Chương 1 LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC 1. QUAN NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM VAT CHẤT ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC 1. Trách nhiệm vật chất đối với công chức - một dạng trách nhiệm pháp lý Xã hội chỉ có thể tồn tại và phát triển trên cơ sở có sự ổn định về trật tu xã hội. Trật tự đó được tạo lập bởi hệ thống các loại qui phạm rất phong phú, đa dạng điều chỉnh các quan hệ xã hội hết sức phức tạp, đan xen và luôn Ở trạng thái vận động.
Trong các mối quan hệ xã hội đó, bất kì chủ thể nào cũng bị chi phối bởi nhiều loại qui phạm và đều phải gánh chịu những trách nhiệm nhất định. Có rất nhiều dang trách nhiệm xã hội khác nhau, tương ứng với mỗi loại quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi một loại qui phạm sẽ có một loại trách nhiệm xã hội nhất định như trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý (TNPL). Giữa các dạng trách nhiệm xã hội có mối liên hệ tác động qua lại. Vì vậy, khi nghiên cứu về trách nhiệm vật chất đối với công chức (trách nhiệm vật chất) cần đặt TNVC trong mối liên hệ đó, nhàm có được tính toàn điện trong việc nghiên cứu.
Điều đó, cho phép tìm ra sự hợp lý trong cơ chế điều chỉnh của mỗi loại qui phạm nhằm "kết hợp những khả năng của pháp luật với khả năng của các qui phạm xã hội khác, hạn chế được những chỗ yếu của pháp luật” [67, tr. Trong tiếng Việt, thuật ngữ "trách nhiệm” rất gần nghĩa với thuật ngữ "nghĩa vu". Trách nhiệm, đó là “điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình" [73, tr. Nghĩa vụ được hiểu là "bổn phận phải làm đổi với xã hội hoặc với người khác” [73, tr.
Một người làm tròn bổn phận của mình, thực hiện đây đủ nghĩa vụ của mình trong các mối liên hệ với người khác và xã hội thì được coi là người có trách nhiệm. Thực tế rất nhiều trường hợp hai thuật ngữ này được sử dụng với nghĩa tương đồng và có thể thay thế cho nhau. Nghĩa 10 vi và trách nhiệm đều là những quan hệ xã hội được thiết lập giữa các cá nhân hoặc tổ chức mà nội dung được xác định là cách xử sự của chủ thể này buộc phải thực hiện đối với chủ thể kia. Ở góc độ chung nhất, có thể hiểu trách nhiệm là sự ràng buộc trong các mối liên kết của con người, trong đó cá nhân hoặc tổ chức phải thực hiện các nghĩa vụ vì người khác hoặc vì cộng đồng.
Như vậy, trách nhiệm luôn gắn liền với những nghĩa vụ có tính bắt buộc phải thực hiện. Về phương điện đạo đức xã hội, trách nhiệm là sự ràng buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những nghĩa vụ nghiêng về bổn phận mang tính luân lí đạo đức. Ở phương điện này, trách nhiệm của con người được bảo đảm thực hiện bằng các qui phạm đạo đức. Trách nhiệm gắn liền với lương tâm, đạo đức, trình độ văn hóa.
nếu không làm đúng trách nhiệm sẽ bị cộng đồng lên án. Các quan hệ xã hội giữa con người có sự ràng buộc bởi các trách nhiệm, nghĩa vụ đối với nhau, đòi hỏi mỗi cá nhân phải biết lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp. Những cách xử sự được cộng đồng chấp nhận là cách xử sự phù hợp với quan niệm đạo đức hiện hành của cộng đồng. Ở phương diện đạo đức, trách nhiệm của công chức là khái niệm nằm trong phạm trù đạo đức công vụ.
Tất nhiên, phạm trù đạo đức công vụ ở Việt Nam được quan niệm trên nền tảng triết lí: Nhà nước là của dân, do dân, vì dân; nhân dân là chủ, cán bộ, công chức là công bộc của dân, vì vậy giá tri cao nhất của đạo đức công vụ là phục vụ nhân dân. Trách nhiệm công chức ở đây được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của công chức phải có ý thức về vị trí của mình trong bộ máy nhà nước, có thái độ tinh thần làm việc tận tụy, quán triệt tinh thần lấy nhân dân làm mục đích phục vu. Từ đó, công chức có cách xử sự phù hợp với vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mình không tham những. tham 6 tài sản của nhà nước và của nhân dân, thực hiện công vụ với thái độ không đòi hỏi, sách nhiễu, gây khó khăn cho tổ chức và nhân dân.
Trách nhiệm của công chức thể hiện ở tinh thần hợp tác, phối hợp với đồng nghiệp cùng thực hiện công vụ, biết tập hợp và phát huy trí tuệ, sức mạnh tập thể. Người công chức có trách nhiệm là biết nhận việc khó về mình, không công thần, luôn cố gắng để hoàn 1] thành tốt nhất công vụ được giao. Trách nhiệm cua công chức xét ở góc độ đạo đức, suy cho cùng đó là sự kết hợp của hai yếu tố có tính bát buộc đối với công chức là ky luật công vu và tinh than phục vụ nhân dân. Duong nhiên, trong khái niệm trách nhiệm của công chức ở góc độ này, kỷ luật công vụ và tinh thần phục vụ nhân dân không phải được công chức thực hiện một cách thụ động, máy móc mà đòi hỏi phải có tính sáng tạo trong tư duy, phong cách và phương pháp thi hành công vụ của mỗi công chức.
Về phương điện pháp lý, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức phát sinh trên cơ sở pháp luật, được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật và được gọi là trách nhiệm pháp lý. Có nhiều cách thức tiếp cận và nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm TNPL. Một trong những quan điểm được nhiều nhà khoa học quan tâm, đó là quan điểm về TNPL theo cách thức tiếp cận từ góc độ vai trò điều chỉnh của pháp luật. Trong xã hội hiện đại, pháp luật không chỉ có vai trò bảo vệ các quan hệ xã hội mà còn có vai trò điều chỉnh tích cực, tác động đến các quan hệ kinh tế, văn hóa, chính trị - xã hội.
thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển theo hướng phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng. Bên cạnh việc qui định các chế tài, tức là dự liệu các biện pháp cưỡng chế có tinh chất trừng phạt những đối tượng vi phạm pháp luật, pháp luật còn điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng cách xác định các quyền và nghĩa vụ có mối quan hệ tương hỗ với nhau cho các chủ thể quan hệ pháp luật. Ví dụ, quy phạm pháp luật quy định: "Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức có quyền biệt phái cán bộ, công chức đến làm việc có thời hạn ở một cơ quan, tổ chức khác theo yêu cầu nhiệm vụ, công vu" [70, Điều 29], hoặc "cán bộ, công chức có nghĩa vu tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân; có nếp sông lành mạnh. trung thực, cần kiệm, liêm chính chí công vô tư, không được quan liêu, hách dịch cửa quyền, tham những" [70, Điều 6].
Với cách thức tiếp cận này, một số nhà khoa học cho rằng, TNPL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa tích cực, TNPL là nghĩa vụ thực hiện những điêu pháp luật yêu cầu phải làm trong hiện tại và tương lai. Theo nghĩa tiêu cực, TNPL là sự trừng phạt, là sự phản ứng tiêu cực của nhà nước đối với các chủ thể vi phạm pháp luật [62, tr 489-490]. Ngược lại, cũng có tác giả cho rằng, không nên quan niệm những nghĩa vụ gắn liền với bổn phận cùng với thái độ tích cực thực hiện những quyền, nghĩa vụ pháp lý bát buộc là TNPL, và đề nghị "nên thay khái niệm trách nhiệm bằng khái niệm nghĩa vụ trong văn bản qui phạm pháp luật khi qui định về bổn phận, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, công dân trong việc thực hiện pháp luật" [21, tr. Theo chúng tôi, nếu dựa vào mục đích và cơ sở phát sinh nghĩa vụ pháp lý đối với các chủ thể, thì khái niệm TNPL có thể được nhìn nhận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng: TNPL là nghĩa vụ thực hiện tất cả các yêu cầu của pháp luật, bao gồm nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu gắn liên với bổn phận tích cực thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý bat buộc nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển của xã hội và nghĩa vụ gánh chịu hậu quả bất lợi, khi cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi vi phạm pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Theo đó, TNPL được xác định trong cả hai trường hợp: có vi phạm pháp luật và không có vi phạm pháp luật. Mọi cá nhân, tổ chức đều có trách nhiệm tích cực thực hiện những hành vi được pháp luật cho phép thực hiện, khuyên khích thực hiện hoặc buộc phải thực hiện, tránh không thực hiện những hành vi bị pháp luật ngăn cấm, đồng thời phải gánh chịu hậu quả bất lợi, nếu thực hiện vi phạm pháp luật. Theo nghĩa rộng này, khái niệm TNPL của công chức được hiểu trùng với khái niệm trách nhiệm công vu được định nghĩa trong Tw điển giải thích thuật ngữ luật học.
Theo đó, TNPL của công chức là "nghĩa vu của cán bộ, 13 công chức hành động phù hợp với qui định của pháp luật, lựa chọn phương án hành động tối ưu và hợp lý nhất, báo cáo về kết quả hoạt động và gánh chịu những hậu quả của việc không thực hiện hay thực hiện không đúng các nghĩa vụ của mình" [59, tr. Trách nhiệm này có nguồn gốc phát sinh từ quan hệ lao động giữa công chức và nhà nước, đồng thời nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với trật tự quản lý nhà nước và đạo đức công vụ. Do đó, TNPL của công chức là mối quan hệ pháp luật không hoàn toàn được quyết định bởi sự thỏa thuận của các bên mà bị chi phối mạnh bởi ý chí của nhà nước. TNPL của công chức cũng là bổn phận, nghĩa vụ của công chức tạo nên mối liên hệ ràng buộc giữa công chức và nhà nước nhưng chỉ là những nghĩa vụ, bổn phận do pháp luật qui định và bảo đảm thực hiện.
Chính sự qui định của pháp luật đã tạo nên sự khác biệt giữa bổn phận, nghĩa vụ về đạo đức với bổn phận, nghĩa vụ là TNPL của công chức. Theo nghĩa hẹp, TNPL được hiểu là sự gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi, phát sinh trên cơ sở có vi phạm pháp luật, đồng thời có hoạt động áp dụng các biện pháp cưỡng chế được xác định trong chế tài pháp luật, thể hiện sự phan ứng của nhà nước đối với những đối tượng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.