CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN TRÊN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm cung cấp thông tin trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm trách nhiệm cung cấp thông tin trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp huyện Thông tin là gì? Trước khi Luật tiếp cận thông tin được ban hành, hệ thống pháp luật nước ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm chung nhất về “thông tin”. Tuy nhiên, có một số văn bản quy phạm pháp luật đã có định nghĩa về thông tin trong các lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn định nghĩa về thông tin môi trường trong Luật bảo vệ môi trường, thông tin về sử dụng dịch vụ bưu chính trong Luật bưu chính, thông tin trong Luật công nghệ thông tin.
Bên cạnh đó, cũng có một số văn bản quy phạm pháp luật không quy định trực tiếp khái niệm thông tin thuộc lĩnh vực điều chỉnh của văn bản mà chỉ đưa ra các khái niệm về những hình thức chứa đựng thông tin như Luật lưu trữ quy định về tài liệu. Theo đó, tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tài liệu bao gồm văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và vật mang tin khác và tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ. Trên thực tế, do chưa có khái niệm chung và thống nhất về “thông tin”, việc thực thi các quy định về tiếp cận thông tin theo các văn bản quy phạm pháp luật còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Nhằm tạo ra cách hiểu thống nhất về “thông tin”, điều 2 Luật tiếp cận thông tin định nghĩa: Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra.
Ngoài ra còn có một số văn bản quy phạm pháp luật đã có định nghĩa về thông tin trong các lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như: 9 - “Thông tin đối ngoại là thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch sử, văn hoá dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thế giới và thông tin về thế giới vào Việt Nam”. - “Thông tin môi trường là số liệu, dữ liệu về môi trường dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự” (Điều 3 khoản 29 Luật bảo vệ môi trưởng năm 2014) với các nội dung “về thành phần môi trường, các tác động đối với môi trường, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường” (khoản 1 Điều 128 Luật bảo vệ môi trường); - Thông tin về sử dụng dịch vụ bưu chính gồm nội dung bưu gửi, thông tin về họ tên, địa chỉ, số điện thoại (nếu có) của người gửi, người nhận và các thông tin có liên quan (khoản 15 Điều 3 Luật bưu chính năm 2010). - Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số (khoản 2 Điều 4 Luật công nghệ thông tin năm 2006). - Thông tin điện tử trên Internet được quy định tại Nghị định số 72/2013/NĐ- CP của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet “Thông tin trên mạng là thông tin được lưu trữ, truyền đưa, thu thập và xử lý thông qua mạng” (khoản 13 Điều 3); trong đó chia làm các loại : Thông tin công cộng là thông tin trên mạng của một tổ chức, cá nhân được công khai cho tất cả các đối tượng mà không cần xác định danh tính, địa chỉ cụ thể của các đối tượng đó” (khoản 14 Điều 3); Thông tin riêng là thông tin trên mạng của một tổ chức, cá nhân mà tổ chức, cá nhân đó không công khai hoặc chỉ công khai cho một hoặc một nhóm đối tượng đã được xác định danh tính, địa chỉ cụ thể” (khoản 15 Điều 3); Thông tin cá nhân là thông tin gắn liền với việc xác định danh tính, nhân thân của cá nhân bao gồm tên, tuổi, địa chỉ, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, địa chỉ thư điện tử và thông tin khác theo quy định của pháp luật” (khoản 16 Điều 3).
Như vậy, khái niệm thông tin đã được định nghĩa tại điều 2 Luật cung cấp thông tin 2016, ngoài ra có thể thấy một số văn bản pháp luật có quy định về khái niệm thông tin thuộc lĩnh vực chuyên ngành. Đồng thời một số văn bản quy phạm pháp luật không quy định về khái niệm thông tin thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản, do đó, việc thực thi các quy định về cung cấp thông tin trong các lĩnh vực đó còn gặp khó khăn. 10 Cổng thông tin điện tử Trong Nghị định 43/2011/NĐ-CP quy định về thông tin chủ yếu trên CTTĐT của các cơ quan nhà nước định nghĩa như sau: 1. Trang thông tin điện tử là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin.
CTTĐT là điểm truy cập duy nhất của cơ quan trên môi trường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các ứng dụng mà qua đó người dùng có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông tin. Trong đó vai trò của CTTĐT của cơ quan nhà nước được hiểu là: 1. CTTĐT của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là cổng tích hợp thông tin của toàn ngành, lĩnh vực do cơ quan quản lý và được tích hợp thông tin dịch vụ công trực tuyến của tất cả các cơ quan, đơn vị trực thuộc. CTTĐT của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cổng tích hợp thông tin các lĩnh vực quản lý nhà nước trên phạm vi địa bàn của tỉnh và được tích hợp thông tin dịch vụ công trực tuyến của tất cả cơ quan chuyên môn trực thuộc và Ủy ban nhân dân cấp huyện của tỉnh.
Thông tin đăng tải trên CTTĐT của cơ quan nhà nước là thông tin chính thống của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng. Trong Nghị định 42/2022/NĐ-CP ngày 24/6/2022 Quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến cơ quan nhà nước trên môi trường mạng định nghĩa như sau: CTTĐT là điểm truy cập của cơ quan trên môi trường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các ứng dụng mà qua đó người dùng có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông tin. Như vậy có thể thấy, cả Nghị định 43/2011/NĐ-CP và Nghị định 42/2022/NĐ- CP đều có chung định nghĩa CTTĐT là là điểm truy cập của cơ quan trên môi trường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các ứng dụng mà qua đó người dùng có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông tin, chỉ khác biệt trong giới hạn tại Nghị định 43/2011/NĐ-CP định nghĩa điểm truy cập duy nhất, điều này được điều chỉnh bởi 42/2022/NĐ-CP giúp quy định trở nên thông thoáng hơn, tạo nhiều kênh thông tin để tương tác giữa CQNN và người dân. Trong thời đại CNTT, nhu cầu giao tiếp của người dân với các cơ quan tổ chức chính phủ ngày càng tăng cao.
Hiện tại các cơ quan đơn vị sở ngành đều có trang web riêng cho tổ chức của mình, tuy nhiên các trang web này được phát triển 11 một cách rời rạc không gắn kết nhau, và người dân phải truy cập tìm kiếm thông tin một cách rời rạc và phải vào nhiều trang web khác nhau, vì thể tốn rất nhiều thời gian và công sức để tìm kiếm thông tin. Ngoài ra, các website của các đơn vị sở ngành được phát triển trên nhiều công nghệ khác nhau, chưa được xây dựng trên định hướng công nghệ thống nhất, không kế thừa được hệ thống thông tin trong quá khứ, chưa tích hợp được các dịch vụ của các cơ quan sở ngành. Cổng thông tin đảm bảo cho việc tích hợp và mở rộng các dịch vụ công, tích hợp các ứng dụng của các cơ quan sở ban ngành đảm bảo tạo thành kênh cung cấp thông tin xuyên suốt cho người dân/tổ chức, đồng thời giúp nâng cao năng lực quản lý nhà nước Cổng thông tin giúp cho người dân truy cập thông tin nhanh chóng, thuận tiện, hiệu quả và chính xác. Giúp nâng cao được sự tin cậy của người dân vào chính phủ.
Việc cung cấp dịch vụ nhanh chóng hơn - việc tích hợp tất cả các kênh cung cấp dịch trực tuyến với tư cách là hợp phần quan trọng của chiến lược cung cấp dịch vụ của một đơn vị cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra năng lực lớn hơn trong việc xử lý các yêu cầu thường gặp, góp phần giải phóng nhân viên trực và nhân viên điện thoại để xử lý công việc phức tạp hơn. Người dân có thể tiếp cận thông tin trực tiếp từ internet mà không cần đến đơn vị cung cấp dịch vụ do đó mức độ cung cấp dịch vụ sẽ tăng đáng kể. Cung cấp dịch vụ 24 giờ mỗi ngày- người dân có thể tìm thông tin ngoài giờ làm việc, ví dụ nhiều người có thể khai thuế ngoài giờ hành chính. Nhiều dịch vụ tự phục vụ hơn người dân có thể tiếp cân thông tin trên cơ sở tự phục vụ làm cho thông tin cung cấp đúng thời điểm cần ra quyết định.
Điều này mang lại lợi ích rất lớn, thể hiện ở hiểu biết tốt hơn và nâng cao năng lực ra quyết định. Nâng cao khả năng tìm kiếm thông tin đối với một số người dân khả năng tìm ra thông tin mang lại lợi ích rất lớn, Điều này làm cho họ hiểu rõ hơn về chính quyền của mình và tìm kiếm các chương trình hổ trợ giải quyết các nhu cầu đặc thù của họ. Thông tin sẽ đến với cộng đồng một cách rộng rải hơn, người dân thường yêu cầu phải được tiếp nhận tốt hơn tới các thông tin được phát hành từ phương tiện điện tử, hổ trợ cho việc trao đổi thư điện tử và giao dịch điện tử.