho thấy: các biện pháp xử lý lập địa khác nhau và các loài cây trồng khác nhau đã có ảnh hưởng khác nhau đến độ phì đất, cân bằng nước sự phân huỷ thảm mục và chu trình dưỡng khoáng. c 13 Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu cụ thể về vấn đề này và mới chỉ nghiên cứu cho từng đối tượng cây trồng cụ thể. Ở vùng ôn đới nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng tự nhiên, rừng trồng đến độ phì đất đã được đề cập.
Khi nghiên cứu về rừng mưa nhiệt đới ở Australia, Week (1970) đã khẳng định sinh trưởng của thực vật phụ thuộc vào các yếu tố: đá mẹ, độ ẩm của đất, thành phần cơ giới, CaCO3, hàm lượng mùn và đạm. Ở Việt Nam, từ những năm 80 trở lại đây một số công trình nghiên cứu đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu và đánh giá đất đai: Năm 1965, Nguyễn Kha với luận văn Tiến sĩ “Động thái đất dưới rừng Thông ba lá và Thông nhựa trong quan hệ với thảm thực bì ở cao nguyên Trung phần Việt Nam” cũng mới chỉ mô tả một số phẫu diện và đưa ra một số nhận xét rất sơ bộ.