CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CA DAO TỤC NGỮ 1. Sự hình thành của ca dao, tục ngữ Ca dao, tục ngữ là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành văn học dân gian, là những viên ngọc quý, có giá trị về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật biểu hiện. Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ nên ca dao, tục ngữ luôn luôn được nhân dân vận dụng, truyền miệng qua nhiều thế hệ. Chính vì vậy ca dao, tục ngữ luôn được trau chuốt mà vẫn giữ được cái hồn, cái hình mặc dù có những thay đổi nhất định nào đó về ngôn từ khi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau.
Ca dao, tục ngữ vừa là một hiện tượng ngôn ngữ, vừa là một hiện tượng thuộc về ý thức xã hội, luôn giữ vai trò trong việc hình thành và phát triển tiếng nói của dân tộc, phản ánh sinh hoạt, biểu hiện những nhận xét, những ý nghĩ của nhân dân trong cuộc đấu tranh với các hiện tượng thiên nhiên bất lợi hoặc trong đấu tranh xã hội và xây dựng đất nước. Khái niệm, nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao, tục ngữ 1. Ca dao Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt, là lời của các bài hát dân ca đã được tách những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể chuyển thành các làn điệu dân ca. Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 1, trang 303, Hà Nội, 1995, thì “ca dao thường là những câu thơ, bài hát dân gian có ý nghĩa khái quát, phản ánh đời sống, phong tục, đạo đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tình yêu nam nữ”.
Trong quá trình sáng tác của thơ ca dân gian, khái niệm ca dao được dùng để chỉ bộ phận cốt lõi, tiêu biểu, đó là bộ phận những câu hát đã trở nên phổ 7 biến và được truyền tụng rộng rãi trong nhân dân. Ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian, do đó tất cả những sáng tác thơ ca nào mang phong cách của những câu hát cổ truyền, người ta gọi là ca dao. Về cơ bản thì ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian. Những tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình và xã hội, hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan chứ không phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề.
Cho nên trong ca dao, cái tôi trữ tình nổi lên một cách rõ nét. Cũng như tục ngữ và các thể loại văn học dân gian khác, ca dao là tấm gương phản chiếu trung thực về cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân. Đó là tinh thần lạc quan trong khó khăn, là tinh thần tương ái giữa những con người lương thiện, đó còn là nhận thức sắc bén về bạn, về thù, về chính nghĩa. Tóm lại, qua ca dao có thể thấy rõ hiện thực, tức là “cái vốn có”.
Nội dung của ca dao khá phong phú, đa dạng. Ca dao phản ánh lịch sử, miêu tả khá chi tiết phong tục tập quán trong sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân lao động, bộc lộ tâm hồn dân tộc trong đời sống riêng tư, đời sống gia đình và đời sống xã hội, qua đó thấy được đức tính cần cù, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, những phẩm chất tốt đẹp của người dân trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên, trong đấu tranh xã hội để vươn lên giành lấy hạnh phúc. Có những câu ca dao, do nội dung lịch sử của nó, thường gọi là ca dao lịch sử, phản ánh những sự kiện của lịch sử dân tộc, liên quan đến đời sống của nhân dân, qua đó nhân dân nói lên thái độ, quan điểm của mình. Những câu ca dao sau đây nói lên sự phấn khởi, hăng hái, lòng yêu nước của nhân dân trong khi bà Triệu khởi binh chống quân Ngô xâm lược: 8 Ru con, con ngủ cho lành Cho mẹ gánh nước, rửa bành con voi Muốn coi lên núi mà coi Coi bà Triệu tướng, cưỡi voi đánh cồng Túi gấm cho lẫn túi hồng Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân Hay nói lên lòng hăng hái đua nhau giết giặc của binh sĩ ta ở trận Bạch Đằng: Đánh giặc thì đánh giữa sông Chớ đánh trong cạn, phải chông mà chìm Những bài ca dao mang nội dung đấu tranh chống áp bức của chế độ phong kiến, chống quân xâm lược, đã vạch trần những cái xấu, những tội ác mà chế độ phong kiến đế quốc gây ra cho nhân dân ta, thể hiện lòng căm thù sâu sắc của nhân dân, cùng những ý nghĩ, những lời nói oán hờn, căm giận, ấp ủ lâu ngày đã biến thành hành động, những cuộc khởi nghĩa của nông dân đã diễn ra.
Con vua thì lại làm vua Con sãi ở chùa thì quyét lá đa Bao giờ dân nổi can qua Con vua thất thế lại ra quyét chùa Cùng với những bài ca dao mang nội dung trên là những bài ca dao đấu tranh chống lại các tệ nạn xã hội và các hiện tượng tiêu cực, cụ thể là đả kích, chế giễu thói mê tín dị đoan, chống lại những hủ tục hôn nhân cùng những thói hư tật xấu như: cờ bạc, rượu chè, nhác làm siêng ăn, tham lam, ích kỷ. Ở đây ca dao đã thể hiện tính chiến đấu rất cao: 9 - Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan - Của bụt mất một đền mười Bụt vẫn còn cười bụt chửa lấy cho Ca dao là tiếng hát trữ tình của con người. Đó là tiếng gọi của tình yêu, là tiếng than thở của người phụ nữ đau khổ nhưng giàu tinh thần hi sinh và đấu tranh dũng cảm trong quan hệ gia đình, của người lính và vợ của người lính trong cuộc sống lao động và đấu tranh. Tình yêu của người lao động được biểu hiện trong ca dao về nhiều mặt, đó là tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu đồng ruộng, yêu đất nước, yêu thiên nhiên.
Nói về tình yêu nam nữ ca dao có câu: Tình anh như nước dâng trào Tình em như dải lụa đào tẩm hương Về tình yêu thiên nhiên: Rủ nhau đi tắm hồ sen Nước trong bóng mát, hương chen cạnh mình Cứ chi vườn ngọc, ao quỳnh Thôn quê vẫn cứ hữu tình xưa nay Và về tình yêu quê hương đất nước, mong muốn xây đắp cho cảnh vật của tổ quốc được thêm hùng tráng: Ta về ta dựng mây lên Trời xe mây lại một bên hòn Lèn Phong phú nhất, đặc sắc nhất là mảng ca dao về tình yêu nam nữ. Trai gái gặp gỡ tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi lao động, hội hè, đình đám, vui xuân: 10 - Đôi ta bắt gặp nhau đây Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang - Em ơi chua ngọt đã từng Non xanh nước bạc, ta đừng quên nhau - Đôi ta như thể con tằm Cùng ăn một lá cùng nằm một Đôi ta như thể con ong Con quấn con quýt, con trong con ngoài Nội dung của những câu ca dao trên phản ánh được mọi biểu hiện sắc thái, cung bậc của tình yêu, thể hiện quan niệm tự do trong yêu đương, tự do hôn nhân. Những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúc với những niềm mơ ước, những nỗi nhớ nhung da diết hoặc cảm xúc nảy sinh từ những rủi ro ngang trái, thất bại, khổ đau với những lời than thở oán trách, nói lên tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính của những người nông dân áo vải Việt Nam. Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ đã kết hợp chặt chẽ chủ đề tình yêu với chủ đề lao động, những nét sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc trong đời sống hằng ngày của nhân dân.
Sự kết hợp giữa các chủ đề đó làm cho ca dao không chỉ phản ánh quan hệ nam nữ trong khuôn khổ tình cảm cá nhân, mà còn có nội dung xã hội phong phú và tính tư tưởng cao. Trong xã hội cũ, tình yêu của nhân dân lao động được thể hiện bằng những tình cảm tự nhiên, lành mạnh. Giai cấp thống trị và lễ giáo phong kiến muốn bóp chết những tình cảm hồn nhiên và lành mạnh đó. Vì vậy, trong ca dao bên cạnh tiếng hát ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, là những tiếng kêu đau khổ, xót xa về những trắc trở trong tình yêu.
Tình yêu tan vỡ do nhiều nguyên nhân, có phần chủ quan do trai gái không hợp tính nết nhau hoặc còn có sự ngập ngừng, e ngại, nhưng phần lớn là do những nguyên nhân khách quan do xã hội phong kiến gây ra: 11 Trách ai tham phú tham bần Tham xa mà bỏ nghĩa gần thuở xưa Một bộ phận quan trọng của ca dao là nhận định về con người và về việc đời như là sự tổng kết các kinh nghiệm, triết lý, quan niệm đạo đức, là cách ứng xử của nhân dân. Ca dao thể hiện rất cô đọng cho nên có nhiều bài rất ngắn, thậm chí chỉ một cặp lục bát mà vẫn nói lên sâu sắc về mặt cách sống và hành động: Rượu nhạt uống lắm cũng say Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàn Với tính cách là thơ theo ý nghĩa đầy đủ của thơ, ca dao đã vận dụng mọi khả năng về ngôn ngữ của dân tộc để biểu hiện một cách chính xác, tinh tế cuộc sống và hơn nữa để biểu hiện một cách sinh động và đầy hình tượng nguyện vọng của nhân dân về cuộc sống ấy. Ở ca dao, tư tưởng và tình cảm một mặt được cô đúc dưới hình thức ngôn ngữ vững chắc và mặt khác lại còn được diễn đạt trong sự vận động rất phong phú và đa dạng của ngôn ngữ văn học. Cho nên, thông qua việc sáng tác ca dao, nhân dân đã đưa ngôn ngữ văn học đến trình độ nghệ thuật cao.
Cảnh vật thiên nhiên, trạng thái xã hội, thể chất và tâm tình con người thể hiện qua ca dao với những hình tượng văn học, từ lâu đã trở thành truyền thống và nhiều khi có tính chất mẫu mực về mặt nghệ thuật. Nói đến ca dao tức là nói đến thơ, về mặt hình thức, trước hết phải nói đến nhịp điệu vì đó là một đặc điểm có tính chất thể loại, một động lực chủ yếu của thơ. Như vậy nhịp điệu giữ một vai trò hết sức quan trọng, nó luôn có tác dụng tạo cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu đạt của thơ.