Chương 1: Cơ sở lý luận va sư điêu chỉnh của pháp luật vê trách nhiệm ky luật lao động. Chương 2: Thực trang pháp luật lao động Việt Nam hiện hảnh về trách nhiệm kỷ luật lao đông Chương 3: Khuyên nghị hoản thiện pháp luật lao động Việt Nam hiện hảnh về trách nhiệm kỹ luật lao động NỘI DUNG CHƯƠNG1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ SỰ DIEU CHINH CUA PHAP LUẬT VE TRÁCH NHIEM KY LUẬT LAO ĐỘNG 1. Khái quát chung về trách nhiệm ky luật lao động và pháp luật về trách nhiệm ky luật lao động 1. Khai niém trach nhiệm Kỳ luật lao động Thông thường, trách nhiệm được hiểu là phân việc được giao (hoặc coi như được giao) cho một người nao đó mà ho bắt buộc phải thực hiện”.
Còn khi gắn với khoa học pháp lý, người ta sử dụng thuật ngữ trách nhiệm pháp lý, hiểu theo nghĩa chung nhất la nghĩa vụ pháp lý, nghĩa là sự bắt budc chủ thể phải thực hiện môt yêu câu, đòi hỏi của pháp luật. Theo cách hiểu cu thé hơn, trách nhiệm pháp lý có thể được tiếp cận ở các khía cạnh khác nhau, có thé là công việc ma chủ thé phải thực hiên theo quy định pháp luật, hoặc công việc ma chủ thể phải thực hiện theo mệnh lệnh cụ thé của cơ quan, tô chức hay cá nhân có thấm quyên, hoặc nghĩa vụ pháp lý về tải sản ma bắt buộc chủ thé phải thực hiện, hoặc sự bắt buộc phải gánh chiu những hậu quả pháp lý bat lợi đươc pháp luật quy định trong chế tài của quy phạm pháp luật khi chủ thể vi phạm pháp luật. Trách nhiệm pháp lý theo cách hiểu cuôi cùng luôn gắn liên với vi phạm pháp luật, luôn mang tính bat lợi đôi với chủ thé phải gánh chịu, thể hiện thai độ phản ứng của nha nước và xã hội đối với chủ thé vi phạm pháp luật và được nha nước bao dam thực hiện, Kỷ luật được hiểu là những quy định, quy tắc, trật tự mà con người phải tuân thủ khi tham gia vao hoạt động trong một tô chức, một tập đoàn hay trong quan hệ với công đồng Trong lính vực lao động, KLLĐ được hiểu dưới góc độ chung nhất là trật tự, nên nép ma NLD phải tuân thủ khi tham gia quan hệ lao động. Dưới góc độ pháp lý, với tư cách là chế định của Luật lao đông, KLLĐ được hiểu la tong hợp các quy phạm pháp luât quy định trách nhiệm, nghĩa vụ * Viên Ngôn ngữ học , Trung tim TW điễn học (2003), Tử điển tiếng Piết, Nob Da Nẵng, tr.1020, * Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo tròn Lý tuận chương về nhà nước vàpháp tuật (Em 2019),tr.
6 của NLD đối với cơ quan, đơn vị, tô chức cũng như các biện pháp xử ly đối với những người không chap hanh hoặc không chap hành đây đủ trách nhiệm, nghia vụ đó. KLLD có vai trò quan trọng trên cả bình điện kinh té va x4 hội, giúp thiết lập trât tự trong doanh nghiệp, đông thời là cơ sở để tô chức lao đông x4 hội. Để có cơ sở thiết lap KLLĐ, NSDLD can ban hanh NQLD - quy định về các quy tắc xử sự ma NLD phải tuân thủ khi tham gia quan hé lao động, quy định về các hanh vi vi phạm KLLD, các hình thức xử ly kỷ luật tương ứng và quy định về trách nhiệm vật chất. Khi tham gia vào quan hệ lao động, NLD phải tuân thủ KLLD ma cu thé là phải chap hanh đúng các quy định trong NQLĐ.
Trường hợp NLD không tuân thủ KLLĐ, không chấp hành NQLĐ, thé hiện ở việc có hành vi vi pham kỷ luật thi NLD sẽ bị xử lý kỹ luật. Việc xử lý nảy được thực hiện bằng việc NLD phải chịu chế tai mang tính bắt buộc thông qua một hình thức kỷ luật, khi đó, trách nhiệm KLLD phát sinh Theo Giáo trình Luật Lao động Việt Nam (Tap D của Trường Đại hoc Luật Hà Nội, trách nhiệm KLLĐ được định nghĩa là “trách nhiệm pháp lý do NSDLĐ áp dung đối với NLD có hành vi vi phạm KLLD bằng cách bắt họ phải chiu một trong các hình thức KLLĐ “4 Con theo Giáo trình Luật Lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nôi, khái niệm này được định nghĩa là “một loại trách nhiệm pháp Ij do NSDLĐ áp dung đối với NLD có hàmh vi vi phạm KLLD bang cách buộc ho phải chịM một trong các hành thức kp luật đo pháp luật quy định”” Giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật Thanh phô Hô Chí Minh định nghĩa trách nhiém KLLĐ là “loai trách nhiệm pháp i do NSDLD áp dung đối với NLD có hành vi vì phạm KLLD bằng cách buộc họ phải chiu môt trong các hình thức KLLĐ “Š. Cách định nghĩa của các giáo trình nêu trên đường như thông nhất với nhau, theo đó, trách nhiệm KLLĐ được hiểu là một loại trách nhiệm pháp lý, do NSDLĐ áp dụng đối với NLD có hanh vi vi phạm KLLĐ bang cách buộc họ phai chịu một trong các hình * Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trinh Luật Lao động Việt Nam. tip1 đếm 202)),tr.346 * Trường Đại học Luật, Đai học Quốc gia Hà Nội, Giáo minh Luật Lao động Việt Nem đếm 2023),tr.
213 * Trường Daihoc Luật Thành pho Ho Chi Minh, Giáo trờnh Luật Lao động (Néen 2020),tr.401 7 thức KLLĐ Trách nhiệm KLLĐ tuy la trách nhiệm pháp lý, nhưng do phát sinh trong Tĩnh vực lao động nên có một số điểm khác biệt nhất định so với thuật ngữ trách nhiệm pháp lý nói chung. Trước hết, trách nhiệm KLLĐ không gắn với vi pham pháp luật ma gắn với hành vi vi phạm KLLĐ của NLD. Trong quan hệ lao động, những chuẩn mực của quy tắc xử sư ma NLD phải tuân thủ là KLLĐ, do đó chế tài xử lý KLLĐ cũng được đặt ra tương ứng với hành vi vi phạm KLLĐ của NLD. Bên cạnh do, quan hệ lao đông là quan hệ pháp luật giữa NSDLD và NLD, do đó trách nhiệm KLLĐ không phải do nha nước mà do NSDLD áp dụng với NLD có hành vi vi phạm KLLD.
Ý nghia của trách nhiệm ky luật lao động Sở di pháp luật buộc NLD phải chịu trách nhiệm KLLD do hành vi vi phạm kỷ luật của minh là bởi khi thực hiện hành vi vi phạm KLLD, NLD là người có lý trí và tư do lý trí. Trong quan hệ lao động, mặc du việc thực hiện các nghĩa vụ lao đông của NLD luôn chịu sự chi phôi bởi các điều kiện khách quan từ môi trường lao đông, nhưng những yêu tô khách quan này không tác đông đến NLD một cách máy moc mà phải thông qua sự suy xét bằng lý trí và sự quyết định bằng ý chí của ho. Bởi vậy ma khi co đây đủ các điều kiện về năng lực và hoàn cảnh dé thực hiện nghia vu lao động, việc thực hiện, không thực hiện, hay thực hiện không đúng nghĩa vụ lao động hoàn toàn là do lựa chọn của NLD. Một NLD đã lựa chọn không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ lao đông, trong khi hoàn toàn có đủ điêu kiện để thực hiện đúng nghĩa vu, thì đương nhiên phải chịu trách nhiệm đối với việc lựa chon hành vi của mình Việc đặt ra trách nhiệm KLLĐ nhằm đảm bảo những hành vi vi pham KLLD, gây ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp, đến tập thé lao đông cân có những biên pháp xử lý dich dang.
Nôi dung về trách nhiệm KLLD có ý nghĩa đổi với cả hai bên trong quan hệ lao đông và với kinh tế - xã hội nói chung. Đối với NLD, những hậu quả bat lợi ma NLD phải chiu do hanh vi vi phạm KLLĐ vừa nhằm ran đe NLD có hành vi vi phạm không tái dién, vừa có ý nghĩa phòng ngừa, làm gương đôi với những NLD khác, nâng cao ý thức ky § luật, tôi luyện tác phong công nghiệp, tinh thân trách nhiệm, ý thức tập thé cho NLD. Đối với NSDLD, việc áp dung trách nhiệm KLLĐ dam bao KLLD được tuân thủ vả có một cơ ché thực thi chat chế. Thông qua đó duy tri trật tự, nên nếp trong doanh nghiệp, ôn định sản xuất kinh doanh, dam bảo tính năng suất, chất lương, hiệu qua của hoạt động kinh doanh, la don bây dé thúc day sản xuất phát triển.
Trên cơ sé đó, trách nhiệm KLLĐ cũng góp phân đâm bảo sự ôn định va phát triển của nên kinh tế và x4 hi nói chung. Chui thé úp dung trách nhiệm kj luật lao động và chủ thé chin trach nhiệm kj luật lao động Trách nhiém KLLD là một loại trách nhiệm pháp lý. Trong quan hệ lao động, nêu việc “dp dung trách nhiệm KLLĐ” thé hiện quyên của NSDLD trong việc xử lý các hành vi vi phạm kỹ luật, thì việc “chin frách nhiệm KLLĐ ” lại thé hiện nghia vụ gánh chịu những hau quả pháp ly bat lợi của NLD khi ho có hành vị vi phạm ky luật. Chủ thê có quyền áp dung trách nhiệm KLLĐ là NSDLĐ.
Quyền nay xuất phát từ quyền QLLĐ của NSDLD. Quyên QLLĐ của NSDLD là quyền được chỉ đạo, điều khiển NLD của đơn vị, trên cơ sỡ thiết lập công cụ QLLĐ va tô chức, thực hiện QLLD theo quy định của pháp luật nhằm nang cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động”, xuất phát từ yêu cầu khách quan của hoạt động QLLĐ là cần sự điều hành của NSDLĐ để một NLĐ mang nghĩa vụ riêng ré có thé phôi hợp với những NLD khác trong đơn vị thành khối thống nhất, từ quyền đôi với tài sản của NSDLĐ 1a quyên sở hữu hoặc sử dụng tai sản trong đơn vị, do do có toan quyên quyết đình các van dé sin xuất kinh doanh, sử dụng vốn, công nghệ, tài sản của mình” va từ sự đối lập giữa mục dich của các bên trong quan hệ lao đông, cân có NSDLĐ đứng ra kết hợp hải hòa các ˆ Đế Thị Dmg, Luin đu Tiến Lue hoc “Pháp luật về my ỗn quấn ý lao đồng cũangưàt sử đong lao đồng 6 Hit vã Tang un Tiển sĩ Luật hoc “Pháp luậtvề quyền quấn tí lao đông của người sit đụng lao đông ở Việt ° Đố Thi Dung, Lruấn án Tiến sĩ Luật học “Pháp luật về quyền quên lý lao đông ctia người sử chang lao động ở Việt jMm”,tr 43 mục tiêu lợi ích riêng, thúc day lợi ích chung của tập thể!" KLLĐ lả một trong những nội dung quan trong của quyên QLLĐ. Trong do, quyền áp dụng trách nhiệm KLLD lại là một hệ qua tat yêu của quyền nảy, bên cạnh quyền ban hành các quy định về KLLD.